Luận án tiến sĩ về kính ngữ tiếng Hàn và các phương tiện biểu hiện tương đương trong tiếng Việt

Nghiên cứu hệ thống kính ngữ tiếng Hàn và tương đương trong tiếng Việt, phương pháp định lượng kết hợp định tính, góp phần phát triển chuyên ngành

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

293
171
13

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về kính ngữ tiếng Hàn và tiếng Việt

Kính ngữ là một phần quan trọng trong ngôn ngữ Hàn Quốc, đóng vai trò trong việc thể hiện sự tôn trọng và lịch sự trong giao tiếp. Kính ngữ tiếng Hàn không chỉ đơn thuần là một hệ thống ngữ pháp mà còn là một phần của văn hóa giao tiếp, phản ánh các giá trị xã hội và truyền thống của người Hàn Quốc. Trong khi đó, kính ngữ tiếng Việt cũng có những đặc trưng riêng, mặc dù không phong phú và phức tạp như tiếng Hàn. Việc nghiên cứu và so sánh kính ngữ tiếng Hàn với các phương tiện tương đương trong tiếng Việt giúp hiểu rõ hơn về cách mà mỗi ngôn ngữ thể hiện sự kính trọng và lịch sự trong giao tiếp. Trên thực tế, sự khác biệt trong cách sử dụng kính ngữ giữa hai ngôn ngữ này có thể dẫn đến những hiểu lầm trong giao tiếp giữa người Hàn và người Việt.

1.1 Đặc trưng của kính ngữ tiếng Hàn

Hệ thống kính ngữ tiếng Hàn rất đa dạng với nhiều phương tiện biểu hiện khác nhau như từ vựng và ngữ pháp. Các đuôi từ được sử dụng để thể hiện sự kính trọng, như ‘-님’ (nim) hay các dạng động từ thể hiện sự lịch sự. Những yếu tố này không chỉ giúp người nói thể hiện sự tôn trọng đối với người nghe mà còn thể hiện sự phân cấp trong mối quan hệ xã hội. Việc sử dụng kính ngữ đúng cách là rất quan trọng trong văn hóa giao tiếp của người Hàn Quốc, và điều này có thể gây khó khăn cho những người học tiếng Hàn, đặc biệt là người Việt Nam. Như một học giả từng nói: “Kính ngữ là cầu nối giữa các thế hệ, giữa các mối quan hệ xã hội trong văn hóa Hàn Quốc.”

1.2 So sánh với kính ngữ tiếng Việt

Trong khi kính ngữ tiếng Hàn có cấu trúc phức tạp hơn, kính ngữ tiếng Việt thường đơn giản hơn và chủ yếu dựa vào từ vựng để thể hiện sự lịch sự. Các từ chỉ chức vụ, thân tộc hay các từ ngữ tình thái như ‘thưa’, ‘bẩm’ được sử dụng để thể hiện sự tôn trọng. Tuy nhiên, sự phát triển của kính ngữ tiếng Việt cũng không kém phần quan trọng, đặc biệt trong các tình huống giao tiếp chính thức. Sự khác biệt này không chỉ phản ánh cách mà người Hàn và người Việt nhìn nhận về mối quan hệ xã hội mà còn thể hiện sự khác biệt trong văn hóa giao tiếp của hai dân tộc. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng: “Sự khác biệt trong kính ngữ giữa hai ngôn ngữ không chỉ là vấn đề ngôn ngữ mà còn là vấn đề văn hóa.”

II. Hệ thống kính ngữ trong tiếng Hàn và tiếng Việt

Hệ thống kính ngữ tiếng Hàn được xây dựng trên nền tảng ngữ pháp và từ vựng phức tạp, trong khi kính ngữ tiếng Việt có cách thể hiện đơn giản hơn. Trong tiếng Hàn, kính ngữ được thể hiện qua các hình thức như chắp dính đuôi từ và thay thế từ vựng. Hệ thống này giúp người nói thể hiện sự kính trọng một cách rõ ràng và chính xác. Ngược lại, trong tiếng Việt, kính ngữ thường được thể hiện qua cách xưng hô và các từ chỉ mức độ lịch sự. Điều này dẫn đến những khác biệt trong cách mà người nói thể hiện sự tôn trọng và lịch sự trong giao tiếp. Việc phân tích sự khác biệt này có thể giúp nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập tiếng Hàn tại Việt Nam.

2.1 Các phương tiện biểu hiện kính ngữ trong tiếng Hàn

Trong tiếng Hàn, kính ngữ được thể hiện qua nhiều phương tiện khác nhau như ngữ pháp và từ vựng. Các đuôi từ như ‘-시’ (si) hay ‘-님’ (nim) được sử dụng để thể hiện sự kính trọng trong giao tiếp. Các động từ cũng có thể thay đổi hình thức để phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp. Hệ thống này không chỉ giúp người nói thể hiện sự tôn trọng mà còn phản ánh rõ ràng mối quan hệ xã hội giữa người nói và người nghe. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng: “Sự chính xác trong việc sử dụng kính ngữ tiếng Hàn là rất cần thiết để duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa các cá nhân.”

2.2 Phương thức biểu hiện tương đương trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt, kính ngữ chủ yếu được thể hiện qua từ vựng và cách xưng hô. Các từ như ‘thưa’, ‘bẩm’ hay các danh từ chỉ chức vụ được sử dụng để thể hiện sự tôn trọng. Mặc dù không phong phú như tiếng Hàn, kính ngữ tiếng Việt vẫn giữ vai trò quan trọng trong giao tiếp. Việc hiểu rõ cách sử dụng kính ngữ trong tiếng Việt cũng giúp người học tiếng Hàn dễ dàng hơn trong việc giao tiếp với người Việt. Một nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng: “Kính ngữ trong tiếng Việt không chỉ là một phần của ngôn ngữ mà còn là một phần của văn hóa giao tiếp.”

III. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu kính ngữ

Nghiên cứu về kính ngữ tiếng Hàn và các phương tiện tương đương trong tiếng Việt không chỉ có giá trị lý luận mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Việc hiểu rõ các đặc trưng của kính ngữ sẽ giúp người học tiếng Hàn cải thiện kỹ năng giao tiếp, tránh những hiểu lầm không đáng có trong giao tiếp hàng ngày. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng có thể được ứng dụng trong việc giảng dạy tiếng Hàn tại Việt Nam, giúp giáo viên và học sinh có cái nhìn sâu sắc hơn về ngôn ngữ và văn hóa Hàn Quốc. Một chuyên gia đã khẳng định: “Nghiên cứu kính ngữ là chìa khóa để mở rộng hiểu biết về văn hóa và ngôn ngữ của một quốc gia.”

3.1 Cải thiện kỹ năng giao tiếp

Việc nghiên cứu và hiểu rõ về kính ngữ tiếng Hàn sẽ giúp người học cải thiện kỹ năng giao tiếp của mình. Họ sẽ biết cách sử dụng kính ngữ đúng cách trong các tình huống khác nhau, từ đó tạo dựng mối quan hệ tốt hơn với người Hàn Quốc. Điều này đặc biệt quan trọng trong môi trường làm việc, nơi mà sự tôn trọng và lịch sự là rất cần thiết. Như một học giả đã chỉ ra: “Kỹ năng giao tiếp tốt không chỉ giúp người học tiếng Hàn tự tin hơn mà còn giúp họ xây dựng những mối quan hệ bền vững.”

3.2 Ứng dụng trong giảng dạy

Nghiên cứu về kính ngữ tiếng Hàn cũng có thể được ứng dụng trong giảng dạy tiếng Hàn tại Việt Nam. Giáo viên có thể sử dụng các phương pháp và tài liệu từ nghiên cứu này để giúp học sinh hiểu rõ hơn về kính ngữ và cách sử dụng chúng trong giao tiếp hàng ngày. Việc này không chỉ giúp học sinh nắm vững ngôn ngữ mà còn nâng cao hiểu biết về văn hóa giao tiếp của người Hàn Quốc. Một nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng: “Giảng dạy kính ngữ là một phần không thể thiếu trong chương trình học tiếng Hàn tại Việt Nam.”

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Lịch sử nghiên cứu về ngôn ngữ lịch sự ở nước ngoài Lịch sự là một nguyên tắc không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt và văn hóa giao tiếp ở bất cứ nền văn hóa nào. Thực tế có nhiều phương thức để biểu thị tính lịch sự khác nhau trong giao tiếp hàng ngày được thể hiện qua những hành động, thái độ, phong cách, ngôn từ, lối diễn đạt, đối nhân và xử thế v.

tới những đối tượng tham gia giao tiếp theo những chuẩn mực được quy định trong văn hóa giao tiếp của mỗi dân tộc. Trong đó thể hiện lịch sự thông qua ngôn ngữ là một trong những phương thức và chiến lược giúp đạt được hiệu quả cao nhất trong giao tiếp. Kính ngữ trong một số ngôn ngữ như tiếng Trung, tiếng Nhật v. nói chung và kính ngữ tiếng Hàn nói riêng không phải là phương tiện biểu hiện tính lịch sự duy nhất thông qua ngôn ngữ bên cạnh các lối diễn đạt ngôn từ khác mang tính lịch sự như nói vòng, nói giảm, nói tránh v.

Tuy nhiên, kính ngữ lại thuộc nội hàm các phương tiện biểu thị tính lịch sự qua ngôn ngữ và được xem là một phương thức biểu đạt ngôn ngữ ở mức độ cao của lịch sự. Do đó, trước tiên chúng tôi xin được tập trung vào các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ biểu thị tính lịch sự của một số tác giả nước ngoài tiêu biểu như R.Leech và Penelop Brown và Stephen Levinson v.Lakoff [92] là người khởi đầu cho những nghiên cứu về lịch sự trong ngôn ngữ và bà là người đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này.Lakoff thì lịch sự là tôn trọng lẫn nhau và là phương tiện để giảm thiểu sự xung đột trong diễn ngôn. Bà đã đưa ra ba quy tắc về lịch sự cơ bản trong giao tiếp gồm: (1) Không áp đặt (don’t impose); (2) Để ngỏ sự lựa chọn (offer optionality); (3) Thể hiện tình bằng hữu (make other person feel good – be frienly). Cả ba quy tắc về lịch sự này của tác giả đều làm cho vai tiếp nhận cảm thấy được tôn trọng, có cảm giác thoải mái, không bị áp đặt và được tự chủ trong hành động của mình.

Ngoài ra, tác giả còn có một số các nghiên cứu khác về lịch sự trong ngôn ngữ đặt trong mối tương quan với đặc trưng của các nền văn hoá trong đó có đề cập đến sự lễ phép, lễ độ và phật lòng, phật ý trong diễn đạt ngôn ngữ.Leech [95] đưa ra lý thuyết lịch sự không dựa trên khái niệm thể diện mà dựa trên khái niệm”lợi”(benefit) và”thiệt”(cost) giữa vai phát ngôn và vai tiếp nhận do ngôn từ tạo nên. Do mức độ lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ được quyết định bởi mức độ thiệt – lợi trong phát ngôn nên vai phát ngôn phải sử dụng nguyên tắc giảm tới mức tối thiểu nhất những lối nói không lịch sự và tăng tối đa các lối nói lịch sự.Leech [95] cho rằng lịch sự là sự bù đắp những thiệt thòi, bất lợi và hao tổn do ngôn từ được sử dụng trong phát ngôn gây ra cho người tiếp nhận. Một phát 7 ngôn lịch sự hướng tới hiệu quả giao tiếp cao đòi hỏi phải có sự điều chỉnh mức lợi – thiệt để tạo được sự cân bằng xã hội và tình cảm thân thiết giữa vai phát ngôn và vai tiếp nhận. Theo Leech, mức độ lịch sự của một hành vi ngôn ngữ phụ thuộc vào ba yếu tố gồm: bản chất của hành vi ngôn ngữ đó; hình thức ngôn từ thể hiện hành vi ngôn ngữ đó và mức độ quan hệ giữa vai phát ngôn và vai tiếp nhận.

Nhìn chung, mô hình về lịch sự của G.Leech được xem là chi tiết hơn và hướng tới hiệu lực của hành vi ngôn ngữ, tư tưởng cốt lõi trong mô hình lịch sự của Brown và Levinson sẽ được đề cập ở phần dưới. Tuy nhiên, mô hình lịch sự này của G.Leech vẫn bị xem là có khoảng trống và không hoàn toàn đúng khi tác giả xem hành động ra lệnh là mất lịch sự bởi cho rằng nó mang tính áp đặt, hạn chế sự tự chủ của đối tượng tiếp nhận đồng thời xếp hành động khen, tặng vào nhóm hành động lịch sự vì nhận thấy nó mang lợi ích cho người tiếp nhận. Quan điểm này đã không thể nhận được sự đồng thuận chung trong nền văn hóa của một xã hội mà trong đó tính lịch sự bị chi phối bởi các quy tắc của văn hóa Nho giáo truyền thống như xã hội Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc Việt Nam rất trọng tôn ti, trật tự trên dưới về tuổi tác, vai vế, quyền uy, vị thế trong gia đình và ngoài xã hội. Thực tế hành động ra lệnh không phải lúc nào cũng bị xem là hành động mất lịch sự và trái lại những hành động khen, tặng có thể bị xem là không lịch sự trong những tình huống không mong muốn và không mang lại lợi ích cho đối tượng tiếp nhận.

Brown & Levinson [85, 86] là hai nhà nghiên cứu có tầm ảnh hưởng khá rộng trong nghiên cứu về lịch sự trong ngôn ngữ. Hai tác giả đã đưa ra thuyết lịch sự dựa trên khái niệm thể diện (face) của Goffman [90, tr.320] xem thể diện là hình ảnh của bản thân trước người khác (public self image). Hai nhà nghiên cứu cũng đã xây dựng mô hình lịch sự lấy thể diện làm trung tâm (face-centred politeness) ở hai khía cạnh là thể diện dương tính (positive face) và thể diện âm tính (negative face). Thể diện dương tính là mong muốn mình được người khác ủng hộ, tán thưởng, bênh vực và tôn trọng còn thể diện âm tính là mong muốn được tự do hành động và không bị người khác áp đặt.Trong giao tiếp, có nhiều hành vi ngôn ngữ có thể có nguy cơ đe dọa tới thể diện của người khác và được Brown và Levinson xem chúng là những hành vi đe dọa thể diện (Face Threatening Acts viết tắt FTAs) và chiến lược lịch sự ngôn ngữ là một phương tiện để giảm thiểu mức độ “mất thể diện”cho các đối tượng tham gia giao tiếp.

Mô hình lịch sự lấy thể diện làm trung tâm trên của hai tác giả đã đạt được nhiều thành tựu nhất định và được áp dụng rộng rãi trong nhiều các lĩnh vực khác nhau liên quan đến giao tiếp ngôn ngữ trong đó có hoạt động giảng dạy ngôn ngữ và ngoại ngữ. Tuy nhiên, thuyết lịch sự của Brown và Levinson vẫn bị cho là có những khiếm khuyết và hạn chế nhất định như quá nhấn mạnh đến mong muốn được tự chủ và mong muốn không bị áp đặt trong hành động của cá nhân mà bỏ qua yếu tố xã hội của thể diện, đặc biệt nó bị cho là có cái nhìn khá tiêu cực khi chỉ đưa ra duy nhất hành động ngôn ngữ để giảm nhẹ tính đe dọa thể diện 8 (FTAs) mà không đề cập đến hành động ngược lại có tính tích cực hơn là làm tăng giá trị thể diện được gọi là Face Flattering Actes (FFA). Các công trình nghiên cứu về lịch sự nêu trên phần lớn tập trung vào nghiên cứu các quy tắc, nguyên tắc về lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ; mối quan hệ giữa lịch sự và ngôn ngữ; các yếu tố quyết định mức độ lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ; đồng thời nhấn mạnh đến yếu tố thể diện và mất thể diện trong nghiên cứu xây dựng mô hình lịch sự. Tuy nhiên khi xem xét các góc độ của ngôn ngữ lịch sự, chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu trên vẫn chưa có sự khảo sát và nghiên cứu sâu về các phương tiện biểu hiện tính lịch sự trong đó có kính ngữ trong ngôn ngữ.

Kính ngữ là phương thức biểu thị sự kính trọng, đề cao các vai giao tiếp trong phát ngôn ở phương diện hình thái học và từ vựng trong một số các ngôn ngữ như tiếng Trung, tiếng Hàn, tiếng Nhật v. Vì vậy việc chúng tôi triển khai nghiên cứu về Kính ngữ tiếng Hàn có đối chiếu với các phương tiện biểu hiện tương đương trong tiếng Việt là cần thiết để bổ sung những hạn chế chưa được thực hiện ở các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ lịch sự trên. Lịch sử nghiên cứu về kính ngữ tiếng Nhật và tiếng Trung Trung Quốc và Nhật Bản là hai quốc gia phương Đông chịu ảnh hưởng sâu sắc của lễ giáo phong kiến ở mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có giao tiếp ngôn ngữ. Do đó, trong tiếng Trung và tiếng Nhật có một số lượng không nhỏ các biểu hiện kính ngữ hoặc biểu hiện tương đương và chúng được sử dụng trong giao tiếp mang sắc thái lịch sự.

Hoàng Anh Thi [69, 71] đã có các công trình nghiên cứu về đặc trưng lịch sự và các phương tiện biểu thị tính lịch sự trong tiếng Nhật có liên quan đến kính ngữ tiếng Nhật. Tác giả [70, 71, 73] cũng đã tiến hành khảo sát các các từ ngữ xưng hô giữa tiếng Nhật và tiếng Việt để thực hiện so sánh đối chiếu nghi thức giao tiếp giữa hai ngôn ngữ trong đó có đề cập đến kính ngữ mà tác giả xem là có phạm vi hẹp hơn ngôn ngữ lịch sự. Theo tác giả [69, tr.20-21] thì ngôn ngữ lịch sự trong tiếng Nhật bao gồm dạng kính ngữ (keigo) và dạng lịch sự của ngôn ngữ (teineigo). Do vậy, khi nói tới kính ngữ là nói tới dạng thức ngôn ngữ lịch sự riêng của tiếng Nhật còn tiếng Việt thì không có khái niệm kính ngữ-keigo như tiếng Nhật mà chỉ có phương tiện biểu đạt tương đương là ngôn ngữ lịch sự.

Tác giả cho rằng kính ngữ được sử dụng để thể hiện sự tôn kính vai trên còn dạng lịch sự của ngôn ngữ được sử dụng giao tiếp với mọi đối tượng vai trên hoặc vai dưới mà không liên quan đến quyền uy hay vị thế. Tác giả đã xếp kính ngữ nằm trên trục dọc thể hiện tôn ti, trật tự trên dưới còn dạng lịch sự nằm ở trục ngang thể hiện khoảng cách thân sơ. Tác giả cũng đã đưa ra phân tích cho rằng trong tiếng Nhật, khi giao tiếp với vai trên luôn phải giữ khoảng cách nhất định bằng dạng lịch sự của ngôn ngữ và trên cơ sở 9 đó mới cấu tạo phát ngôn kính ngữ nên dạng lịch sự vô hình trung lại trở thành cấp độ cơ sở của dạng kính ngữ như trong một số phát ngôn tiếng Nhật. Có thể nói các công trình nghiên cứu của tác giả luôn xem xét các nghi thức giao tiếp trong tiếng Nhật ít nhiều có liên quan đến kính ngữ và xem nó như một phương tiện biểu hiện lịch sự ở cấp độ cao của tiếng Nhật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về kính ngữ tiếng Hàn và các phương tiện biểu hiện tương đương trong tiếng Việt" của tác giả Phạm Thị Ngọc, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội vào năm 2018. Bài luận án này tập trung vào việc nghiên cứu kính ngữ trong tiếng Hàn và cách thức mà các phương tiện biểu hiện tương đương được sử dụng trong tiếng Việt. Tác giả không chỉ phân tích ngữ nghĩa và ngữ dụng của kính ngữ mà còn chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc về văn hóa giao tiếp của người Hàn Quốc và người Việt Nam.

Bài luận án này sẽ mang lại lợi ích cho những ai quan tâm đến ngôn ngữ học, đặc biệt là trong việc hiểu rõ hơn về các yếu tố ngữ nghĩa và văn hóa trong giao tiếp. Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh khác của ngôn ngữ, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn thạc sĩ lý thuyết và phương pháp giảng dạy tiếng anh quy nhon university undergraduate nonenglish majaors perceptions of motivational factors in learning english as a foreign language", nơi bạn có thể tìm hiểu về các yếu tố động lực trong học tiếng Anh, hay bài viết "Luận văn thạc sĩ phương pháp giảng dạy tiếng anh developing fluency in spoken english of the 10th graders via interviewing technique an action research project at a high school in bac giang province", giúp bạn khám phá các phương pháp giảng dạy tiếng Anh hiệu quả cho học sinh trung học. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức về ngôn ngữ mà còn mở rộng hiểu biết về phương pháp giảng dạy và học tập.