CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. DẪN NHẬP Luận án được nghiên cứu dựa trên các cơ sở lý thuyết ngữ nghĩa học tri nhận: lý thuyết ADYN, một số vấn đề lý luận liên quan đến ADYN màu sắc trong ngôn ngữ. Để có cái nhìn tổng quan, trong chương này, chúng tôi tập trung làm rõ các vấn đề liên quan đến "màu sắc"” trong ngôn ngữ nói chung, ADYN màu sắc nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu được chúng tôi trình bày theo hướng từ lý thuyết đến ứng dụng nhằm thấy được sự thay đổi, phát triển trong nghiên cứu ADYN màu sắc, đồng thời tìm ra “khoảng trống” vấn đề cần giải quyết.
Thực hiện mục đích nghiên cứu đặt ra, luận án liên quan chặt chẽ đến lý thuyết ngữ nghĩa học tri nhận. Do vậy, vấn đề cơ sở lí thuyết của đề tài được chúng tôi trình bày bao gồm: cơ sở lý luận về ADYN, một số khái niệm liên quan đến ẩn dụ ý niệm, phạm trù màu sắc trong ngôn ngữ nói chung và trong tiếng Việt nói riêng, những thuộc tính của màu sắc trong mô hình tri nhận nguồn. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về “màu sắc” trong ngôn ngữ 1.
Trên thế giới Trong ngôn ngữ học, sự ra đời của công trình Basic Color Terms: Their Universality and Evolution [140.] của Berlin và Kay (1969) đã khép lại giai đoạn đối đầu của hai trường phái Tương đối (Sapir Whorf) và trường phái Phổ niệm (Berlin - Kay), mở ra giai đoạn mới với sự đa dạng về quan điểm và phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu về “màu sắc”. Trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm 98 ngôn ngữ, Berlin và Kay đã đưa ra nhận định quan trọng về hệ thống từ chỉ màu cơ bản trong các ngôn ngữ, giả thuyết rộng rãi rằng tất cả các ngôn ngữ đều có số lượng hạn chế từ 2 đến 11 từ chỉ màu, dự đoán hệ thống từ chỉ màu cơ bản phát triển theo hướng cố định một phần qua 7 giai đoạn: trắng và đen (I) – đỏ (II) – xanh hoặc vàng (III) – xanh lá cây và vàng (IV) – xanh lam (V) – nâu (VI) – tím, hồng, cam (VII) và màu xám là một ký tự đại diện xuất hiện ở bất cứ giai đoạn nào giữa III và VII. Các ngôn ngữ dù khác nhau về số lượng từ chỉ màu sắc, song nhận thức về màu trong các ngôn ngữ có xu hướng 9 chung là dựa trên sự nhận thức 11 phạm trù màu cơ sở, bổ sung từ chỉ màu sắc theo thứ tự nhất định. Cụ thể, mọi ngôn ngữ đều có ít nhất hai từ chỉ màu sắc, đó là đen và trắng, nếu có ba từ thì có thêm đỏ, có bốn từ thì có thêm màu xanh lá hoặc vàng, có 5 từ thì thêm cả xanh lá, vàng, có 6 từ thì thêm màu xanh da trời, có 7 từ thì thêm màu nâu, có trên 7 từ thì thêm màu tím, hồng, da cam, xám.
Giả thuyết này gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, theo các nhà ngôn ngữ học, không thể phủ nhận, công trình của Berlin và Kay đã mở đường cho hướng nghiên cứu thực nghiệm phát triển lí thuyết về các phổ quát ngữ nghĩa và quá trình phát triển từ chỉ màu cơ bản dưới nhiều góc độ khác nhau. Phản biện lý thuyết phổ niệm về hệ thống từ chỉ màu, Kay và Mc Daniel (1978) trong The Linguistic Significance of the Meanings of Basic Color Terms [156.]; Hardin & Maffi (1997) trong Color Categories in Thought and Language [152.] đã đưa ra những kiến giải thú vị về vấn đề tên màu, phân loại từ chỉ màu sắc trong các ngôn ngữ dựa trên các quá trình sinh lý học thần kinh của con người. Theo các tác giả, có “những ràng buộc giữa các các từ chỉ màu cơ bản có thể có, và những ràng buộc này phát sinh từ cấu trúc và chức năng của hệ thống thị giác” [156.
Sự khác biệt trong cách đặt tên màu giữa các ngôn ngữ do sự khác biệt trong nhận thức. Vấn đề phổ quát ngữ nghĩa và quá trình phát triển từ chỉ màu, tiếp tục được đào sâu, mở rộng trong các nghiên cứu của Biggam và Kay (2006) trong Progress in Colour Studies [141. Tổng thuật những tiến bộ trong nghiên cứu “màu sắc”, thừa nhận các từ chỉ màu “hỗn hợp” (hồng, tím, đỏ tươi), Biggam và Kay đã chỉ ra quá trình phát triển các từ chỉ màu cơ bản mới, cho thấy vai trò của môi trường và cơ thể, điển dạng màu sắc trong kinh nghiệm con người. Hướng nghiên cứu này tiếp tục được phát triển trong các nghiên cứu của các tác giả Biggam, Hough & Simmons (2011) trong New Direction in Colour Studies [142.] và những kiến giải quá trình đặt tên màu trong các ngôn ngữ cụ thể của Steinvall (2002) với English Colour Terms in Context [179.]; Wu (2011) với The Evolution of Basic Color Terms in Chinese [184.
Theo hướng nghiên cứu liên ngành văn hóa - ngôn ngữ, Checvalier và Gheerbrant (1996) trong The Penguin Dictionary of Symbols [148.] đã đi sâu nghiên cứu giá trị biểu trưng của màu sắc trong các nền văn hóa, lí giải khá chi tiết ý nghĩa 10 của biểu tượng màu sắc trong văn hóa các nước trên thế giới, các “màu” được “ký hiệu hóa” trong ngôn ngữ: đen, đỏ, hung, màu lục, xanh lá cây, trắng, vàng, xám, màu da cam trong các nền văn hóa, bao quát suốt chiều dài lịch sử và chiều rộng cư trú của con người. Theo các tác giả, “những giá trị ấy đã có muôn vàn ứng dụng, chúng kích thích những cái mà chúng biểu trưng: ý nghĩa vũ trụ và xuất hiện như những thần linh trong nhiều huyền thoại về nguồn gốc thế giới, ý nghĩa biểu tượng sinh học và đạo đức học, ý nghĩa tượng trưng của sắc màu cũng có thể thu nhận một giá trị tôn giáo nổi bật” [12. Ý nghĩa biểu trưng của màu sắc trong văn hóa tiếp tục được các tác giả Silvestre, Cardeira và Villalva (2016) đào sâu trong công trình Colour and Colour Naming: Crosslinguistic Approaches [178.] với các màu thứ cấp là tím, cam, hồng và xám trong các ngôn ngữ. Theo hướng nghiên cứu tri nhận, ứng dụng lý thuyết điển dạng, Rosch (1973) với bài viết “Natural Categories” in trong tạp chí Cognitive Psychology [175.] đã khảo cứu cứ liệu màu sắc theo các quy trình: lựa chọn kích thích - nhận diện, phân loại - gọi tên, chỉ ra các đặc trưng điển dạng với ý nghĩa “ví dụ đạt nhất” của phạm trù màu sắc, cho thấy các màu trung tâm được tri giác nổi trội hơn các màu không trung tâm.
Nhìn chung, các màu trung tâm đều có tính nổi trội về tri giác - tri nhận (perceptual - cognitive salience), và liên quan đến một số hiện tượng phổ quát ngày và đêm với màu đen và trắng), mặt trời (đỏ), rau (xanh lá cây), bầu trời (xanh da trời) và mặt đất (nâu). Những nghiên cứu tiếp theo của Rosch và Carolyn (1975) về cương vị tâm lí của các màu trung tâm, hệ thống màu tiêu điểm và khả năng mở rộng khái niêm “tiêu điểm” sang các phạm trù khác, thay thế thuật ngữ “tiêu điểm” (focal colors) của Berlin và Kay bằng thuật ngữ “điển dạng” (prototype) [176.] có ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh những bất cập trong nghiên cứu buổi đầu về màu sắc của Berlin và Kay, đặt nền tảng cho những nghiên cứu tri nhận luận về ADYN sau này. Lakoff (1987) trong Women, Fire, and Dangerous: What Categories Reveal about the Mind [162.] đã chứng minh rằng các phạm trù chỉ màu sắc đều có các phần tử trung tâm và các thuật ngữ chỉ các phần tử này được gọi là các từ chỉ màu cơ sở. Và do đó, việc so sánh các phạm trù chỉ màu sắc trong các ngôn ngữ khác 11 nhau là khả thi.
Taylor (1995) trong công trình Linguistic Categorization Prototypes in Linguistic Theory [177.] đã dành hẳn một chương để trình bày các vấn đề liên quan đến YN màu sắc. Tác giả đã sử dụng điển dạng như một phần của phạm trù hóa để mô tả các từ chỉ màu, miêu tả những phẩm chất tương tự của hai “màu” khá khác nhau. Theo Taylor, một thực thể càng gần với điển dạng, trạng thái của nó càng nằm trong phạm trù. Do đó, các từ chỉ màu cơ bản là điển dạng cho các loại màu khác nhau và chúng giữ vai trò trung tâm trong trong YN màu sắc.
Luận điểm phổ quát trong tri nhận màu sắc ngày càng được bổ sung, làm rõ trong các nghiên cứu của Lucy (1997) với bài viết “The linguistics of color” in trong Color categories in thought and language [173.], Lindsey & Brown (2004), với “Color naming and color consensus: “Blue” is special” in trong Journal of vision [171.] đã làm sáng rõ cơ sở nghiệm thân trong tri nhận màu sắc dựa trên các quá trình sinh lý thần kinh của con người. Giải thích cơ chế tri nhận màu sắc, Lakoff (1999) trong Philosophy in the Flesh cũng đã chỉ ra: “khoa học nhận thức đã cho chúng ta biết rằng màu sắc không tồn tại trong thế giới bên ngoài. Cơ thể và não bộ của chúng ta đã phát triển để tạo ra màu sắc” [168. Về cơ bản, tri nhận màu sắc của con người dựa trên sự trải nghiệm cơ thể.
YN màu sắc có cấu trúc bên trong, với một số màu nhất định là “tiêu điểm”. Cấu trúc trung tâm – ngoại vi của các phạm trù là kết quả của các đường cong thần kinh phản hồi màu sắc trong não chúng ta [168. Như vậy, vấn đề nghiên cứu về “màu sắc” trong ngôn ngữ cho đến nay ghi nhận kết quả tập trung tranh luận, phản biện làm sáng rõ lý thuyết phổ niệm của Berlin và Kay. Mặt khác, được bổ sung với những nghiên cứu theo hướng nghiên cứu văn hóa, tri nhận hiện nay.
Ở Việt Nam Nhìn chung, từ những năm 1980 của thế kỷ XX cho đến nay kết quả nghiên cứu “màu sắc” ghi nhận sự tiếp nối, phát triển của nhiều công trình, bài viết với mục đích làm rõ đặc điểm bản chất “màu sắc” trong tiếng Việt. Từ bình diện từ vựng – ngữ nghĩa, Hoàng Văn Hành (1982) trong bài viết Về cấu trúc nghĩa của tính từ tiếng Việt [32.] đã đi sâu phân tích cấu trúc nghĩa của các từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt. Căn cứ vào đặc trưng ngữ nghĩa, tác giả đã xếp các từ 12 chỉ màu sắc vào nhóm tính từ biểu thị phẩm chất được đánh giá theo thang độ và đưa ra kiến giải có giá trị về cách xác định nghĩa của chúng: “cần phải được xác định không chỉ qua chuẩn tiểm tàng mà còn qua cả phần đối cực của nó” [32.