Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết liên quan đến luận án Trong chương này, chúng tôi trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước của sự tình phát ngôn trong tiếng Anh, nhấn mạnh đến tình hình nghiên cứu động từ nói năng trong tiếng Anh và tiếng Việt. Cơ sở lí thuyết liên quan đến luận án gồm: lý thuyết về ngữ pháp chức năng, lý thuyết về sự tình (khái quát về khái niệm liên quan đến sự tình, sự tình phát ngôn và những đặc trưng cơ bản của sự tình phát ngôn trong tiếng Anh và tiếng Việt, phân loại sự tình phát ngôn trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt), lý thuyết về ba bình diện của câu là ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng; lí thuyết về so sánh đối chiếu. Chương 2: Đặc điểm vị tố trong sự tình phát ngôn tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt Trong chương này, luận án phân loại và miêu tả các vị tố phát ngôn của tiếng Anh và tiếng Việt. Thông qua miêu tả, luận án chỉ ra những tương đồng và khác biệt của vị tố phát ngôn trong hai ngôn ngữ này.
Chương 3: Đặc điểm tham thể trong sự tình phát ngôn tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt Chương này miêu tả các tham thể trong sự tình phát ngôn tiếng Anh trên cả 3 bình diện (ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng). Thông qua miêu tả, luận án chỉ ra những tương đồng và khác biệt của các tham thể phát ngôn trong hai ngôn ngữ này. Cuối cùng là phần Phụ lục của luận án. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.
Tình hình nghiên cứu sự tình phát ngôn 1. Tình hình nghiên cứu sự tình phát ngôn trên thế giới Ngữ pháp chức năng (NPCN) là một hướng tiếp cận mới của ngôn ngữ học cuối thế kỷ XX. Ngữ pháp chức năng đã nghiên cứu các quy tắc chi phối hoạt động của ngôn ngữ trên các bình diện hình thức và nội dung trong mối liên hệ có tính chức năng thông qua việc quan sát cách sử dụng ngôn ngữ. Các loại sự tình nói chung là một trong những trọng tâm nghiên cứu của NPCN.
Qua văn liệu, có thể thấy việc nghiên cứu động từ và câu trong tiếng Anh theo ngữ pháp chức năng đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm. Có nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Các tác giả tiêu biểu gồm: M. Martin& et al (1985, 1997), S.
Các công trình này đã cho những kết quả quan trọng trên bình diện tổng thể về câu nói chung và câu với động từ nói năng nói riêng. Trong số các tác giả tiêu biểu của ngữ pháp chức năng trong tiếng Anh thì S.Givón (1984, 1990) được xem là những đại diện tiêu biểu và người có công lớn trong việc đề xuất một mô hình các kiểu sự tình phù hợp cả về phương diện lí luận và thực tiễn. Dik coi động từ là thành phần tạo nên kết cấu vị ngữ hạt nhân, mà kết cấu vị ngữ hạt nhân là một chỉnh thể chỉ định của một lớp các sự tình.Theo ông, loại sự tình [- động] (- dynamic) là loại sự tình không bao hàm bất kỳ sự biến đổi nào, và được gọi là tình huống (situation). Tất cả những sự tình không phải là tình huống là những sự tình [+động] (+dynamic), là các sự kiện (event).
Giữa tình huống và sự kiện, Dik phân biệt chúng với thông số [+ chủ ý] 6 (controlled/ uncontrolled), khi mà các thực thể tham gia có khả năng quyết định sự tình đó tồn tại được hay không. Sự tình được cho là [-chủ ý] là sự tình không kiểm soát được, tức khi mà các thực thể tham gia trong đó không có khả năng quyết định sự tồn tại của sự tình. Với quan điểm về cấu trúc ngữ nghĩa của câu, W.L Chafe (1970) cho rằng câu được “cấu tạo xung quanh yếu tố vị ngữ tính nào đó” [71, tr.69] và “bản chất của động từ sẽ quy định cái sẽ hiện diện làm phần còn lại của câu” [71, tr. Theo tiêu chí xác định đặc trưng ngữ nghĩa của các vị từ, ông chia cấu trúc nghĩa của câu thành ba loại cơ bản: (1) Trạng thái; (2) Quá trình; (3) Hành động.
Trong cách phân loại các sự tình của S. Dik (1997) hay cấu trúc nghĩa câu của W. Chafe (1970), chúng tôi thấy các tác giả không đề cập đến sự tình phát ngôn hay sự tình nói năng, mà chỉ xem chúng thuộc về kiểu sự tình hành động nói chung mà thôi. Tuy nhiên, cách phân chia của hai tác giả này đã được chúng tôi sử dụng làm cơ sở để xác lập nên đặc trưng của sự tình phát ngôn, đặc biệt là dựa trên hai thông số [+ động] và [+ chủ ý] của S.
Trong khung lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống, M.M Matthiessen (2004) đặt động từ trong các mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và ngữ pháp. Đó là mối quan hệ hiện thực hóa đồng thời các loại nghĩa (hay chức năng, bởi lẽ trong ngữ pháp chức năng hệ thống, nghĩa được đồng nhất với chức năng), đó là nghĩa ý niệm (ideal meaning), liên nhân (interpersonal meaning) và văn bản (textual meaning).K Halliday (2004) xác định chức năng ý niệm của câu “là sự biểu hiện kinh nghiệm”, “là nghĩa hiểu như là “nội dung”, là “sự biểu hiện của những cái mà trong nghĩa bao quát nhất chúng tôi có thể gọi là quá trình (process): những hành động, những biến cố, những quá trình nhận thức và những mối quan hệ”; chức năng liên nhân của câu là “sự thay đổi các vai trò trong những cách tác động lẫn nhau bằng ngôn từ: những sự trình bày, những sự hỏi, những sự đề nghị và ra những mệnh lệnh, cùng với những tình thái 7 kèm theo”; chức năng văn bản là “tính thích hợp đối với ngữ cảnh vừa là phần văn bản đi trước (và đi sau) vừa là ngữ cảnh của tình huống” và “là xây dựng một thông điệp”. Dưới góc nhìn của ngữ pháp chức năng hệ thống, M.K Halliday (1985), (1994), (2004) đã phân chia các sự tình thế giới thành ba miền chính: thế giới vật chất, thế giới tinh thần và thế giới các mối quan hệ trừu tượng. Tương ứng với chúng là sáu kiểu quá trình: quá trình vật chất (material process), quá trình hành vi (behavioural process), quá trình tinh thần (mental process), quá trình quan hệ (relational process), quá trình tồn tại (existentialprocess) và quá trình phát ngôn (verbal process) (trong luận án của chúng tôi, chúng tôi sẽ dùng thuật ngữ sự tình phát ngôn).
Quan điểm nghiên cứu của M.M Matthiessen chủ yếu đề cập đến chức năng nghĩa biểu hiện của các quá trình, trong đó có phản ánh các chức năng cú pháp. Tuy nhiên, hệ thống kinh nghiệm của các tác giả là hệ thống mang tính khái quát hóa cao, các học giả xem ý nghĩa của quá trình như ý nghĩa biểu thị kinh nghiệm của cú/ mệnh đề, chứ không xem xét đến ý nghĩa biểu hiện của bản thân các động từ hiện thực hóa lõi quá trình. Do đó, bản thân cấu trúc cú pháp của các tiểu loại động từ hiện thực hóa lõi các quá trình cũng như các vai nghĩa ngữ pháp của các thành tố tham gia các quá trình chưa được đề cập đến một cách chi tiết và đó cũng là mục tiêu mà luận án này muốn thực hiện. Trong khoảng hai ba chục năm gần đây, một loạt các công trình nghiên cứu về ngữ pháp chức năng theo quan điểm của M.K Halliday đã ra đời.
Các công trình thể hiện những kiến thức được chi tiết và cụ thể hóa về ngữ pháp chức năng, như C. Trên quan điểm của ngữ pháp chức năng kết hợp với việc nghiên cứu các điển dạng ngữ nghĩa của các Động từ nói năng theo nghĩa dụng học (theo nghĩa rộng), các nhà ngữ pháp học chức năng cho rằng chính động từ “làm nên hạt nhân ngữ nghĩa (semantic core) của mệnh đề” [93, tr.19] và “điển dạng của động từ mà 8 chúng đóng vai trò hạt nhân ngữ nghĩa của mệnh đề sẽ xác định điển dạng mệnh đề” [93, tr.32], “động từ chính là thành tố trung tâm của mệnh đề” [110, tr.50] hay “đặc trưng của động từ sẽ qui định các thành tố còn lại nào được phép đi theo động từ” [111, tr. Với những quan điểm trên, các tác giả T. Huddleston et al [111] đi theo hướng kết hợp giữa các mặt nội dung và mặt hình thức của động từ bằng việc miêu tả các điển dạng mệnh đề đơn và cấu trúc của chúng.
Các tác giả miêu tả đồng thời: “(a) điển dạng ngữ nghĩa của động từ, (b) điển dạng cú pháp của mệnh đề đơn, (c) các vai nghĩa của người tham gia, (d) vai trò cú pháp và tính đánh dấu của chúng, bao gồm: trật tự từ, hình thái học, và các đặc trưng khác” [93, tr. Như có thể thấy, trong các công trình nghiên cứu trước đây của các nhà ngôn ngữ học về động từ nói năng (ĐTNN), do sự hữu hạn của các thông số ngữ nghĩa dùng để phân loại các kiểu sự tình, hầu hết các tác giả đều chưa tách riêng nhóm ĐTNN riêng thành một nhóm mà gộp chung vào cùng nhóm với các động từ khác nói chung. Tình hình nghiên cứu sự tình phát ngôn trong nước Trong trào lưu ngữ pháp chức năng, động từ nói năng cũng như sự tình phát ngôn bắt đầu được quan tâm nghiên cứu. Đã có những nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến động từ nói năng - thành phần đóng vai trò cốt lõi - vị tố trong sự tình phát ngôn tiếng Việt.
Có thể kể đến các tác giả sau: Nguyễn Lai (2001), Bùi Minh Toán (2012), Cao Xuân Hạo (1991, 2004); Hoàng Văn Vân (2005); Diệp Quang Ban (2012); Nguyễn Văn Hiệp (2009, 2012). Động từ chỉ hành vi nói năng (Động từ nói năng - ĐTNN) có số lượng lớn, nhóm động từ này bao trùm tất cả các lĩnh vực của đời sống văn hóa xã hội. Trong các công trình trước đây, một số nhà ngôn ngữ học như Nguyễn Kim Thản, Bùi Minh Toán, Nguyễn Hữu Quỳnh, Diệp Quang Ban, Nguyễn Anh Quế, Đái Xuân Ninh và Hoàng Văn Thung, Nguyễn Thị Quy. thường xếp ĐTNN vào nhóm với các động từ khác có cùng cơ cấu nghĩa như: Động 9 từ tác động, động từ hành động, động từ đánh giá nhận xét, động từ cảm nghĩ – nói năng, động từ phát nhận, động từ hướng ngoại, động từ gây khiến.
Nguyễn Hữu Quỳnh, Bùi Minh Toán cho rằng Động từ gây khiến chính là thuộc trong nhóm những ĐTNN và ĐTNN chính là thuộc nhóm Động từ hướng ngoại, Động từ tác động và chúng có vị trí ngang bằng nhau. Các tác giả Nguyễn Kim Thản (2008), Bùi Minh Toán (2012), Diệp Quang Ban (2005, 2012).