Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Về khái niệm từ trong tiếng Hàn và tiếng Việt Nói về khái niệm từ, có nhiều định nghĩa đã được đưa ra, tuy nhiên, chưa có định nghĩa nào được coi là trọn vẹn đầy đủ và phù hợp với tất cả các ngôn ngữ, thậm chí có ý kiến cho rằng: từ khác nhau trong mỗi ngôn ngữ, vì vậy, không thể có khái niệm chung. Từ trong các ngôn ngữ có thể khác nhau về kích thước vật chất, loại nội dung và cách được biểu thị, cách thức tổ chức trong nội bộ cấu trúc, mối quan hệ với các đơn vị khác, năng lực, vai trò khi hoạt động trong lời nói. Trong tiếng Việt, một định nghĩa về từ được chấp nhận, bao trùm đầy đủ các đặc điểm của từ tiếng Việt có thể thấy là “đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên; được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu” [4, tr.
Trong các ngôn ngữ khác nhau, định nghĩa về từ có thể có thêm tiêu chí khác bổ sung. Trong tiếng Hàn, từ (단어) được hiểu là đơn vị có hình thức độc lập nhỏ nhất, có nghĩa, là yếu tố trực tiếp cấu thành nên câu. Theo Lee Ju Haeng (2004), “từ có thể coi là đơn vị ngôn ngữ được cấu thành từ một hình vị trở lên, không thể phân li và không thể đặt dấu chấm xen giữa các âm tiết”[27, tr52]. Xét về mặt cấu tạo, yếu tố cấu tạo nên từ trong tiếng Hàn là các hình vị (형태소).
Hình vị ở đây được hiểu là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, là đơn vị cơ bản cấu thành nên từ, trong đại đa số các trường hợp, hình vị là đơn vị nhỏ hơn từ. Hình vị tiếng Hàn có thể phân chia dựa theo ý nghĩa và vị trí hoạt động. Theo nội dung ý nghĩa: có hình vị mang ý nghĩa từ vựng (ví dụ 1) và hình vị mang ý nghĩa ngữ pháp (ví dụ 2). Ví dụ: (1)집[chip], 꽃[kkot], 나무[namu] (2) 이[i], 을[eul], - 겠[ket] Theo vị trí hoạt động: các hình vị sẽ kết hợp lại với nhau để cấu tạo nên từ.
Khi các hình vị kết hợp lại, tạo thành đơn vị từ, tùy theo vị trí của hình vị, có thể chia ra thành căn tố (어근- hay còn gọi là gốc từ) và phụ tố (접사). 11 z Ví dụ: (3) 덧-신[teot-sin], 치-솟(다) [ch’i- sot (ta)] (4) 먹-이(다)[meok – i(ta)], 잡-히(다)[chap i(ta)], 높-이(다)[nop i (ta)] Ở hai ví dụ trên, các chữ được in đậm là căn tố, chữ in thường là phụ tố. Ví dụ: (5) 사람-답(다) [sa ram –tap (ta)], 가난-하(다) [kanan-ha(ta)] (6) 아름-답(다) [a reum –tap (ta)], 따뜻-하(다) [tta tteut – ha(ta)] Ở hai ví dụ trên, phần in đậm ở ví dụ (5) là căn tố tự do, còn phần in đậm ở ví dụ (6) là căn tố phụ thuộc. Căn tố tự do có thể xác định được từ loại một cách dễ dàng, có khả năng kết hợp tự do với các từ khác.
Căn tố phụ thuộc thì không rõ ràng về mặt xác định từ loại và khả năng kết hợp từ cũng hạn chế. Ngược lại với căn tố, phụ tố là hình vị không đóng vai trò trung tâm trong toàn bộ ý nghĩa của một từ, mà chủ yếu bổ sung ý nghĩa cho thành phần trung tâm, hoặc chỉ thể hiện ý nghĩa về mặt ngữ pháp. Tùy theo vị trí đứng trước hay sau căn tố, phụ tố chia ra thành tiền tố (접두사) và hậu tố (접미사). Ví dụ: (7) 시-꺼멓(다) [si- kkeo meot (ta)], 헛- 고생 [heot- ko saeng] (8) 지우- 개 [chi u- kae], 거짓말- 쟁이 [keo chit mal- chaeng i] Trong hai ví dụ trên, chữ in đậm ở ví dụ (7) là tiền tố, còn chữ in đậm ở ví dụ (8) là hậu tố.
Khác với tiếng Hàn, trong tiếng Việt, đơn vị cấu tạo nên từ là tiếng, trong ngữ âm học gọi là âm tiết. Tiếng của tiếng Việt có giá trị tương đương như hình vị, còn được gọi là hình tiết (tức âm tiết có giá trị hình thái học). Về hình thức, tiếng trùng với âm đoạn phát âm tự nhiên của âm tiết. Về nội dung, tiếng là đơn vị nhỏ nhất có nội dung, hoặc có giá trị hình thái học, cấu tạo từ.
Tiếng có thể phân loại theo nội dung ý nghĩa hoặc theo năng lực hoạt động ngữ pháp (khả năng tự do). 12 z Theo nội dung ý nghĩa, tiếng chia thành ba loại: (1) tiếng tự nó mang nghĩa, quy chiếu một đối tượng, khái niệm (tiếng có nghĩa); (2) tiếng tự nó không quy chiếu một đối tượng , khái niệm nào nhưng sự hiện diện mang lại sắc thái nghĩa khác: xanh lè, áo xống. Theo năng lực hoạt động ngữ pháp (khả năng tự do), tiếng chia thành tiếng tự do và tiếng không tự do. Trong đó, tiếng tự do là những tiếng có khả năng hoạt động tự do, tự thân đã là một từ: nhà, người, cây… Tiếng không tự do lại bao gồm hai loại: (1) không hoạt động tự do, nhưng tự thân mang nghĩa: thủy, hỏa, trường, sơn, …(2) không hoạt động tự do và tự thân không mang nghĩa: (đen) nhánh, mồ, hôi, bồ, hòn… Về phương thức cấu tạo, do loại hình ngôn ngữ của tiếng Hàn và tiếng Việt khác nhau, tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, còn tiếng Hàn thuộc loại ngôn ngữ chắp dính, vì thế, phương thức cấu tạo từ trong hai hệ thống ngôn ngữ này cũng bị chi phối bởi đặc trưng đó.
Trong tiếng Hàn, phương thức cấu tạo được chia thành (1) cấu trúc tạo từ từ một hình vị (단일 구조) gồm có từ đơn (단일어), như: 물[mul], 하늘[haneul], 흐르다[heu reu ta]. Ngoài ra, trong phương thức ghép, từ tiếng Hàn còn có thể được cấu tạo theo dạng thức láy (반복 구조), căn cứ vào cơ chế láy, phân thành cặp: láy hoàn toàn (전체반복형-láy lại toàn bộ gốc từ) và láy bộ phận (부분반복형-láy lại một phần của gốc từ); láy đồng âm (동음반복형: láy giữ nguyên cấu trúc ngữ âm của gốc từ) – láy gần âm (유음반복형: láy có thay đổi một phần cấu trúc ngữ âm của gốc từ , hay còn gọi là 13 z láy âm gần giống)[32, tr. Trong đó, láy hoàn toàn và láy đồng âm có hình thái tương tự nhau. Ví dụ: - Láy hoàn toàn: 쿨쿨[k’un k’un], 꼬치꼬치[kko ch’i kko ch’i], 꾸무럭꾸무럭 [kku mu reok kku mu reok].
- Láy bộ phận: 사르르[sa reu reu], 데구르르[te ku reu reu], 닥다그르르 [ tak ta keu reu reu],. - Láy đồng âm: 곰곰[kom kom], 개굴개굴[kae kul kae kul], 간드랑간드랑[kan teu rang kan teu rang]. - Láy gần âm: 뒤숭대숭[twi sung tae sung], 아기자기[aki cha ki], 곤드레만드레[kon teu re man teu re]. Còn trong tiếng Việt, phương thức cấu tạo được chia thành (1) cấu tạo từ bằng một tiếng (từ đơn) và (2) tạo từ bằng nhiều tiếng (từ ghép).
Trong phương thức ghép, từ tiếng Việt có ghép đẳng lập (tạo thành từ ghép đẳng lập) và ghép chính phụ (tạo thành từ ghép chính phụ), phương thức láy (tạo thành từ láy) và ghép ngẫu hợp [1, tr. Như vậy, chúng ta có thể thấy được sự khác biệt trong quan niệm về từ giữa tiếng Hàn và tiếng Việt. Từ trong tiếng Việt có kết cấu ngữ âm hoàn chỉnh, không thay đổi về hình thái khi sử dụng. Còn từ trong tiếng Hàn tồn tại cả những trường hợp “chỉ với bộ phận mang nghĩa từ vựng chưa được coi là cấp độ từ (căn tố phụ thuộc); kiểu kết cấu căn tố + phụ tố phái sinh chỉ được xét ở góc độ cấu tạo từ.
Nếu như xét ở khía cạnh khi đưa từ vào sử dụng, kết hợp trong các cấu trúc cú pháp, những từ này chỉ được xem là từ khi có các đuôi từ kèm theo, từ trong tiếng Hàn có biến đổi, có khác biệt về mặt hình thái. Về cấu trúc âm tiết trong tiếng Hàn và tiếng Việt Liên quan tới cấu tạo từ tượng hình, tượng thanh, đặc biệt từ tượng hình tượng thanh được hình thành theo phương thức láy, không thể không nhắc đến đặc điểm cấu trúc âm tiết trong hai thứ tiếng. Mục đích là nhằm giúp chúng ta có cái nhìn khái quát, nắm được các đặc điểm cấu trúc âm tiết tiếng Hàn qua đối chiếu với 14 z âm tiết tiếng Việt. Đây sẽ là tiền đề cho phần trình bày về phương thức láy mà chúng tôi sẽ nêu cụ thể trong chương tiếp theo.
Như đã trình bày ở trên, một từ có thể bao gồm một hoặc nhiều hơn một âm tiết. Trong tiếng Hàn, mỗi âm tiết có cấu trúc đầy đủ bao gồm ba thành phần: âm đầu- nguyên âm – âm cuối (CVC). Bên cạnh đó, một âm tiết tiếng Hàn còn có thể tồn tại ở các dạng khác, khi bị thiếu mất hoặc âm đầu hoặc âm cuối, hoặc cả hai. Ví dụ: dạng âm đầu – nguyên âm (CV); dạng nguyên âm – âm cuối (VC).
Đặc biệt, âm tiết tiếng Hàn cũng có thể tồn tại ở dạng chỉ có duy nhất nguyên âm (V). Lúc này, âm đầu sẽ được biểu thi bằng ký tự ㅇ- tượng trưng cho vị trí âm đầu là zero. Còn trong tiếng Việt, cấu trúc đầy đủ của một âm tiết bao gồm năm thành phần: âm đầu – vần (âm chính-âm đệm- âm cuối)- thanh điệu. Tuy nhiên, cũng như âm tiết tiếng Hàn, âm tiết tiếng Việt cũng có thể xuất hiện ở dưới dạng khuyết thiếu, ví dụ: dạng thiếu âm đầu, dạng thiếu âm đệm, dạng thiếu âm cuối.
Có thể nói, quan hệ giữa vỏ ngữ âm và nghĩa của từ là quan hệ võ đoán. Mặc dù vỏ ngữ âm - yếu tố hình thức bên ngoài- sẽ đem lại sự khu biệt cho nội dung, ý nghĩa của từ, song, bên cạnh tính võ đoán, không thể giải thích giữa hình thức và nội dung ấy, vẫn có những trường hợp có mối quan hệ với nhau và có thể lý giải được. Trong tiếng Hàn, nhiều trường hợp giữa vỏ ngữ âm và ngữ nghĩa của từ có mối quan hệ chi phối lẫn nhau, hoàn toàn có thể giải thích và được thể hiện ra thành một hệ thống rất rõ rệt. Đặc biệt, mối quan hệ này được nhận thấy một cách dễ dàng trong một số trường hợp, khi ta thay đổi âm đầu hay nguyên âm của âm tiết trong cấu tạo từ.
Khi đó, ta sẽ có được từ mới với sắc thái ngữ nghĩa khác biệt. Đây là điều khó có thể phát hiện theo một hệ thống trong tiếng Việt. Trước tiên, xin nói về nguyên âm trong tiếng Hàn. Hệ thống nguyên âm trong tiếng Hàn chia ra thành ba loại dựa theo tính chất: nguyên âm dương tính (gồm ㅏ[a], ㅑ[ya], ㅗ[o] , ㅛ[yo], ㅐ[ae], ㅒ[yae], ㅘ [wa], ㅚ[oe]), nguyên âm âm tính (gồm ㅓ[eo], ㅕ[yeo], ㅜ[u], ㅠ[yu], ,ㅔ[e], ㅖ[ye], ㅝ[wo], ㅟ[wi], ㅡ[eu]), nguyên âm trung tính (gồm ㅡ[eu] và ㅣ[i] ).