Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ tập trung nghiên cứu chuyên sâu về "Sự tình phát ngôn trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt" dưới góc nhìn của ngữ pháp chức năng hệ thống. Trong nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại, ngữ pháp chức năng ra đời đã cung cấp một phương pháp tiếp cận mới, xem xét ngôn ngữ đồng thời trên cả ba bình diện có tính tương tác chặt chẽ: bình diện ngữ pháp (kết học), bình diện ngữ nghĩa (nghĩa học) và bình diện ngữ dụng (dụng học). Mô hình lý thuyết này giúp giải thích và làm sáng tỏ nhiều hiện tượng ngôn ngữ phức tạp mà các khuynh hướng ngữ pháp hình thức trước đây gặp khó khăn trong việc xử lý. Trong số các đối tượng được ngữ pháp chức năng quan tâm, các loại hình sự tình nói chung và sự tình phát ngôn nói riêng giữ vị trí quan trọng nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề chưa được khảo sát thấu đáo.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định xuất phát từ thực tế: các công trình nghiên cứu trước đây về sự tình phát ngôn trong tiếng Anh chủ yếu mới đưa ra mô hình chung (số lượng và vị trí các thành tố), chưa đi sâu giải quyết cấu trúc nội tại của vị tố phát ngôn, các tham thể và chu cảnh, cũng như chưa có công trình nào đối chiếu toàn diện sự tình phát ngôn tiếng Anh với tiếng Việt dưới góc nhìn ngữ pháp chức năng để chỉ ra các nét tương đồng và khác biệt. Về mặt thực tiễn, người dạy và người học tiếng Anh tại Việt Nam còn gặp nhiều trở ngại trong việc nhận diện các vị tố phát ngôn và cấu trúc ngữ nghĩa của các tham thể đi kèm. Do đó, việc nghiên cứu đối chiếu loại sự tình này là nhu cầu cần thiết cho công tác lý luận và giảng dạy ngôn ngữ.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ các đặc điểm của sự tình phát ngôn trong tiếng Anh và tiếng Việt, từ đó xác định những điểm tương đồng và dị biệt của các vị tố, tham thể trong sự tình phát ngôn giữa hai ngôn ngữ dưới góc nhìn của ngữ pháp chức năng hệ thống. Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án xác lập 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Khảo sát cơ sở lý luận về ngữ pháp chức năng hệ thống theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới và ở Việt Nam để từ đó xác lập khung lý thuyết nghiên cứu của đề tài;
- Khảo sát, thống kê, phân loại và miêu tả đặc trưng của các vị tố, các tham thể trong sự tình phát ngôn tiếng Anh và tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ pháp chức năng hệ thống;
- So sánh đối chiếu để tìm ra những tương đồng và khác biệt của các vị tố, các tham thể trong sự tình phát ngôn tiếng Anh và tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ pháp chức năng hệ thống.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vị tố, tham thể và các chu cảnh trong sự tình phát ngôn tiếng Anh và sự tình phát ngôn tiếng Việt.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của các vị tố và các tham thể trong sự tình phát ngôn tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt. Về mặt tư liệu khảo sát, luận án thu thập và phân tích ngữ liệu từ các nguồn văn bản văn học cụ thể:
- Tư liệu tiếng Anh: 2411 câu chứa sự tình phát ngôn được trích xuất từ 08 tác phẩm văn học Anh - Mỹ, gồm: The Thorn Birds (Colleen McCullough), 05 tập truyện Harry Potter (Harry Potter and the Philosopher's Stone, Harry Potter and the Chamber of Secrets, Harry Potter and the Prisoner of Azkaban, Harry Potter and the Goblet of Fire, Harry Potter and the Order of the Phoenix của J.K. Rowling), Gone with the Wind (Margaret Mitchell) và If Tomorrow Comes (Sidney Sheldon, 1985).
- Tư liệu đối ứng tiếng Việt: Bản dịch tiếng Việt tương ứng của các tác phẩm trên (Tiếng chim hót trong bụi mận gai do Phạm Mạnh Hùng dịch; bộ truyện Harry Potter do Lý Lan dịch; Cuốn theo chiều gió do Dương Tường dịch; Nếu còn có ngày mai do Nguyễn Bá Long dịch).
- Tư liệu văn học tiếng Việt: Các tác phẩm Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, Cô gái đến từ hôm qua (Nguyễn Nhật Ánh); tuyển tập Nam Cao; tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Công Hoan; tuyển tập truyện ngắn Chu Lai; tuyển tập truyện ngắn Vũ Trọng Phụng; Truyện ngắn nữ đặc sắc Việt Nam từ 1986 đến nay; tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu nghiên cứu của luận án phân tích có hệ thống các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam liên quan đến lý thuyết ngữ pháp chức năng, các kiểu sự tình và nhóm động từ nói năng:
Về tình hình nghiên cứu trên thế giới:
- Các nghiên cứu ngữ pháp chức năng tiêu biểu của M.A.K. Halliday (1985, 1994, 2004), S.C. Dik (1975, 1984, 1990, 1997), T. Givón (1984, 1990), C.M.I.M. Matthiessen (1995, 2004), J.R. Martin và cộng sự (1985, 1997). Trong đó, S.C. Dik đã xây dựng mô hình các kiểu sự tình dựa trên hai thông số cơ bản là [± động] (dynamism) và [± chủ ý] (control). W.L. Chafe (1970) xem vị từ là trung tâm ngữ nghĩa quy định cấu trúc câu và phân chia nghĩa câu thành ba loại: trạng thái, quá trình, hành động.
- Khung lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday (1985, 1994, 2004) chia thế giới kinh nghiệm thành 6 kiểu quá trình: quá trình vật chất (material process), quá trình hành vi (behavioural process), quá trình tinh thần (mental process), quá trình quan hệ (relational process), quá trình tồn tại (existential process) và quá trình phát ngôn (verbal process). Matthiessen (1995) làm rõ cấu trúc tham thể của quá trình phát ngôn.
- Các công trình miêu tả động từ tiếng Anh theo ngữ pháp chức năng và điển dạng cú pháp - ngữ nghĩa của R. Huddleston và cộng sự, Beverly Derewianka (2012), Graham Lock (1996), Rivka Shemesh (2012).
- Về ngữ dụng học và hành vi ngôn ngữ: Lý thuyết hành động ngôn ngữ của J.L. Austin (1962) với 5 lớp hành động (phán xét, hành xử, khế ước, ứng xử, bày tỏ) và sự phát triển phân loại của John Searle (1969) dựa trên 4 tiêu chí then chốt để chia thành 5 nhóm hành động ngôn từ (biểu hiện/tái hiện, điều khiển, kết ước, biểu cảm, tuyên bố).
Về tình hình nghiên cứu trong nước:
- Các công trình đặt nền móng cho ngữ pháp chức năng tiếng Việt: Cao Xuân Hạo (1991, 2004) với Tiếng Việt - sơ thảo ngữ pháp chức năng và Ngữ pháp chức năng tiếng Việt; Nguyễn Thị Quy (1995, 2002) với nghiên cứu về vị từ tiếng Việt và các tham tố (đối chiếu tiếng Nga và tiếng Anh); Diệp Quang Ban (2005, 2012) với các công trình ngữ pháp tiếng Việt.
- Nghiên cứu về động từ nói năng và sự tình phát ngôn tiếng Việt: Nguyễn Kim Thản (2008), Bùi Minh Toán (2012), Nguyễn Hữu Quỳnh, Nguyễn Anh Quế, Đái Xuân Ninh, Hoàng Văn Thung, Nguyễn Lai (2001), Nguyễn Văn Hiệp (2009, 2012), Lê Thị Lan Anh (2006). Đỗ Hữu Châu (2001, 2007) đã phân lập động từ nói năng thành một tiểu loại riêng biệt, phân tích theo lý thuyết hành vi ngôn ngữ của Searle thành động từ ngữ vi và động từ không ngữ vi.
- Hoàng Văn Vân (2005) trong công trình Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt: Mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống đã mô tả quá trình phát ngôn tiếng Việt ở mức độ khái quát. Lê Thị Thơm (2012) trong luận án Sự tình phát ngôn tiếng Việt đã cung cấp bức tranh tổng quát về sự tình phát ngôn trong tiếng Việt trên ba bình diện ngữ nghĩa - ngữ pháp - ngữ dụng.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu quốc tế trước đây gộp chung động từ nói năng vào nhóm động từ hành động nói chung do giới hạn của các thông số ngữ nghĩa, chưa xem xét chi tiết cấu trúc cú pháp của từng tiểu loại động từ cũng như các vai nghĩa ngữ pháp của thành tố tham gia. Tại Việt Nam, các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở tiếng Việt đơn ngữ hoặc đối chiếu khái quát. Luận án này là công trình chuyên sâu đầu tiên tiến hành miêu tả toàn diện sự tình phát ngôn tiếng Anh và đối chiếu với tiếng Việt trên cả ba bình diện cấu trúc ngữ pháp, ngữ nghĩa biểu hiện và ngữ dụng dưới khung lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp các lý thuyết ngôn ngữ học chức năng và đối chiếu:
- Lý thuyết ba bình diện của câu:
Bắt nguồn từ ký hiệu học của Charles Morris, ngữ pháp chức năng phân biệt rõ ba bình diện của ngôn ngữ:
- Bình diện ngữ nghĩa: Nghiên cứu nghĩa biểu hiện (experiential meaning) thể hiện các mẫu thức kinh nghiệm, bao gồm vị tố (hạt nhân sự tình) và các vai nghĩa (tham thể và chu cảnh); nghĩa tình thái (thái độ, quan điểm của người nói đối với nội dung câu và người nghe, phân biệt tình thái khách quan và tình thái chủ quan).
- Bình diện ngữ pháp: Tiếp thu quan điểm câu một đỉnh của L. Tesnière (vị ngữ/vị từ là trung tâm cú pháp tổ chức câu thay vì quan niệm câu hai đỉnh chủ - vị truyền thống), phân tích các thành phần câu (chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, trạng ngữ) và các kiểu cấu tạo câu (câu đơn, câu ghép, câu phức, câu phức tổng hợp).
- Bình diện ngữ dụng: Xem xét ngôn ngữ trong hoạt động hành chức giao tiếp, dựa trên lý thuyết hành vi ngôn ngữ của Austin và Searle (5 nhóm hành động: biểu hiện/tái hiện, điều khiển, kết ước, biểu cảm, tuyên bố) để phân loại chức năng của phát ngôn và động từ nói năng.
- Lý thuyết về sự tình và sự tình phát ngôn:
- Sự tình (State of Affairs - SoA): Là khái niệm chỉ vật, việc, hiện tượng trong thế giới khách quan được phản ánh vào câu thông qua nhận thức (S.C. Dik, Diệp Quang Ban, Lê Thị Thơm). Sự tình được khu biệt bằng các tham số [± động] và [± chủ ý].
- Sự tình phát ngôn (Verbal process / Saying): Luận án tiếp thu quan điểm của Halliday, Hoàng Văn Vân và Lê Thị Thơm, xác định sự tình phát ngôn là hoạt động nói năng, phát ra lời nói của con người nhằm biểu hiện ý nghĩa và trao đổi thông tin ("saying", không bao gồm miền tư duy "thinking" hay biểu trưng hóa "symbolizing").
- Cấu trúc cốt lõi của sự tình phát ngôn gồm 5 thành tố:
- Phát ngôn thể (PNT - Sayer): Chủ thể phát ra phát ngôn (thường là con người hoặc thực thể có ý thức).
- Vị tố phát ngôn (VTPN - Process): Động từ biểu thị hoạt động nói năng hoặc hành động thay thế nói năng.
- Tiếp ngôn thể (TNT - Recipient): Người tiếp nhận phát ngôn.
- Đích ngôn thể (ĐNT - Target): Thực thể là đích hướng tới của hành động phát ngôn.
- Ngôn thể (NT - Verbiage): Nội dung được nói ra hoặc tên gọi của phát ngôn (thành phần bắt buộc trong cấu trúc nghĩa của sự tình phát ngôn).
- Mô hình cấu trúc biểu hiện tổng quát:
PNT + VTPN + TNT + NT + ĐNT.
-
Cơ sở lý thuyết ngôn ngữ học so sánh đối chiếu:
Kế thừa nguyên tắc nghiên cứu đối chiếu của Lê Quang Thiêm, Nguyễn Văn Chiến và Bùi Mạnh Hùng (2008), luận án tuân thủ việc miêu tả chính xác từng ngôn ngữ trong hệ thống, đặt trong hoạt động giao tiếp, sử dụng khung lý thuyết nhất quán để làm sáng tỏ các điểm tương đồng và dị biệt giữa tiếng Anh và tiếng Việt.
-
Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu:
- Phương pháp miêu tả: Miêu tả đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng của vị tố, tham thể và chu cảnh trong từng ngôn ngữ.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Đối chiếu trực tiếp cấu trúc vị tố và tham thể giữa tiếng Anh và tiếng Việt trên trục đồng đại.
- Thủ pháp phân tích thành tố nghĩa: Phân tích các nét nghĩa cấu thành của động từ nói năng và các tham thể.
- Thủ pháp thống kê phân loại: Định lượng và phân loại 2411 ngữ liệu câu theo các tiêu chí đã xác lập.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết liên quan đến luận án
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ các công trình nghiên cứu về động từ nói năng, các kiểu quá trình và sự tình phát ngôn trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả luận giải bản chất của ngữ pháp chức năng trong việc phân tích câu trên ba bình diện ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng.
Chương này xác định các đặc trưng cốt lõi của sự tình phát ngôn tiếng Anh:
- Là một dạng sự tình hành động mang các thông số [+ động], [+ chủ ý] và [+ thành quả], nhưng khác hành động vật lý ở chỗ kết quả bắt buộc phải là tham thể Ngôn thể (NT - lời nói).
- Có cấu trúc cốt lõi gồm 5 thành tố: Vị tố phát ngôn (VTPN), Phát ngôn thể (PNT), Tiếp ngôn thể (TNT), Đích ngôn thể (ĐNT) và Ngôn thể (NT).
- Vị tố phát ngôn có khả năng kết hợp đặc trưng với các từ chỉ cách thức nói năng (âm thanh, cường độ, tốc độ).
- Tham thể Ngôn thể có khả năng phản ánh toàn bộ các hiện tượng của hiện thực khách quan và đời sống tinh thần.
- Phân loại sự tình phát ngôn dựa trên: hình thức thể hiện của NT (nguyên văn và không nguyên văn); ngữ nghĩa của NT (thuộc sự tình vật chất, tinh thần, quan hệ, phát ngôn, tồn tại...); mối quan hệ nhân vật giao tiếp (độc thoại, đối thoại); đích ở lời (trực tiếp, gián tiếp); và chức năng của động từ nói năng (ngôn hành, miêu tả).
Chương 2: Đặc điểm vị tố trong sự tình phát ngôn tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt
Chương 2 tập trung phân loại và miêu tả đặc điểm của vị tố phát ngôn tiếng Anh trong tương quan đối chiếu với tiếng Việt. Vị tố phát ngôn được định nghĩa là hạt nhân ngữ nghĩa chi phối các tham thể trong câu biểu thị sự tình phát ngôn, do động từ nói năng đảm nhận.
Bốn đặc trưng của động từ nói năng tiếng Anh được xác lập:
- Kết hợp dễ dàng với các từ ngữ chỉ cách thức nói năng (ví dụ: softly, severely);
- Thường đi cùng PNT và TNT/ĐNT, được phân cách với NT bằng dấu phẩy, dấu ngoặc kép hoặc dấu hai chấm;
- Là một trong 5 thành tố cấu tạo sự tình phát ngôn;
- Đảm nhận hai chức năng ngữ dụng: chức năng miêu tả và chức năng ngôn hành.
Luận án phân loại vị tố phát ngôn thành 02 nhóm lớn:
- Nhóm 1: Vị tố là động từ nói năng chính danh (được phân loại theo 5 nhóm hành vi ngôn ngữ của Searle: tái hiện, điều khiển, kết ước, tuyên bố, biểu cảm). Động từ say có tính đa năng và xuất hiện ở tất cả các nhóm.
- Nhóm 2: Vị tố là động từ nói năng không chính danh (sử dụng theo phương thức hoán dụ, lấy cách thức nói hoặc hành vi vật lý/tâm lý thay cho hành động nói), gồm: từ chỉ cách thức nói năng; động từ chỉ hành động vật lý, tâm lý kèm lời nói; động từ chỉ tiếng kêu của động vật.
Dữ liệu khảo sát định lượng 2411 câu chứa sự tình phát ngôn tiếng Anh trong văn học Anh - Mỹ được tổng hợp trong bảng số liệu sau:
| Loại vị tố phát ngôn tiếng Anh |
Động từ nói năng tiêu biểu |
Số lần xuất hiện |
Tỷ lệ (%) |
| 1. ĐTNN chính danh biểu thị HĐNN tái hiện |
inform, tell, remind, report, say... |
1296 |
53,7% |
| 2. ĐTNN chính danh biểu thị HĐNN điều khiển |
order, command, implore, direct, request, say... |
450 |
18,6% |
| 3. ĐTNN chính danh biểu thị HĐNN biểu cảm |
argue, criticize, mock, abuse, nag, shout, scold, scream, sound, praise, squeak, complain, reprimand, extol, say... |
152 |
6,3% |
| 4. ĐTNN chính danh biểu thị HĐNN kết ước |
swear, assure, assert, pledge... |
66 |
2,7% |
| 5. ĐTNN chính danh biểu thị HĐNN tuyên bố |
Các động từ tuyên bố, tuyên cáo theo nghi thức |
Nhóm nhỏ |
~1,0% |
| 6. VTPN biểu thị bằng từ chỉ cách thức nói năng |
whisper, grumble, soft, mutter, drawl... |
232 |
9,6% |
| 7. VTPN biểu thị bằng ĐT chỉ hành động vật lý, tâm lý kèm lời nói |
think, sigh, laugh, shrug, stare, beam, stroke, hesitate, clap, surmise, nod, eye... |
108 |
4,4% |
| 8. VTPN biểu thị bằng ĐT chỉ tiếng kêu của động vật |
bark, bleat, cackle, chirp, cluck, coo, growl, hiss, purr, roar, snarl... |
82 |
3,7% |
| Tổng cộng |
|
2411 |
100,0% |
Kết quả thống kê cho thấy vị tố phát ngôn chính danh chiếm ưu thế tuyệt đối (trên 82%), trong đó nhóm động từ tái hiện chiếm tỷ lệ cao nhất (53,7%), tiếp đến là nhóm điều khiển (18,6%). Nhóm vị tố không chính danh chiếm tỷ lệ đáng kể (gần 18%), phản ánh tính sinh động trong cách diễn đạt của văn bản văn học.
Chương 3: Đặc điểm tham thể trong sự tình phát ngôn tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt
Chương 3 miêu tả chi tiết đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của 04 tham thể trong sự tình phát ngôn tiếng Anh trên cả ba bình diện ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng, đồng thời đối chiếu với tiếng Việt:
- Phát ngôn thể (PNT): Thể hiện chủ thể phát ngôn, ở bình diện ngữ pháp thường đóng vai trò chủ ngữ; ở bình diện ngữ nghĩa là tác thể/nguồn phát thông tin; ở bình diện ngữ dụng gắn liền với nhân vật giao tiếp.
- Tiếp ngôn thể (TNT) và Đích ngôn thể (ĐNT): TNT là người tiếp nhận trực tiếp lời nói (thường là tân ngữ gián tiếp hoặc ngữ giới từ đi với to, with); ĐNT là đối tượng mà phát ngôn hướng tới nhận xét, phán xét hoặc tác động.
- Ngôn thể (NT): Là thành phần bắt buộc, thể hiện dưới dạng lời dẫn trực tiếp (đặt trong dấu ngoặc kép), lời dẫn gián tiếp (mệnh đề đi sau liên từ that, whether, if...) hoặc danh ngữ tóm tắt nội dung lời nói.
- Chương này chỉ ra các hiện tượng tỉnh lược tham thể trong ngữ cảnh cụ thể nhưng cấu trúc nghĩa của sự tình vẫn mặc định sự hiện diện của các vai nghĩa này; đồng thời phân tích những điểm tương đồng và dị biệt về trật tự từ, phương thức kết hợp cú pháp giữa tiếng Anh và tiếng Việt.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học, lý luận và thực tiễn như sau:
Về mặt lý luận:
- Làm sáng tỏ đặc điểm cấu trúc cú pháp, ngữ nghĩa biểu hiện và chức năng ngữ dụng của vị tố, các tham thể và chu cảnh trong sự tình phát ngôn tiếng Anh và tiếng Việt.
- Xác lập khung phân loại chi tiết cho hệ thống vị tố phát ngôn tiếng Anh gồm hai nhóm lớn: động từ nói năng chính danh (phân chia theo 5 nhóm hành vi ngôn ngữ của Searle) và động từ nói năng không chính danh (chỉ cách thức nói, hành vi vật lý/tâm lý kèm lời, tiếng kêu động vật).
- Làm sáng tỏ những điểm tương đồng và khác biệt có tính hệ thống giữa sự tình phát ngôn tiếng Anh và tiếng Việt trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, góp phần kiểm chứng và làm phong phú thêm lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống trong nghiên cứu đối chiếu loại hình ngôn ngữ.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp cơ sở lý luận và ngữ liệu thực chứng phục vụ công tác giảng dạy tiếng Anh và tiếng Việt trong nhà trường, giúp người dạy và người học nhận diện đúng cấu trúc ngữ pháp và nghĩa biểu hiện của các kiểu phát ngôn.
- Hỗ trợ công tác dịch thuật Anh - Việt trong việc chuyển dịch chính xác các cấu trúc phát ngôn, đặc biệt là các vị tố không chính danh biểu thị cách thức nói năng và hành động kèm lời nói.
- Góp phần tìm hiểu thêm về đặc trưng văn hóa giao tiếp của người bản ngữ tiếng Anh trong mối liên hệ đối chiếu với tiếng Việt.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Luận án giới hạn phạm vi khảo sát tư liệu trong thể loại văn bản văn học (08 tác phẩm văn học Anh - Mỹ và các tác phẩm văn học Việt Nam tương đương), chưa mở rộng khảo sát các thể loại diễn ngôn khác.
- Nghiên cứu tập trung vào hành vi phát ngôn do con người thực hiện ("saying"), chủ động loại trừ các trường hợp phát ngôn mang tính nhân hóa, biểu trưng (như bảng thông báo, đồng hồ báo giờ) ra ngoài phạm vi khảo sát cốt lõi.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các phong cách chức năng ngôn ngữ khác như ngôn ngữ báo chí, văn bản khoa học, văn bản hành chính, hoặc ngôn ngữ hội thoại tự nhiên trong giao tiếp đời thường.
- Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế ngữ dụng và các chiến lược giao tiếp lịch sự trong sự tình phát ngôn tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ Anh, Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu: Tham khảo khung lý thuyết tiếp cận câu trên ba bình diện và phương pháp phân loại sự tình phát ngôn theo ngữ pháp chức năng hệ thống.
- Giáo viên giảng dạy tiếng Anh: Tham khảo chương 2 và chương 3 để nắm vững cấu trúc vị tố - tham thể, các dạng kết hợp của động từ nói năng chính danh và không chính danh nhằm giải thích cho học sinh cách hành chức của phát ngôn trong ngữ cảnh.
- Dịch giả và người làm công tác dịch thuật Anh - Việt: Tham khảo bảng thống kê các tiểu nhóm động từ nói năng và các ví dụ đối chiếu cấu trúc lời dẫn trực tiếp, gián tiếp giữa nguyên bản tiếng Anh và bản dịch tiếng Việt.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định cấu trúc cốt lõi của một sự tình phát ngôn điển hình gồm có những thành tố nào?
Theo luận án, cấu trúc cốt lõi của sự tình phát ngôn tiếng Anh và tiếng Việt gồm 05 thành tố: Vị tố phát ngôn (VTPN), Phát ngôn thể (PNT), Tiếp ngôn thể (TNT), Đích ngôn thể (ĐNT) và Ngôn thể (NT). Trong đó, VTPN là trung tâm ngữ nghĩa, PNT là chủ thể phát ngôn, TNT là người tiếp nhận, ĐNT là đích hướng tới, và NT (nội dung phát ngôn) là thành phần bắt buộc không thể thiếu trong cấu trúc nghĩa.
2. Tiêu chí phân loại vị tố phát ngôn tiếng Anh trong luận án được xây dựng như thế nào?
Vị tố phát ngôn được phân thành 2 nhóm lớn:
- Động từ nói năng chính danh: Chia theo 5 nhóm hành vi ngôn ngữ của Searle gồm: tái hiện (inform, tell, report...), điều khiển (order, request, command...), kết ước (swear, assure, pledge...), biểu cảm (criticize, mock, praise, scold...) và tuyên bố.
- Động từ nói năng không chính danh: Gồm từ chỉ cách thức nói (whisper, mutter, drawl...), động từ chỉ hành động vật lý/tâm lý kèm lời (think, sigh, laugh, nod, shrug...), và động từ chỉ tiếng kêu của động vật (bark, roar, hiss, growl...).
3. Tỷ lệ phân bố giữa vị tố chính danh và không chính danh trong 2411 câu ngữ liệu tiếng Anh là bao nhiêu?
Trong 2411 phát ngôn được thống kê:
- Vị tố chính danh chiếm đa số (trên 82%), trong đó nhóm tái hiện chiếm cao nhất với 53,7% (1296 câu), nhóm điều khiển chiếm 18,6% (450 câu), nhóm biểu cảm chiếm 6,3% (152 câu), nhóm kết ước chiếm 2,7% (66 câu).
- Vị tố không chính danh chiếm gần 18%, gồm từ chỉ cách thức nói năng chiếm 9,6% (232 câu), hành động vật lý/tâm lý kèm lời chiếm 4,4% (108 câu), và tiếng kêu động vật chiếm 3,7% (82 câu).
4. Vì sao luận án loại trừ các câu như "The notice tells you to keep quiet" hay "My watch says it's half past ten" ra khỏi phạm vi nghiên cứu?
Luận án xác định đối tượng nghiên cứu là "saying" (hoạt động phát ngôn thực tế của con người nhằm trao đổi thông tin). Các trường hợp đồ vật, bảng biểu làm chủ ngữ như trong các câu trên được xem là cách nói biểu trưng, nhân hóa mang tính tu từ, không phản ánh hoạt động giao tiếp bằng lời nói trực tiếp của con người trong thực tế khách quan.
5. Luận án khảo sát ngữ liệu từ những tác phẩm văn học cụ thể nào?
Tư liệu tiếng Anh gồm 2411 câu trích từ 08 tác phẩm: The Thorn Birds, 05 tập Harry Potter (các tập 1 đến 5), Gone with the Wind, và If Tomorrow Comes. Tư liệu tiếng Việt gồm các bản dịch tiếng Việt tương ứng (của Phạm Mạnh Hùng, Lý Lan, Dương Tường, Nguyễn Bá Long) cùng các tác phẩm văn học Việt Nam của Nguyễn Nhật Ánh, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Chu Lai, Vũ Trọng Phụng và tuyển tập truyện ngắn nữ từ 1986 đến nay.
Kết luận
Luận án "Sự tình phát ngôn trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt" đã vận dụng mô hình lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống để giải quyết một cách có hệ thống các đặc điểm của sự tình phát ngôn trên ba bình diện ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng. Thông qua việc khảo sát định lượng 2411 ngữ liệu văn học, tác giả đã phân loại chi tiết các tiểu nhóm vị tố phát ngôn chính danh và không chính danh, đồng thời làm rõ cấu trúc tương tác giữa vị tố với 04 tham thể cốt lõi. Công trình cung cấp một bức tranh đối chiếu toàn diện về những nét tương đồng và dị biệt trong cách tổ chức sự tình phát ngôn giữa tiếng Anh và tiếng Việt, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nghiên cứu ngôn ngữ học và hoạt động giảng dạy ngoại ngữ.