Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn học chuyên ngành Ngôn ngữ học (mã số 9222020) với đề tài "Kính ngữ tiếng Hàn và các phương tiện biểu hiện tương đương trong tiếng Việt" do nghiên cứu sinh Phạm Thị Ngọc thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam năm 2018.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đặc trưng loại hình và văn hóa của hai ngôn ngữ: Việt Nam và Hàn Quốc cùng chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Nho giáo truyền thống, coi trọng thể diện và tôn ti trật tự gia đình cũng như xã hội. Hệ thống kính ngữ tiếng Hàn thuộc loại hình ngôn ngữ chắp dính, có cấu trúc ngữ pháp phức tạp và chi phối chặt chẽ các tương tác giao tiếp hàng ngày. Người học tiếng Hàn tại Việt Nam thường gặp nhiều khó khăn, dễ mắc lỗi khi sử dụng kính ngữ do sự khác biệt về loại hình ngôn ngữ và phương thức biểu đạt so với tiếng Việt. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là trước thời điểm luận án thực hiện, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về hệ thống kính ngữ tiếng Hàn trên cả hai bình diện ngữ pháp và từ vựng đặt trong mối tương quan so sánh - đối chiếu với các phương tiện biểu hiện tương đương trong tiếng Việt nhằm phục vụ ứng dụng giảng dạy, biên phiên dịch và giao tiếp thực tế.

Mục đích nghiên cứu chính của luận án là phân tích một cách có hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về các đặc trưng cơ bản và các phương tiện biểu hiện của kính ngữ tiếng Hàn trên cả hai phương diện ngữ pháp và từ vựng trong mối tương quan với tiếng Việt; từ đó ứng dụng kết quả vào nghiên cứu, giảng dạy và học tập tiếng Hàn hiệu quả cho người Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án gồm 5 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến kính ngữ tiếng Hàn.
  2. Khẳng định kính ngữ là một phạm trù của chỉ xuất xã hội (Social Deixis) liên quan đến các yếu tố ngữ dụng.
  3. Tìm ra các nhân tố liên quan trực tiếp và gián tiếp đến việc lựa chọn và sử dụng kính ngữ tiếng Hàn trong giao tiếp.
  4. Dựa trên các phương thức biểu hiện cơ bản của kính ngữ tiếng Hàn trên các phương diện ngữ pháp, từ vựng và ngữ dụng học, tiến hành so sánh, đối chiếu với phương thức biểu đạt tương đương trong tiếng Việt để xác định điểm tương đồng và khác biệt.
  5. Đối chiếu, so sánh chức năng, hoạt động của kính ngữ và xem xét việc sử dụng kính ngữ trong giao tiếp tiếng Hàn với các phương thức biểu hiện tương đương của tiếng Việt qua khảo sát các tình huống giao tiếp gia đình Hàn – Việt trong các mối quan hệ liên nhân khác nhau, từ đó đề xuất các phương thức lựa chọn và sử dụng phù hợp.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các đặc trưng cơ bản và phương thức biểu hiện của kính ngữ tiếng Hàn trong mối tương quan với tiếng Việt; thực tế sử dụng kính ngữ tiếng Hàn trong các mối quan hệ giao tiếp liên cá nhân ở gia đình Hàn Quốc có đối chiếu với các biểu hiện tương đương trong giao tiếp gia đình Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở các phương tiện biểu hiện kính ngữ trên bình diện ngôn ngữ học thuần túy, bao gồm phương thức ngữ pháp (hình thái học) và phương thức thay thế từ vựng; không đi sâu vào các phương tiện biểu hiện phi ngôn ngữ (như tư thế, tác phong, cử chỉ, ánh mắt, ngữ vực). Phạm vi khảo sát thực tế tập trung vào giao tiếp gia đình và giao tiếp xã hội qua các ngữ liệu văn học và kịch bản phim truyền hình.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong luận án được tác giả phân chia theo 5 mảng nội dung chính:

  1. Lịch sử nghiên cứu về ngôn ngữ lịch sự ở nước ngoài: Luận án điểm lại các lý thuyết nền tảng về lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ, bao gồm:

    • R. Lakoff (1973, 1975) với 3 quy tắc lịch sự: Không áp đặt (don't impose), Để ngỏ sự lựa chọn (offer optionality), và Thể hiện tình bằng hữu (make other person feel good – be friendly).
    • G. Leech (1983) với lý thuyết lịch sự dựa trên nguyên tắc "lợi" (benefit) và "thiệt" (cost) giữa vai phát ngôn và vai tiếp nhận, nhấn mạnh việc tối thiểu hóa các lối nói không lịch sự và bù đắp các tổn thất thể diện.
    • P. Brown và S. Levinson (1978, 1987) với mô hình lịch sự lấy thể diện làm trung tâm (face-centred politeness), phân định thể diện dương tính (positive face), thể diện âm tính (negative face), cùng khái niệm hành vi đe dọa thể diện (Face Threatening Acts – FTAs), bắt nguồn từ quan niệm thể diện của E. Goffman (1967).
  2. Lịch sử nghiên cứu về kính ngữ tiếng Nhật và tiếng Trung:

    • Về tiếng Nhật: Hoàng Anh Thi (1998, 2000, 2011) phân tích hệ thống lịch sự gồm dạng kính ngữ (keigo) thuộc trục dọc tôn ti và dạng lịch sự (teineigo) thuộc trục ngang thân sơ; các tác giả Nguyễn Thị Việt Thanh, Trần Sơn, Ngô Hương Lan, Hồ Hoàng Hoa, Nguyễn Thu Hương nghiên cứu về 3 dạng thức kính ngữ tiếng Nhật (kính trọng, lịch sự, khiêm tốn) qua biến đổi đuôi vị từ.
    • Về tiếng Trung: Phạm Thị Thúy Hồng, Võ Trung Định, Phạm Ngọc Hàm (2003), Phan Thị Thanh Thủy (2013) nghiên cứu về cơ chế "kính ngữ" (tôn xưng) và "khiêm ngữ" (khiêm xưng), phân tích nguyên tắc "xưng khiêm hô tôn" trong đại từ nhân xưng và danh từ thân tộc, chức vụ của tiếng Hán.
  3. Lịch sử nghiên cứu về kính ngữ tiếng Hàn:

    • Các học giả Hàn Quốc đã tiếp cận kính ngữ dưới nhiều thuật ngữ: Kính ngữ pháp (Gyeongeobeop), Tôn đãi pháp (Jondaebeop), Đãi ngẫu pháp (Daeubeob), Cung tốn pháp (Gongsonbeob), Tôn kính pháp (Jongyeongbeob), Tôn ti pháp (Jonbibeob) và tên thuần Hàn là Phép đề cao (Nop-imbeob).
    • Seo Jeong Soo (1984), Lee Ik Seop (1974), Seong Ki Cheol (1985), Hankil (1995) hệ thống hóa phép đề cao chủ thể, đề cao khách thể và đề cao vai tiếp nhận.
    • Kim Dae Yeop (2006) chia hệ thống thành phép đề cao người khác (Tain daeubeop) và phép tự đề cao (Jagi daeubeop).
    • Lee Jeong Bok (2001, 2002, 2012) tiếp cận dưới góc độ ngôn ngữ học xã hội, xác lập 3 chức năng chính của kính ngữ tiếng Hàn.
    • Ko Young Kun xác lập và bổ sung hệ thống 6 cấp độ kính ngữ; Nam Mi Jeong, Choi Hyo Yeon, Kim Myong Un, Jeong Mi Jin phân tích các yếu tố ngữ dụng và vai giao tiếp; Lê Thị Thu Giang (2012) tại Việt Nam nghiên cứu sơ lược về các phương thức biểu hiện kính ngữ trong tiếng Hàn hiện đại.
  4. Lịch sử nghiên cứu về lịch sự trong tiếng Việt:

    • Hoàng Anh Thi (2000) khẳng định tiếng Việt không có hệ thống kính ngữ hình thái học như tiếng Nhật/tiếng Hàn mà sử dụng hệ thống ngôn ngữ lịch sự.
    • Vũ Thị Thanh Hương (1999, 2000, 2002) khảo sát lịch sự trong lời cầu khiến tiếng Việt dựa trên thực chứng tiếng Hà Nội; Ahn Kyeong Hwan (1998) nghiên cứu thuộc tính văn hóa của từ xưng hô, trợ từ lịch sự tiếng Việt; Vũ Tiến Dũng (2007) nghiên cứu lịch sự và giới tính; Trần Thị Huệ (2014) nghiên cứu tình thái giảm nhẹ; Phan Thị Phương Dung (2016) nghiên cứu tính lễ phép; Nguyễn Văn Khang (1996, 1999), Hữu Đạt (2000), Đào Nguyên Phúc, Hồ Thị Kiều Oanh, Trịnh Đức Thái, Tạ Thị Thanh Tâm khảo sát các nghi thức lời nói lịch sự trong giao tiếp tiếng Việt.
  5. Lịch sử nghiên cứu đối chiếu kính ngữ tiếng Hàn với tiếng Việt:

    • Nguyễn Minh Thuyết và Kim Yong Soo (1998) đối chiếu nguyên tắc "xưng khiêm hô tôn"; Kim Hye Ryun (2011), Lim Mi Kyeong (2013) khảo sát lỗi sử dụng kính ngữ tiếng Hàn của cô dâu Việt Nam; Hoàng Thị Bích Ngọc (2013) phân tích các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt đối chiếu với tiếng Hàn; Đào Thị Mỹ Khanh, Cho Myong Sook, Đinh Lan Hương, Lưu Thanh Thủy, Lã Thị Thanh Mai, Trần Thị Hải Hà khảo sát một số khía cạnh riêng lẻ.

Khoảng trống nghiên cứu: Các công trình trước đây chỉ tiếp cận từng khía cạnh đơn lẻ, chưa có công trình nào nghiên cứu đối chiếu một cách hoàn chỉnh hệ thống kính ngữ tiếng Hàn (ở cả hình thái ngữ pháp và lớp từ vựng thay thế) với toàn bộ các phương tiện biểu đạt tương đương trong tiếng Việt (hệ thống từ xưng hô thân tộc, chức vụ, từ thưa gửi, từ hồi đáp, tiểu từ tình thái, trợ động từ), đồng thời chưa đi sâu khảo sát việc vận dụng linh hoạt các biểu thức này trong các ngữ cảnh giao tiếp gia đình thực tế. Luận án được định vị nhằm giải quyết toàn diện khoảng trống nói trên.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  • Bản chất của kính ngữ và quan hệ ngôn ngữ – văn hóa: Luận án tiếp cận kính ngữ như một hiện tượng ngôn ngữ phản ánh cấu trúc xã hội, chuẩn mực đạo đức Nho giáo truyền thống, và mối quan hệ giữa các cá nhân trong cộng đồng.
  • Kính ngữ như một phạm trù của Chỉ xuất xã hội (Social Deixis): Kính ngữ phản ánh trực tiếp vai giao tiếp, vị thế xã hội, quyền uy (trục dọc) và khoảng cách thân sơ (trục ngang) giữa vai phát ngôn, vai tiếp nhận, vai chủ thể và vai khách thể của hành động.
  • Mô hình lịch sự ngôn ngữ: Kết hợp lý thuyết lịch sự của Brown & Levinson và Leech, nhìn nhận kính ngữ là phương tiện chiến lược phục vụ giao tiếp lịch sự ở cấp độ cao.
  • Khung phân tích 4 nhân tố chi phối: Luận án xác lập 4 nhân tố tác động trực tiếp và gián tiếp đến việc lựa chọn phương tiện kính ngữ: (1) Vai giao tiếp và mối quan hệ liên nhân; (2) Hoàn cảnh giao tiếp (ngữ cảnh văn hóa rộng và thoại trường hẹp: quy thức / phi quy thức); (3) Mục đích giao tiếp; (4) Chiến lược giao tiếp lịch sự.
  • Khái niệm tương đương trong ngôn ngữ học đối chiếu: Tiếp cận tương đương trên phương diện ngữ nghĩa và chức năng dụng học, bao gồm tương đương cùng cấp độ (từ – từ, ngữ – ngữ) và tương đương khác cấp độ (hình vị chắp dính trong tiếng Hàn tương đương với từ tổ/tiểu từ hư từ trong tiếng Việt).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp khảo sát ngôn ngữ học xã hội có hỗ trợ của thủ pháp thống kê mô tả:

  • Phương pháp miêu tả: Mô tả chi tiết cấu trúc, hình thái, vị trí phân bố và ngữ nghĩa của các phương tiện kính ngữ tiếng Hàn và các biểu thức lịch sự tiếng Việt.
  • Phương pháp so sánh – đối chiếu: So sánh đồng đại các phương tiện biểu hiện của hai ngôn ngữ nhằm chỉ ra điểm tương đồng và khác biệt về cấu trúc hình thái và phương thức diễn đạt.
  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Đặt các phát ngôn chứa kính ngữ vào ngữ cảnh giao tiếp cụ thể, phân tích vai giao tiếp, bối cảnh, ý đồ và chiến lược tương tác.
  • Phương pháp khảo sát của ngôn ngữ học xã hội: Khảo sát các biến thể ngôn ngữ theo lứa tuổi, quan hệ thân tộc, thứ bậc xã hội và hoàn cảnh quy thức / phi quy thức.
  • Thủ pháp thống kê, phân loại: Thống kê tần suất xuất hiện của các dạng đuôi từ, từ xưng hô, từ vựng thay thế trong ngữ liệu khảo sát.

Nguồn tư liệu và ngữ liệu nghiên cứu

Ngữ liệu được thu thập dựa trên hai tiêu chí: (1) Tính đa dạng, tiêu biểu, chuẩn mực của giao tiếp đời thường xã hội hiện đại; (2) Tính lịch sử phản ánh ngôn ngữ giai đoạn trước năm 1945. Nguồn dữ liệu gồm:

  • 06 kịch bản phim truyền hình Hàn Quốc và Việt Nam: Phản ánh giao tiếp gia đình (mối quan hệ mẹ chồng - nàng dâu, vợ - chồng, cha mẹ - con cái) và giao tiếp công sở, cơ quan, quân đội.
  • 06 tác phẩm văn học hiện đại Hàn Quốc và Việt Nam: Khảo sát các tác phẩm giai đoạn 1920 – trước 1945 để đối chiếu giao tiếp trong xã hội phong kiến, thuộc địa và so sánh ngôn ngữ văn chương với khẩu ngữ thực tế.
  • Toàn bộ ngữ liệu tiếng Hàn được tác giả trực tiếp đối dịch và chuyển nghĩa tương đương sang tiếng Việt để phục vụ phân tích.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương 1 thiết lập khung lý thuyết hoàn chỉnh cho toàn bộ luận án qua các nội dung trọng tâm:

  • Khái quát lịch sử nghiên cứu ngôn ngữ lịch sự phương Tây (Lakoff, Leech, Brown & Levinson), kính ngữ tiếng Nhật, tiếng Trung, tiếng Hàn, ngôn ngữ lịch sự tiếng Việt và các công trình đối chiếu Hàn – Việt.
  • Định nghĩa kính ngữ: Tiếp thu quan điểm của Lee Jeong Bok, luận án xác định kính ngữ tiếng Hàn là hình thức thể hiện bằng ngôn ngữ mối quan hệ xã hội trên dưới hoặc quan hệ thân sơ cá nhân giữa người nói, người nghe và nhân vật được đề cập; là phương thức ngôn ngữ để đề cao hoặc không cần đề cao đối tượng trong giao tiếp.
  • Xác lập 4 chức năng cơ bản của kính ngữ tiếng Hàn:
    1. Chỉ ra mối quan hệ xã hội trên dưới giữa các vai giao tiếp xuất hiện trong phát ngôn.
    2. Thể hiện mức độ tương thân trong mối quan hệ thân sơ giữa các nhân vật trong phát ngôn.
    3. Bộc lộ phẩm chất, trình độ văn hóa và nhân cách của vai phát ngôn.
    4. Thể hiện mục đích, ý định, chiến lược giao tiếp của vai phát ngôn nhằm đạt hiệu quả tương tác.
  • Phân tích 4 nhân tố chi phối việc lựa chọn kính ngữ:
    • Vai giao tiếp và quan hệ liên nhân: Quyết định theo trục dọc (vị thế, quyền lực, tuổi tác) và trục ngang (thân sơ). Tuổi tác là nhân tố chi phối mạnh nhất.
    • Hoàn cảnh giao tiếp: Phân hóa thành thể quy thức (formal style - đuôi câu đề cao bậc nhất 합쇼체 dùng trong hoàn cảnh trang trọng, nghi thức) và thể phi quy thức (informal style - đuôi câu đề cao thân mật 해요체 dùng trong sinh hoạt đời thường).
    • Mục đích giao tiếp: Chi phối việc chuyển đổi linh hoạt giữa các thể nói để đạt hiệu quả tâm lý.
    • Chiến lược giao tiếp lịch sự: Gồm 3 chiến lược chính phù hợp với tâm lý xã hội Việt - Hàn: (1) Hạ mình và nâng bậc tôn xưng đối tác; (2) Thiết lập quan hệ gia đình bằng từ xưng hô thân tộc; (3) Lựa chọn kỹ lưỡng phương tiện biểu hiện để giữ gìn thể diện đối tác.

CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN KÍNH NGỮ TIẾNG HÀN VÀ NHỮNG BIỂU THỨC TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT

Chương 2 phân tích chi tiết hai phương thức biểu hiện của kính ngữ tiếng Hàn và xác lập các biểu thức tương đương trong tiếng Việt:

  1. Kính ngữ tiếng Hàn biểu hiện qua ngữ pháp (hình thái học):

    • Chắp dính phụ tố vào thể từ: Tiền tố 귀- (quý-); hậu tố kính ngữ -님 (nim) chắp dính sau tên riêng, danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp, vai xã hội và từ chỉ quan hệ thân tộc (như Bumonim, Abeonim, Eomeonim, Seonsaengnim, Gwajangnim).
    • Chắp dính tiểu từ cách kính ngữ: Tiểu từ chủ cách 께서 (kkeseo) thay cho 이/가; tiểu từ tặng cách 께 (kke) thay cho 에게/한테.
    • Chắp dính đuôi từ hàng trước (선어말어미) vào vị từ: Đuôi từ -(으)시- chắp dính trực tiếp vào thân vị từ để thực hiện phép kính ngữ đề cao chủ thể.
    • Chắp dính đuôi kết thúc câu (어말어미): Hệ thống đuôi từ biểu hiện kính ngữ đối với vai tiếp nhận, phân định rõ giữa thể quy thức (như 합쇼체: -습니다/습니까) và thể phi quy thức (như 해요체: -아요/어요).
    • Chắp dính vị từ bổ trợ kính ngữ: Sử dụng các vị từ bổ trợ mang ý nghĩa đề cao như -드리다 (deurida - kính ngữ khách thể, làm gì cho ai), -주시다 (jusida), -계시다 (gyesida).
  2. Kính ngữ tiếng Hàn biểu hiện bằng phương thức thay thế từ vựng:

    • Thay thế thể từ (danh từ kính ngữ/khiêm xưng): Cặp từ đối lập thường - kính như 밥 -> 진지 (cơm), 집 -> 댁 (nhà), 말 -> 말씀 (lời nói), 나/저 (tôi/khiêm xưng), 우리/저희 (chúng tôi/khiêm xưng), 나이 -> 연세 (tuổi), 생일 -> 생신 (sinh nhật).
    • Thay thế vị từ (động từ, tính từ kính ngữ):
      • Vị từ đề cao chủ thể: 자다 -> 주무시다 (ngủ), 먹다 -> 드시다/잡수시다 (ăn), 있다 -> 계시다 (ở/có), 아프다 -> 편찮으시다 (ốm/mệt), 죽다 -> 돌아가시다 (qua đời).
      • Vị từ hạ mình / kính trọng khách thể: 주다 -> 드리다 (biếu/tặng), 묻다 -> 여쭈다/여쭙다 (hỏi/thưa), 보다 -> 뵙다/뵈다 (gặp gỡ), 데리다 -> 모시다 (đưa đón/chăm sóc).
  3. Các phương tiện biểu hiện tương đương trong tiếng Việt:

    • Tiếng Việt không có cơ chế chắp dính hình thái học mà sử dụng các phương thức từ vựng, cú pháp và ngữ dụng tương đương:
      • Hệ thống từ xưng hô thân tộc (ông, bà, cha, mẹ, bác, chú, cô, anh, chị) được xã hội hóa để xưng hô ngoài xã hội nhằm rút ngắn khoảng cách giao tiếp.
      • Sử dụng kết hợp danh từ chức danh, học hàm, học vị, nghề nghiệp (Giáo sư, Tiến sĩ, Giám đốc, Bác sĩ, Thầy giáo).
      • Tiền tố từ Hán - Việt tương đương: quý (quý khách, quý công ty, quý viện).
      • Biểu thức thưa gửi mở đầu: thưa, bẩm, kính thưa, trình, báo cáo.
      • Từ hồi đáp lịch sự: dạ, vâng, dạ thưa.
      • Tiểu từ tình thái cuối câu: ạ, nhé, nha.
      • Sử dụng trợ động từ, động từ tình thái mang tính tôn trọng: kính mời, xin phép, trân trọng.

Bảng tổng hợp tương đương giữa phương tiện kính ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt trong luận án:

Bình diện ngôn ngữ Phương tiện kính ngữ tiếng Hàn Biểu thức biểu hiện tương đương trong tiếng Việt
Phụ tố thể từ / Danh từ xưng hô Hậu tố -님 (nim), Tiền tố 귀- (Kuy-) gắn sau/trước danh từ chức vụ, thân tộc, tên riêng. Tiền tố Quý- (quý vị, quý khách); danh từ chức vụ/nghề nghiệp kết hợp danh xưng; đại từ thân tộc hóa.
Tiểu từ chỉ cách Tiểu từ chủ cách 께서 (kkeseo), tặng cách 께 (kke). Sử dụng trật tự từ ngữ cố định; trợ từ đi kèm; cách kết hợp hư từ biểu thị sự tôn kính.
Đuôi từ hàng trước ở vị từ Đuôi từ -(으)시- (-(eu)si-) gắn vào thân vị từ đề cao chủ thể. Động từ tình thái, trợ từ tôn kính (kính, xin kính, được, kính mời).
Đuôi kết thúc câu Đuôi câu kính ngữ quy thức (-습니다/습니까) và phi quy thức (-아요/어요). Tiểu từ tình thái cuối câu (ạ); các biểu thức đệm cảm thán lễ phép (nhé, ạ).
Từ mở đầu & Từ hồi đáp Các hình thức chào hỏi, dạ thưa chuẩn mực (예, 네). Biểu thức thưa gửi (kính thưa, thưa, bẩm); từ hồi đáp (dạ, vâng, dạ vâng).
Từ vựng thay thế (Thể từ) Cặp đối lập: 진지 (cơm), 댁 (nhà), 연세 (tuổi), 말씀 (lời nói), 저희 (chúng tôi). Sử dụng từ Hán-Việt trang trọng (quý thể, quý viện, cao niên, quý danh); từ khiêm xưng (chúng con, cháu, em).
Từ vựng thay thế (Vị từ) Vị từ đề cao: 주무시다, 드시다, 돌아가시다, 계시다. Vị từ khiêm hạ: 드리다, 여쭈다, 뵙다, 모시다. Sử dụng từ ngữ trang trọng, nói giảm nói tránh (dùng bữa, an nghỉ, tạ thế, bẩm báo, kính dâng, diện kiến, phụng dưỡng).

CHƯƠNG 3: SỬ DỤNG KÍNH NGỮ TRONG GIAO TIẾP TIẾNG HÀN VÀ PHƯƠNG THỨC BIỂU THỊ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT (khảo sát trong phạm vi giao tiếp gia đình)

Chương 3 tiến hành khảo sát thực chứng ngữ liệu đối thoại gia đình trong các kịch bản phim truyền hình tiêu biểu (như kịch bản phim Gia đình chồng tôi của Hàn Quốc và các phim gia đình Việt Nam), phân tích 4 cặp quan hệ liên nhân:

  1. Giao tiếp giữa cháu và ông bà:

    • Trong tiếng Hàn: Cháu luôn ở vị thế dưới tuyệt đối; sử dụng phương thức ngữ pháp bậc cao nhất gồm đuôi từ hàng trước -(으)시-, đuôi kết thúc câu quy thức 합쇼체 hoặc thân mật 해요체, kết hợp hậu tố -님 (Harabeonim, Halmeonim) và các vị từ thay thế kính trọng (진지 드시다, 주무시다).
    • Tương đương tiếng Việt: Cháu xưng hô bằng từ thân tộc cháu, gọi ông/bà, luôn sử dụng thưa gửi đầu câu (Cháu thưa ông/bà), từ hồi đáp (dạ, vâng) và tiểu từ tình thái ạ cuối câu.
  2. Giao tiếp giữa con cái và bố mẹ:

    • Trong tiếng Hàn: Khảo sát số liệu thực tế cho thấy sự dịch chuyển theo thế hệ: trước năm 1945 dùng thể quy thức nghiêm ngặt (합쇼체), trong xã hội hiện đại chuyển dịch mạnh sang thể phi quy thức thân mật (해요체) để tăng tính gần gũi nhưng vẫn duy trì bắt buộc đuôi từ -(으)시- ở vị từ để đề cao bố mẹ. Bố mẹ nói với con cái sử dụng thể hạ xưng/bình đẳng (해체, 해라체).
    • Tương đương tiếng Việt: Con cái dùng cặp xưng hô con – bố/mẹ; biểu thức kính cẩn thể hiện qua các từ chêm xen (dạ, vâng, thưa, ạ), tránh nói trống không; bố mẹ dùng từ thân tộc gọi con hoặc dùng tên riêng.
  3. Giao tiếp giữa vợ và chồng:

    • Trong tiếng Hàn: Phân hóa rõ rệt theo các giai đoạn hôn nhân:
      • Giai đoạn mới kết hôn chưa có con: Xưng hô bằng tên gọi kèm hậu tố, dùng thể 해요체.
      • Giai đoạn đã có con: Sử dụng kỹ thuật kỹ danh chuyển tiếp (teknonymy - gọi theo tên con như Aba/Appa kèm tên con), vợ gọi chồng bằng các danh từ tôn trọng như 여보 (yeobo), 당신 (dangsin), sử dụng kính ngữ 해요체 khi đối thoại trực tiếp hoặc nhắc đến chồng trước người ngoài.
    • Tương đương tiếng Việt: Vợ chồng xưng hô anh – em, mình – tôi, gọi theo tên con (bố nó, mẹ nó); vợ thể hiện sự tôn trọng chồng qua ngữ điệu, tình thái từ nhẹ nhàng và cách xưng hô chuẩn mực.
  4. Quan hệ giao tiếp giữa anh, chị và em:

    • Trong tiếng Hàn: Phân định nghiêm ngặt theo trật tự năm sinh: em luôn phải gọi anh là 형 (hyeong) / 오빠 (oppa), gọi chị là 누나 (nuna) / 언니 (eonni); em nói với anh/chị phải sử dụng thể đề cao 해요체, trong khi anh/chị nói với em dùng thể ngang hàng hoặc hạ cấp (해라체, 해체).
    • Tương đương tiếng Việt: Phân định rõ thứ bậc tôn ti: em gọi anh/chị, xưng em, sử dụng từ ngữ tôn trọng; anh chị xưng anh/chị, gọi em.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kính ngữ: Luận án đã nghiên cứu một cách có hệ thống và chuyên sâu các khía cạnh cơ bản của kính ngữ tiếng Hàn trên các phương diện hình thái học, từ vựng, ngữ nghĩa học và ngữ dụng học trong mối tương quan đối chiếu với các phương tiện biểu đạt tương đương trong tiếng Việt.
  2. Khẳng định bản chất chỉ xuất xã hội và mối quan hệ ngôn ngữ – văn hóa: Luận án củng cố luận điểm khoa học rằng kính ngữ là một bộ phận cốt lõi của phạm trù chỉ xuất xã hội (Social Deixis), đồng thời chứng minh mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời giữa ngôn ngữ và các chuẩn mực đạo đức, cấu trúc xã hội truyền thống của hai dân tộc Việt – Hàn.
  3. Mở rộng lý thuyết lịch sự: Luận án khẳng định kính ngữ là một thuộc tính nằm trong nội hàm của phạm trù lịch sự, đại diện cho phương thức biểu hiện lịch sự ở cấp độ cao; xác lập rõ cơ chế chi phối tổng hợp của 4 nhân tố (vai giao tiếp, hoàn cảnh, mục đích, chiến lược).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Ứng dụng trong giáo dục và đào tạo ngôn ngữ: Cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cao phục vụ công tác xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy tiếng Hàn chuyên ngành và đối chiếu ngôn ngữ tại các trường đại học ở Việt Nam.
  2. Hỗ trợ người học Việt Nam nâng cao năng lực giao tiếp: Giúp người học tiếng Hàn nắm bắt chuẩn xác cấu trúc và quy tắc sử dụng kính ngữ, khắc phục triệt để các lỗi giao tiếp phổ biến do chuyển di tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ hoặc do thiếu hiểu biết về văn hóa.
  3. Phục vụ công tác biên phiên dịch Hàn – Việt: Đưa ra các mô hình chuyển dịch tương đương giữa cấu trúc ngữ pháp chắp dính tiếng Hàn và các phương tiện hư từ, từ vựng, tình thái tiếng Việt, nâng cao chất lượng dịch thuật văn bản và dịch hội thoại.
  4. Hỗ trợ hòa nhập văn hóa gia đình: Giúp phụ nữ Việt Nam kết hôn với người Hàn Quốc (cô dâu Việt) hiểu và sử dụng đúng các nghi thức giao tiếp gia đình, tránh các xung đột văn hóa và rào cản ứng xử trong đời sống thường ngày.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu mà tác giả đã xác định trong văn bản, luận án chỉ tập trung khảo sát các phương tiện biểu hiện kính ngữ trên bình diện ngôn ngữ thuần túy (ngữ pháp và từ vựng thay thế), chưa nghiên cứu các yếu tố phi ngôn ngữ (như cử chỉ cúi chào, ánh mắt, khoảng cách không gian, ngữ điệu, ngữ vực). Về mặt ngữ liệu, khảo sát thực chứng trong Chương 3 mới tập trung chủ yếu vào phạm vi giao tiếp gia đình qua 6 kịch bản phim truyền hình và 6 tác phẩm văn học giai đoạn 1920 – 1945, chưa bao quát toàn bộ các bối cảnh giao tiếp hành chính, chính trị hay thương mại hiện đại.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu đối chiếu kính ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt trong các lĩnh vực giao tiếp xã hội chuyên biệt như giao tiếp công sở, đàm phán kinh doanh, ngoại giao và truyền thông đại chúng.
    • Nghiên cứu kết hợp đồng bộ giữa phương tiện ngôn ngữ và các phương tiện phi ngôn ngữ trong biểu hiện tính lịch sự và tôn kính liên văn hóa.
    • Khảo sát thực nghiệm diện rộng trên các nhóm đối tượng người Việt học tiếng Hàn ở các trình độ khác nhau để xây dựng mô hình phân tích lỗi sai chi tiết.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giảng viên và nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Ngôn ngữ học, Hàn Quốc học: Là tài liệu chuyên khảo chuyên sâu về ngôn ngữ học đối chiếu, ngữ dụng học, ngôn ngữ học xã hội và phương pháp phân tích diễn ngôn.
  • Người dạy và người học tiếng Hàn tại Việt Nam: Tham khảo chi tiết Chương 2 và Chương 3 để nắm vững hệ thống bảng biểu tương đương, phân biệt chính xác cách dùng của các dạng đuôi câu (합쇼체, 해요체), đuôi từ hàng trước -(으)시-, và các cặp từ vựng kính ngữ - khiêm từ.
  • Biên phiên dịch viên tiếng Hàn – tiếng Việt: Sử dụng hệ thống đối chiếu tương đương ở Chương 2 làm cẩm nang chuyển ngữ chính xác các sắc thái biểu cảm, tôn ti trật tự và phép lịch sự giữa hai ngôn ngữ.
  • Các tổ chức, cá nhân tham gia công tác hỗ trợ phụ nữ kết hôn di trú và giao lưu văn hóa Việt – Hàn: Ứng dụng kết quả phân tích quy tắc ứng xử gia đình tại Chương 3 vào các chương trình định hướng giáo dục tiền hôn nhân và hòa nhập văn hóa.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân loại các chức năng cơ bản của kính ngữ tiếng Hàn như thế nào?
Luận án xác lập 4 chức năng chính của kính ngữ tiếng Hàn gồm: (1) Chỉ ra mối quan hệ xã hội trên dưới giữa các vai giao tiếp; (2) Thể hiện mức độ tương thân trong mối quan hệ thân sơ giữa các nhân vật trong phát ngôn; (3) Bộc lộ phẩm chất, trình độ văn hóa và nhân cách của vai phát ngôn; (4) Thể hiện mục đích, ý định và chiến lược giao tiếp của vai phát ngôn nhằm đạt hiệu quả tương tác cao nhất.

2. Phương thức biểu hiện ngữ pháp của kính ngữ tiếng Hàn gồm những yếu tố nào?
Phương thức ngữ pháp (hình thái học) của tiếng Hàn gồm: (1) Chắp dính phụ tố vào thể từ (tiền tố 귀-, hậu tố -님); (2) Chắp dính tiểu từ chỉ cách kính ngữ (께서, 께); (3) Chắp dính đuôi từ hàng trước -(으)시- vào vị từ để đề cao chủ thể; (4) Chắp dính hệ thống đuôi kết thúc câu theo thể quy thức (합쇼체) hoặc phi quy thức (해요체) để đề cao vai tiếp nhận; (5) Chắp dính các vị từ bổ trợ kính ngữ (-드리다, -주시다, -계시다).

3. Tiếng Việt biểu đạt ý nghĩa kính ngữ tương đương bằng những phương thức nào khi không có hình thái học chắp dính?
Tiếng Việt sử dụng các phương thức từ vựng, cú pháp và ngữ dụng tương đương bao gồm: (1) Hệ thống từ xưng hô thân tộc hóa và chức danh, học vị; (2) Tiền tố Hán - Việt (quý-); (3) Biểu thức thưa gửi mở đầu (thưa, bẩm, kính thưa); (4) Từ hồi đáp lịch sự (dạ, vâng); (5) Tiểu từ tình thái cuối câu (ạ, nhé); (6) Trợ từ, trợ động từ tình thái tôn kính (kính mời, xin phép); (7) Lớp từ vựng thay thế trang trọng hoặc khiêm xưng.

4. Bốn nhân tố nào chi phối việc lựa chọn và sử dụng kính ngữ trong giao tiếp?
Bốn nhân tố được luận án phân tích gồm: (1) Vai giao tiếp và mối quan hệ liên nhân (xét theo trục dọc quyền lực/tuổi tác và trục ngang thân sơ); (2) Hoàn cảnh giao tiếp (ngữ cảnh văn hóa rộng và thoại trường hẹp: quy thức hay phi quy thức); (3) Mục đích giao tiếp; (4) Chiến lược giao tiếp lịch sự (hạ mình nâng bậc, gia đình hóa quan hệ bằng từ thân tộc, lựa chọn phương tiện bảo vệ thể diện).


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Kính ngữ tiếng Hàn và các phương tiện biểu hiện tương đương trong tiếng Việt" của tác giả Phạm Thị Ngọc là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về hệ thống kính ngữ tiếng Hàn đặt trong tương quan so sánh - đối chiếu với tiếng Việt. Bằng việc kết hợp phương pháp miêu tả, so sánh đối chiếu và phân tích diễn ngôn trên nguồn ngữ liệu kịch bản phim và văn học thực chứng, luận án đã làm sáng rõ cấu trúc hình thái, lớp từ vựng thay thế và các biểu thức tương đương giữa hai ngôn ngữ. Kết quả nghiên cứu không chỉ khẳng định vị trí của kính ngữ trong phạm trù chỉ xuất xã hội và lý thuyết lịch sự mà còn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho công tác giảng dạy tiếng Hàn, biên phiên dịch và giao tiếp liên văn hóa Việt – Hàn.