Chương 1: Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài Chương 2: Trường tên gọi các bộ phận cơ thể người trong tiếng Hán: Thống kê - Phân loại - Miêu tả. Chương 3: So sánh đối chiếu các đơn vị từ vựng chỉ các bộ phận cơ thể trong tiếng Hán với những đơn vị Hán - Việt tương đương. TÀI LIỆU THAM KHẢO. * Những đơn vị Hán - Việt này sẽ được lập danh sách ở những chương sau.
10 z Chƣơng I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Giới thiệu đôi nét về tiếng Hán. Lịch sử phát triển của tiếng Hán. Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn nhiều dân tộc trong đó dân tộc Hán chiếm đại đa số (khoảng 92%).
Ngôn ngữ mà người Hán ở các vùng khác nhau sử dụng cũng khác nhau. Nhìn vào hình thức chúng ta hoàn toàn có thể lý giải rằng tiếng Hán là của dân tộc Hán, song thực tế không chỉ đơn giản như vậy. Nói đến tiếng Hán, người ta có thể nghĩ tới hình thức văn giáp cốt thời cổ đại, đó là thứ ngôn ngữ sách vở của các nhà hiền triết cổ, còn có thể nói đến ngôn ngữ trong Đường thi, Tống từ, ngôn ngữ bạch thoại giai đoạn đầu trong các tiểu thuyết cổ điển và cả tiếng phổ thông cùng các phương ngữ hiện đại. Chữ Hán được xuất hiện rất sớm và có quá trình biến đổi lâu dài.
Văn tự Hán là loại chữ viết tượng hình duy nhất trên thế giới còn được sử dụng và phát triển cho đến ngày nay. Một số nước láng giềng như Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam đã từng mượn chữ Hán để làm văn tự cho ngôn ngữ nước mình. Chữ Hán là thứ chữ viết rất phức tạp cho nên đã gây không ít khó khăn cho việc nắm bắt chữ Hán và học tiếng Hán. Vì vậy nhà nước Trung Quốc đã tiến hành cải cách giản thể chữ Hán.
Từ đời Đường đến nay, văn tự Hán dùng trong lĩnh vực hành chính thay đổi không nhiều. Vào thời Minh Thanh mặc dù có nhiều người phản đối, trào lưu giản hoá vẫn bắt đầu xảy ra. Đến đầu thế kỷ XX, do nhu cầu giản hoá chữ Hán, cuộc vận động cải cách toàn diện chữ Hán đã chính thức công nhận chữ Hán giản thể là văn tự chính dùng trong văn bản hành chính của nhà nước. Từ sau năm 1949 nhà nước Trung Quốc mới luôn duy trì chữ Hán cải cách, đồng thời vào năm 1955, ở Trung Hoa lục địa còn bắt đầu thay đổi cách đọc và viết chữ Hán theo hàng dọc từ phải sang trái 11 z thành cách viết hàng ngang từ trái sang phải như thông lệ của các nước trên thế giới.
Có hai hình thức của ngôn ngữ viết đã tồn tại trong suốt chiều dài phát triển lịch sử của Trung Quốc. Văn ngôn từ đời Đông Chu đến đời Hán. Văn bạch thoại xuất hiện từ đời Đường. Mặc dù có sự khác nhau giữa các vùng phương ngữ của Trung Quốc nhưng do cùng nằm trong một chỉnh thể, cùng sử dụng chung một loại văn tự và có nền văn hoá thống nhất nên khi Trung Quốc phế bỏ hình thức văn ngôn bằng hình thức bút ngữ mới, tức lối văn bạch thoại, thì sự thống nhất ấy vẫn không hề mất đi.
Văn bạch thoại do tính giản dị và phản ánh được đời sống con người hiện đại Trung Hoa đã phát triển trên một nền thống nhất mới. Như vậy trong lịch sử, toàn Trung Quốc đã có một thứ ngôn ngữ chung. Nhưng thời Minh Thanh, ngôn ngữ viết vẫn là hình thức văn ngôn, ngôn ngữ nói là tiếng Quan thoại (tiếng Bắc Kinh mang nhiều khẩu âm khác nhau). Cho đến đầu thế kỷ XX, trước xu thế hoà nhập vào thế giới văn minh, nhiều người Trung Quốc thấy được tầm quan trọng của việc dùng một ngôn ngữ thống nhất, đã coi tiếng quan thoại là ngôn ngữ chuẩn để đưa vào dạy trong nhà trường và sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực hành chính quốc gia.
Việc xác lập một ngôn ngữ thống nhất của toàn dân tộc bao gồm hai phương diện: xác lập một hình thức ngôn ngữ viết mới trên cơ sở hình thức văn ngôn truyền thống, sáng tạo thêm những yếu tố hiện đại; thay thế hình thức khẩu ngữ chưa có tính qui tắc là tiếng Quan thoại bằng một hình thức khẩu ngữ mới toàn dân cùng sử dụng. Qua quá trình cải cách, đổi mới dẫn tới kết quả là văn bạch thoại đã được công nhận là hình thức ngôn ngữ viết chính thức của Trung Quốc. Đến năm 1924 Uỷ ban trù bị thống nhất ngôn ngữ toàn Trung Quốc mới đưa ra quyết định coi ngữ âm Bắc Kinh là ngữ âm chuẩn để thống nhất cách phát âm. Tiếng Hán phổ thông hiện đại với tư cách là thứ ngôn ngữ chung của dân tộc Hán được hình thành trong điều kiện lịch sử như vậy.
12 z Tiếng Hán phổ thông hiện đại mà chúng ta nghiên cứu hiện nay chính là tiếng phổ thông lấy ngữ âm Bắc Kinh làm ngữ âm chuẩn, lấy tiếng miền Bắc làm phương ngữ gốc và lấy ngữ pháp của các tác phẩm kinh điển bằng văn bạch thoại làm ngữ pháp chuẩn. Về chữ viết, chữ Hán là loại chữ tượng hình, tức là dùng đường nét, hình vẽ để mô tả sự vật, sự việc, hiện tượng mà các từ ngữ thể hiện. Về mặt cấu tạo một chữ Hán bao giờ cũng có ba mặt là âm, hình và nghĩa. Âm đọc là yếu tố có trước.
Hình là hình thể, hình dáng cấu tạo của chữ Hán được tạo thành bởi những đường nét nhất định nằm trong một ô vuông, nên chữ Hán cũng gọi là chữ vuông. Nghĩa của chữ Hán là nội dung mà âm và hình thể hiện. Nghĩa có thể được thể hiện thông qua hình dáng cấu tạo của chữ Hán hoặc qua âm đọc. Do vậy, nhìn vào mặt chữ người ta có thể biết được hoặc đoán được phần nào ý nghĩa mà từ đó thể hiện.
Song chúng ta rất khó có thể thấy một mối liên lạc giữa nó với cấu trúc âm tiết có thực trong lời nói. Đây là khó khăn cho những người học tiếng Hán vốn đã quen với các hệ thống văn tự ghi âm. Chính vì vậy mà người Trung Quốc phải sử dụng các con chữ latin để ghi âm các âm tiết Hán theo nguyên tắc thông thường của một văn tự ghi âm. Đặc điểm cấu trúc tiếng Hán.
Tiếng Hán cũng giống như nhiều ngôn ngữ Viễn Đông khác thuộc loại đơn tiết tính. Có nghĩa là trong tiếng Hán đơn vị có thể mang nghĩa đa số có hình thức là đơn âm tiết. Đặc trưng đơn tiết của tiếng Hán có những đặc điểm sau: a. Đơn vị cơ sở của ngữ pháp tiếng Hán là hình vị trùng với âm tiết.
Hầu hết các âm tiết tiếng Hán đều có nghĩa nên chúng có những đặc điểm và tính chất của một hình vị. Hầu hết các hình vị trong tiếng Hán đều có thể độc lập tạo thành từ. Từ trong tiếng Hán đại đa số là từ đơn tiết. Tiếng Hán cũng có bộ phận từ đa tiết nhưng những từ đa tiết đó lại do một loạt các đơn vị biểu nghĩa đơn âm tiết tạo nên, các âm tiết đó đều có nghĩa riêng của nó.
Ví dụ: từ " " xiong dì trong đó hai âm tiết "xiong" và "dì" đều có nghĩa riêng nhất định. Còn những từ đa tiết mà các âm tiết không có nghĩa khi tách ra như: 13 z húdié (con bướm), bo li (thuỷ tinh) là rất ít. Cương vị của âm tiết tiếng Hán tương tự như hình vị trong các ngôn ngữ tổng hợp. Người ta gọi âm tiết tiếng Hán là các hình tiết.
Về mặt hình thái học, tiếng Hán không có hình thức của từ. Từ trong tiếng Hán là đơn vị đơn thuần mang nghĩa từ vựng. Người ta không thể nhìn vào hình thức của từ để phân biệt từ loại hoặc nhận ra các ý nghĩa ngữ pháp. Do vậy, chúng ta không thể phân chia từ loại tiếng Hán dựa vào các hình thức của từ riêng lẻ.
Ranh giới giữa các từ loại tiếng Hán khá mờ nhạt và luôn xảy ra tình trạng chuyển loại. Từ " " trong câu 1 là danh từ, còn trong câu 2 là một động từ. Việc phân định ranh giới giữa từ đơn với từ ghép và đặc biệt là từ ghép với từ tổ rất khó khăn vì mỗi âm tiết đều có nghĩa. Có những tổ hợp vừa có đặc điểm của từ ghép vừa có đặc điểm của từ tổ nên không biết qui chúng thành đơn vị từ ghép hay từ tổ.
Chẳng hạn như: tổ hợp " " dà yi (áo khoác ngoài) có thể coi là một danh từ chỉ một loại áo khá dài mặc ở bên ngoài nhưng cũng có thể coi nó là từ tổ vì tách riêng thì và đều là hai từ có nghĩa mà từ + từ = từ tổ. Ý nghĩa ngữ pháp được biểu hiện bằng các phương tiện ngoài từ. Do đặc điểm của tiếng Hán không có ý nghĩa ngữ pháp trong hình thức từ. Do vậy, muốn biểu thị ý nghĩa ngữ pháp phải dùng các phương tiện ngoài từ như: trật tự từ, hư từ.
+ Phương thức dùng trật tự từ: Trật tự từ trong tiếng Hán rất chặt chẽ nó biểu thị ý nghĩa ngữ pháp của từ, vì vậy, nói chung không được phép tuỳ tiện đảo lộn trật tự từ. Câu này gồm 3 từ. Nếu sắp xếp theo thứ tự trên thì là chủ ngữ, là động từ vị ngữ và 14 z là tân ngữ (trong tiếng Việt gọi là bổ ngữ). Nếu ta đảo trật tự các từ trong câu trên thành: thì hoặc không có nghĩa, hoặc nghĩa sẽ thay đổi vì lúc đó ý nghĩa ngữ pháp của các từ thay đổi.
+ Phương thức dùng hư từ: Bên cạnh phương pháp dùng trật tự từ, tiếng Hán còn dùng hư từ để biểu thị các ý nghĩa ngữ pháp như các liên từ, trợ từ, phó từ. Các hư từ khác nhau nối các từ tạo nên các cấu trúc cú pháp khác nhau. Ví dụ: trong hai tổ hợp học sinh của tôi) và (tôi và học sinh) hai thực từ và nếu nối bằng trợ từ " " thì nó là một kết cấu chính phụ, còn nếu nối bằng liên từ thì nó lại trở thành một kết cấu liên hợp. Trong tiếng Hán, hầu hết các hư từ đều có nguồn gốc là thực từ hư hoá mà thành, vì vậy giữa thực từ và hư từ thường có hiện tượng đồng âm thậm chí cùng chung một chữ Hán.
Để biểu thị thời và thể của động từ tiếng Hán thường thêm vào trước hoặc sau động từ một hư từ nhất định.