Tổng quan luận án
Đề tài "Câu trao - nhận trong tiếng Nhật (Đối chiếu với tiếng Việt)" do nghiên cứu sinh Đào Thị Hồng Hạnh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Việt Thanh tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (bảo vệ năm 2017, chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu, mã số: 62 22 01 10).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong tiếng Nhật, câu trao - nhận (授受文) là một dạng câu đặc biệt, phức tạp cả về cấu trúc ngữ pháp chắp dính lẫn các ràng buộc ngữ dụng tinh tế (như quan hệ liên nhân, bổn phận, sự hàm ơn, quan hệ trên - dưới, thân - sơ). Ở Việt Nam, nhu cầu tiếp nhận tiếng Nhật gia tăng song các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở một số bài báo, luận văn giới thiệu khái quát, hoặc chỉ xuất hiện trong các giáo trình dạy tiếng ở trình độ sơ cấp và trung cấp. Những tài liệu này phần lớn chỉ mô tả cấu trúc bề mặt mà chưa đi sâu vào cấu trúc nghĩa biểu hiện bề sâu, chưa lý giải bản chất của hiện tượng ngữ pháp hóa khi các động từ trao - nhận chuyển biến thành động từ bổ trợ để tạo nghĩa tình thái, và chưa có công trình nào đối chiếu toàn diện hệ thống câu trao - nhận tiếng Nhật với tiếng Việt từ góc độ người học phi bản ngữ.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ đặc điểm cấu trúc cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của câu trao - nhận tiếng Nhật từ cách tiếp cận của người phi bản ngữ; đồng thời chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt giữa câu trao - nhận tiếng Nhật với các cách biểu hiện tương đương trong tiếng Việt.
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 4 nội dung:
- Trình bày các đặc trưng cơ bản của câu trao - nhận tiếng Nhật từ bình diện kết học, nghĩa học và dụng học; tập trung khảo sát cấu trúc nghĩa biểu hiện và các nhân tố ngữ dụng chi phối sự hình thành các lớp nghĩa.
- Phân tích quá trình ngữ pháp hóa của các động từ trao - nhận dẫn tới sự thay đổi chức năng ngữ pháp từ động từ thực sang động từ bổ trợ và sự biến đổi nghĩa tình thái của câu.
- Đối chiếu câu trao - nhận tiếng Nhật với những câu có ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt nhằm phát hiện các điểm tương đồng và dị biệt trong việc tri nhận và sử dụng phương tiện ngôn ngữ biểu hiện ý nghĩa trao - nhận.
- Khảo sát thực tế chuyển dịch Nhật - Việt và Việt - Nhật trên tác phẩm văn học để dự báo lỗi sử dụng của người học Việt Nam, từ đó đề xuất biện pháp khắc phục phục vụ dạy học và dịch thuật.
Đối tượng và ngữ liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Câu trao - nhận tiếng Nhật được nhận diện bằng 7 động từ trao - nhận điển hình, gồm 5 động từ mang nghĩa "trao/cho" (
やる [yaru], あげる [ageru], さしあげる [sashiageru], くれる [kureru], くださる [kudasaru]) và 2 động từ mang nghĩa "nhận" (もらう [morau], いただく [itadaku]). Đối tượng đối chiếu trong tiếng Việt là các câu có ý nghĩa tương đương chứa vị từ mang nghĩa "trao" (cho, tặng, biếu), mang nghĩa "nhận" (nhận, được, lĩnh, hưởng, xin) và nhóm câu có từ biểu thị sự trợ giúp (cho, hộ, giúp, giùm).
- Ngữ liệu nghiên cứu: Bao gồm các câu tiếng Nhật trích từ tác phẩm văn học hiện đại Nhật Bản (ký hiệu: N), sách giáo khoa và tài liệu giảng dạy tiếng Nhật (ký hiệu: S), từ điển mẫu câu và hội thoại giao tiếp hàng ngày; ngữ liệu đối chiếu tiếng Việt trích từ tác phẩm văn học Việt Nam (ký hiệu: V) và các tác phẩm văn học Nhật Bản đã dịch sang tiếng Việt (ký hiệu: VD).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu của các học giả Nhật Bản
- Về bình diện cấu trúc: Yamaoka Seiki (1993, 2008) đã khái quát hóa các mô hình cấu trúc của câu trao - nhận khi động từ giữ vai trò động từ thực và khi giữ vai trò động từ bổ trợ, đồng thời phân tích vai trò của phân từ ngữ pháp đánh dấu người thụ hưởng.
- Về bình diện ngữ nghĩa: Hidaka (2007) phân biệt nhóm 7 động từ trao - nhận điển hình với các động từ chuyển dịch khác (mua - bán, vay - mượn, gửi - giữ). Ijima (1997) và Yamaoka (2008) xác định cấu trúc nghĩa của câu trao - nhận là cấu trúc đa tầng (chuyển dịch không gian và tính lợi ích). Mastushita (1930), Toyota (1974), Masuoka (2001), Yamada (2004) đi sâu vào sắc thái "ơn huệ" và mức độ lợi ích. Harata (2006) khảo sát kết cấu
~Vてくれる [Vte kureru] chỉ trạng thái/kết quả và mở rộng chủ ngữ là danh từ trừu tượng/bất động vật. Suchiwaro (2008) phân loại kết cấu ~Vてもらう [Vte morau] thành 4 dạng câu: nhờ vả, chỉ thị, nguyện vọng, xin phép. Seto (2010) phân tích câu sai khiến chứa ~Vてもらう qua 3 lớp nghĩa: ơn huệ, xin phép, khiêm nhường.
- Về bình diện ngữ dụng: Temura (1987, 2005) nghiên cứu vai trò của góc nhìn người nói và tính có hướng của động từ (
やる, あげる hướng ra xa như 行く [iku]; くれる, くださる hướng về người nói như 来る [kuru]), chứng minh tính có hướng cản trở khả năng chuyển đổi sang câu bị động. Yamamoto (2003) phân tích 3 nhân tố cấu thành ý nghĩa trao - nhận và các trường hợp phái sinh. Kanekubo (1993) và Hashimoto (2001) nghiên cứu nguyên tắc lịch sự, giảm thấp vị trí người nói hoặc nâng cao vị thế đối tác. Yokokura (2012) phân tích "tính chi phối" và cơ chế điều chỉnh khoảng cách cá nhân.
Các hướng nghiên cứu của các học giả Việt Nam
- Nguyễn Kim Thản (1977) là người đầu tiên xếp nhóm này vào nhóm động từ "phát nhận". Các nghiên cứu của Cao Xuân Hạo (1991), Hoàng Trọng Phiến (2008), Nguyễn Đức Tồn (1998), Nguyễn Văn Hiệp (2012) khảo sát các vị từ trao nhận trong cấu trúc ngữ pháp chung của tiếng Việt.
- Nguyễn Thị Quy (1995) mô hình hóa cấu trúc tham tố của vị từ hành động ba diễn tố quanh từ cho.
- Lâm Quang Đông (2004, 2008) phân tích chuyên sâu cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu có vị từ trao/tặng trong tiếng Anh và tiếng Việt, xác lập 4 lớp nghĩa (kiểm soát - sở hữu, không gian - động, lợi ích, quyền lực) và 3 diễn tố.
- Nguyễn Đức Tồn (1998) và Chử Thị Bích (2006) khảo sát sự khác biệt về sắc thái ngữ nghĩa, vị thế giao tiếp, lứa tuổi và giá trị vật trao trong nhóm từ đồng nghĩa cho, biếu, tặng, thưởng, hiến, thí.
- Trần Thị Nhàn (2004) tiếp cận hiện tượng ngữ pháp hóa chuyển từ thực từ sang hư từ trong tiếng Việt (cho, được, mất, đi, đến...).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Luận án tập trung giải quyết khoảng trống về việc nghiên cứu đối chiếu hệ thống câu trao - nhận tiếng Nhật và các cách diễn đạt tương đương trong tiếng Việt trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học; phân tích cơ chế ngữ pháp hóa của động từ trao - nhận qua các nấc thang biến đổi; đồng thời kết hợp phân tích định lượng ngữ liệu dịch thuật văn học để phát hiện lỗi ngữ dụng thực tế của người học Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Cấu trúc nghĩa biểu hiện và cấu trúc vị từ - tham thể: Luận án tiếp thu quan điểm của Cao Xuân Hạo về nghĩa đa tầng của câu; lý thuyết khung vị ngữ - tham tố của L. Tesnière; hệ thống cách ngữ nghĩa của Ch. Fillmore (Agentive, Instrumental, Dative, Factitive, Locative, Objective); mở rộng vai nghĩa của W. Chafe (nghiệm thể, người hưởng lợi, người chịu đựng), M.A.K. Halliday, S.C. Dik và bảng 22 vai nghĩa do Nguyễn Thiện Giáp tổng hợp; mô hình phân tích cấu trúc nghĩa biểu hiện với 4 lớp nghĩa của Lâm Quang Đông.
- Lý thuyết ngữ pháp hóa: Dựa trên quan điểm của Hopper và Traugott về "chuỗi liên tục" (cline of grammaticality: Đơn vị nội dung > Từ ngữ pháp > Yếu tố ràng buộc > Phụ tố), tính một hướng (unidirectionality), quá trình hư hóa (desemanticization/bleaching/loss), cùng các cơ chế "phân tích lại" (reanalysis) và "loại suy" (analogy). Luận án cũng vận dụng các công trình nghiên cứu ngữ pháp hóa tiếng Nhật của Matsumoto (1988), Ohori (1988), Ono (1992), Suzuki (1998), Hiya (2001), Onodera (2004) về hiện tượng trợ từ hóa (助詞化) và trợ động từ hóa (助動詞化).
- Lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu và dịch thuật: Luận án áp dụng các nguyên tắc đối chiếu của James (1980), Lê Quang Thiêm (2004), Bùi Mạnh Hùng (2008) theo phương pháp đối chiếu một chiều và hai chiều; kết hợp các quan điểm dịch thuật và phạm trù tương đương dịch thuật của J.C. Catford (1965), W. Wilss (1982), G. Mounin, Hoàng Văn Vân, Vũ Văn Đại, Nguyễn Hồng Cổn, Lê Hùng Tiến.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng: Phân tích các thành tố nghĩa, ngữ cảnh, vai nghĩa và ý định giao tiếp, kết hợp các thủ pháp cải biến, thay thế để làm sáng tỏ các lớp nghĩa sâu.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Đối chiếu cấu trúc cú pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng giữa tiếng Nhật (ngôn ngữ chắp dính) và tiếng Việt (ngôn ngữ đơn lập).
- Phương pháp đối chiếu dịch thuật: So sánh văn bản nguồn tiếng Nhật và văn bản dịch tiếng Việt để phân loại cách chuyển dịch và đánh giá mức độ tương đương.
- Thủ pháp thống kê: Thu thập và xử lý định lượng tần suất xuất hiện của các kết cấu và phương thức chuyển dịch trong tư liệu khảo sát.
Nguồn tư liệu
Ngữ liệu được trích xuất từ các tác phẩm văn học Nhật Bản hiện đại và bản dịch tiếng Việt, các giáo trình chuẩn dạy tiếng Nhật (Minna no Nihongo, giáo trình ngữ pháp), từ điển mẫu câu, cùng ngữ liệu văn học Việt Nam và khẩu ngữ giao tiếp thực tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu về câu trao - nhận trong Nhật ngữ học và Việt ngữ học. Tác giả phân tích cách nhận diện câu trong tiếng Nhật theo cấu trúc cú pháp - ngữ nghĩa của Temura (1982), xếp câu trao - nhận vào nhóm câu miêu tả sự tình hành động thể hiện sự tương tác giữa hai đối tượng.
Chương này xác lập tiêu chí nhận diện câu trao - nhận tiếng Nhật dựa trên 7 động từ trao - nhận cốt lõi và phân chia thành hai loại hình cú pháp: câu trao - nhận trực tiếp (động từ trao - nhận làm vị ngữ chính) và câu trao - nhận gián tiếp (động từ trao - nhận làm động từ bổ trợ). Đồng thời, chương 1 xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về cấu trúc vị từ - tham thể, các vai nghĩa, các thuộc tính của quá trình ngữ pháp hóa và các nguyên tắc đối chiếu - dịch thuật.
Chương 2: Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu có động từ trao - nhận làm vị ngữ trong tiếng Nhật
Chương 2 tập trung phân tích cấu trúc nghĩa biểu hiện của nhóm câu trao - nhận trực tiếp (khi 7 động từ trao - nhận đóng vai trò vị ngữ chính).
Tác giả dẫn dụng bảng phân biệt nghĩa của Hidaka (2007) để chỉ rõ ranh giới ngữ nghĩa giữa nhóm 7 động từ trao - nhận và các động từ chuyển dịch khác:
| STT |
Động từ |
Nét nghĩa "chuyển quyền sở hữu" |
Nét nghĩa "chuyển quyền sử dụng" |
Nét nghĩa "đòi hỏi bồi thường/đền bù" |
| 1 |
Nhóm 7 động từ trao - nhận |
+ |
+ |
- |
| 2 |
Mua - bán |
+ |
+ |
+ |
| 3 |
Vay - cho vay |
- |
+ |
/ |
| 4 |
Gửi - giữ |
- |
- |
/ |
Luận án xác lập 6 lớp nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu trao - nhận tiếng Nhật:
- Lớp nghĩa kiểm soát - sở hữu: Diễn tả việc chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát vật thể từ người trao sang người nhận.
- Lớp nghĩa lợi ích: Thể hiện việc hành vi mang lại lợi ích thực tế hoặc tinh thần cho đối tượng tiếp nhận (đắc lợi thể).
- Lớp nghĩa không gian - động: Thể hiện sự chuyển dịch có hướng của vật từ điểm xuất phát (nguồn) đến điểm kết thúc (đích).
- Lớp nghĩa ơn huệ: Thể hiện thái độ biết ơn, hàm ơn hoặc sự chiếu cố, ban ơn giữa các bên tham gia sự tình.
- Lớp nghĩa quyền lực: Phản ánh trật tự xã hội, tuổi tác, địa vị theo trục hướng thượng (suspectus), hướng hạ (despectus) hoặc trung hòa (neutral).
- Lớp nghĩa phân biệt thân - sơ (trong - ngoài / uchi - soto): Quy định việc lựa chọn động từ dựa trên ranh giới người nói tự quy ước (nhóm mình vs nhóm người khác).
Về các vai nghĩa và diễn tố, chương 2 tổng hợp sự tương ứng giữa các lớp nghĩa và 3 diễn tố:
| Lớp nghĩa |
Diễn tố 1 (Người trao) |
Diễn tố 2 (Người nhận) |
Diễn tố 3 (Vật trao - nhận) |
| Kiểm soát - sở hữu |
Người kiểm soát / Tác thể / Nguồn |
Tiếp thể / Chủ sở hữu / Nghiệm thể |
Đối thể |
| Không gian - động |
Tác thể / Nguồn / Địa điểm |
Tiếp thể / Đích / Địa điểm |
Đối thể |
| Lợi ích |
Người làm ơn / Tác thể |
Đắc lợi thể / Thụ thể |
Đối thể / Tạo thể |
| Quyền lực |
[Quyền uy] / [Tuổi tác] / [Vị thế] / [Thân tộc] |
[Quyền uy] / [Tuổi tác] / [Vị thế] / [Thân tộc] |
Đối thể |
Chương này cũng phân tích sự hiện thực hóa cấu trúc câu khi xuất hiện đủ 3 diễn tố hoặc rút gọn (< 3 diễn tố), cùng ba nhân tố ngữ dụng chi phối: góc nhìn của người nói (視点), sự đối lập tôn ti trên - dưới, và sự đối lập ranh giới trong - ngoài (uchi - soto).
Chương 3: Câu tiếng Nhật có động từ trao - nhận làm động từ bổ trợ (nhìn từ góc độ ngữ pháp hóa)
Chương 3 khảo sát câu trao - nhận gián tiếp, nơi các động từ trao - nhận kết hợp sau dạng ~て [~te] của động từ thực để trở thành động từ bổ trợ mang nghĩa tình thái. Dưới góc độ ngữ pháp hóa, động từ trao - nhận dần mất đi ý nghĩa từ vựng chuyển dời vật thể cụ thể và chuyển hóa thành các chỉ tố tình thái.
Luận án chỉ ra 3 mức độ của quá trình ngữ pháp hóa:
- Mức độ thứ nhất: Động từ bổ trợ bắt đầu suy giảm nghĩa từ vựng chuyển dời cơ học, chuyển sang biểu thị hành động do chủ thể thực hiện nhằm mang lại lợi ích cho người tiếp nhận (như trong kết cấu
~Vてやる, ~Vてあげる).
- Mức độ thứ hai: Tính từ vựng tiếp tục bị mờ hóa, câu gia tăng tính trừu tượng và tính tình thái chủ quan; thể hiện sâu sắc thái độ ơn huệ, sự hàm ơn, tâm lý cảm kích hoặc khiêm nhường (như trong
~Vてくれる, ~Vてもらう).
- Mức độ thứ ba: Quá trình ngữ pháp hóa đạt mức độ chuyên biệt hóa cao; động từ bổ trợ mất hoàn toàn nghĩa từ vựng gốc, trở thành các kết cấu ngữ pháp cố định hóa đảm nhiệm chức năng tạo hành vi ngôn ngữ chuyên biệt:
- Dạng thức câu nhờ vả:
~てください [~te kudasai], ~てもらえませんか [~te moraemasen ka]...
- Dạng thức câu xin phép:
~させてください [~sasete kudasai], ~させてもらう [~sasete morau]...
Chương 4: Đối chiếu câu trao - nhận trong tiếng Nhật và câu có ý nghĩa tương đương trong tiếng Việt
Chương 4 thực hiện đối chiếu hệ thống câu trao - nhận giữa hai ngôn ngữ:
- Câu có động từ trao - nhận làm vị ngữ: Tiếng Nhật bắt buộc phân chia động từ theo hướng chuyển dịch và quan hệ tôn ti/thân sơ (
あげる vs くれる vs もらう), trong khi tiếng Việt sử dụng các vị từ độc lập để thể hiện thái độ và quan hệ xã hội (cho, biếu, tặng, dâng, hiến hoặc nhận, lĩnh, xin, được, hưởng).
- Câu có động từ bổ trợ: Tiếng Nhật sử dụng hệ thống động từ bổ trợ đi sau động từ chính (
~Vてあげる, ~Vてくれる, ~Vてもらう) gắn liền với phạm trù ơn huệ; tiếng Việt sử dụng các từ chỉ sự trợ giúp đi kèm (cho, hộ, giúp, giùm) hoặc các kết cấu bị động/tiếp nhận (được... làm cho).
Dựa trên kết quả khảo sát chuyển dịch tác phẩm văn học Nhật - Việt, tác giả thống kê các mô hình chuyển dịch tương đương và phân tích các lệch pha ngữ nghĩa - ngữ dụng. Từ đó, chương 4 chỉ ra các lỗi điển hình của người học Việt Nam:
- Lỗi xác lập góc nhìn (nhầm lẫn giữa
あげる và くれる).
- Lỗi vi phạm ranh giới trong - ngoài (uchi - soto) khi chọn sai động từ đối với người trong gia đình hoặc cơ quan.
- Lỗi lạm dụng kết cấu
~Vてあげる trong giao tiếp trực diện gây cảm giác ban ơn, kẻ cả, làm mất lịch sự.
- Lỗi áp đặt trật tự cú pháp tiếng Việt vào cấu trúc có trợ từ đánh dấu của tiếng Nhật.
Chương này đưa ra hệ thống bài tập và giải pháp giảng dạy nhằm khắc phục các lỗi trên.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Cung cấp một mô tả toàn diện, có hệ thống về câu trao - nhận trong tiếng Nhật ở cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học, bao quát cả hai dạng thức: câu có động từ trao - nhận làm vị ngữ và câu có động từ trao - nhận làm động từ bổ trợ.
- Ứng dụng lý thuyết ngữ pháp hóa để phân kỳ và giải thích bản chất 3 mức độ chuyển hóa từ động từ thực mang nghĩa chuyển dời vật thể sang động từ bổ trợ mang nghĩa tình thái và các biểu thức cố định hóa trong tiếng Nhật.
- Xác lập khung phân tích đối chiếu cấu trúc nghĩa biểu hiện (gồm 6 lớp nghĩa và 3 diễn tố) giữa một ngôn ngữ thuộc loại hình chắp dính (tiếng Nhật) và một ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập (tiếng Việt).
Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị
- Cung cấp nguồn tư liệu học thuật và ngữ liệu thực tế phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ học so sánh đối chiếu, giảng dạy tiếng Nhật cho người Việt Nam và giảng dạy tiếng Việt cho người Nhật Bản.
- Dự báo chính xác các lỗi sai ngữ dụng phổ biến của người học Việt Nam liên quan đến góc nhìn, quan hệ tôn ti, ranh giới uchi - soto, và cảm thức ơn huệ; đề xuất các giải pháp khắc phục cụ thể trong phương pháp giảng dạy.
- Đóng góp luận cứ cho việc biên soạn giáo trình ngữ pháp tiếng Nhật chuyên sâu, từ điển mẫu câu và nâng cao chất lượng dịch thuật văn học, dịch thuật chuyên ngành Nhật - Việt.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi 7 động từ trao - nhận điển hình; nguồn ngữ liệu khảo sát chuyển dịch chủ yếu dựa trên các tác phẩm văn học hiện đại và giáo trình dạy tiếng, chưa mở rộng khảo sát khối ngữ liệu quy mô lớn (corpus) đa phong cách hoặc khẩu ngữ giao tiếp thực tế ở nhiều vùng miền/phương ngữ tiếng Nhật khác nhau.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu hiện tượng ngữ pháp hóa của các nhóm động từ bổ trợ khác trong tiếng Nhật; nghiên cứu đối chiếu câu trao - nhận tiếng Nhật với các ngôn ngữ khác trong khu vực; khảo sát ngữ dụng học liên văn hóa về hành vi trao - nhận trong giao tiếp kinh doanh và ngoại giao Nhật - Việt.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo về việc vận dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng, lý thuyết vai nghĩa, cấu trúc nghĩa biểu hiện và lý thuyết ngữ pháp hóa vào nghiên cứu ngôn ngữ cụ thể và nghiên cứu đối chiếu.
- Đối với giảng viên và người học tiếng Nhật: Cung cấp hệ thống giải thích bản chất ngữ nghĩa - ngữ dụng của câu trao - nhận ở cấu trúc sâu (Chương 2 và Chương 3), giúp người học vượt qua các rào cản về góc nhìn người nói, kính ngữ và ranh giới uchi - soto.
- Đối với dịch thuật viên: Phần khảo sát đối chiếu chuyển dịch Nhật - Việt (Chương 4) cung cấp các giải pháp chuyển ngữ tương đương, tránh lối dịch thô vụng hoặc sai lệch sắc thái biểu cảm và mức độ lịch sự.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định những động từ nào thuộc nhóm động từ trao - nhận điển hình trong tiếng Nhật?
Luận án xác định 7 động từ trao - nhận điển hình gồm:
- 5 động từ mang nghĩa "trao/cho":
やる [yaru], あげる [ageru], さしあげる [sashiageru], くれる [kureru], くださる [kudasaru].
- 2 động từ mang nghĩa "nhận":
もらう [morau], いただく [itadaku].
2. Theo Hidaka (2007) được luận án dẫn dụng, điểm khác biệt giữa 7 động từ trao - nhận với các động từ chuyển dịch khác là gì?
Điểm khác biệt căn bản là cả 7 động từ trao - nhận và nhóm động từ mua - bán đều mang nét nghĩa "chuyển quyền sở hữu" (+) và "chuyển quyền sử dụng" (+). Tuy nhiên, nhóm 7 động từ trao - nhận không đòi hỏi sự đền bù/bồi thường (-), trong khi nhóm động từ mua - bán bắt buộc phải có sự đền bù/bồi thường (+). Các nhóm vay - cho vay hoặc gửi - giữ thì không có nét nghĩa chuyển quyền sở hữu (-).
3. Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu trao - nhận tiếng Nhật gồm những lớp nghĩa nào?
Cấu trúc nghĩa biểu hiện gồm 6 lớp nghĩa: (1) Lớp nghĩa kiểm soát - sở hữu; (2) Lớp nghĩa lợi ích; (3) Lớp nghĩa không gian - động; (4) Lớp nghĩa ơn huệ; (5) Lớp nghĩa quyền lực; (6) Lớp nghĩa phân biệt thân - sơ (cùng nhóm - khác nhóm / uchi - soto).
4. Vì sao người Nhật thường hạn chế dùng kết cấu ~Vてあげる [Vte ageru] khi nói trực tiếp với người nghe?
Kết cấu ~Vてあげる mang đậm sắc thái chủ quan về việc người nói làm ơn, ban phát lợi ích cho đối phương. Do đó, khi sử dụng trực tiếp với người nghe (đặc biệt là người có vị thế ngang bằng hoặc cao hơn), kết cấu này dễ tạo ấn tượng kẻ cả, ban ơn và có thể phá vỡ mối quan hệ giao tiếp tế nhị. Người Nhật thường chuyển sang dùng câu sai khiến kết hợp ~Vてもらう [Vte morau] hoặc các dạng thức xin phép, khiêm nhường khác để biểu thị thái độ lịch sự.
5. Quá trình ngữ pháp hóa của động từ trao - nhận trong tiếng Nhật trải qua những mức độ nào?
Quá trình này gồm 3 mức độ:
- Mức độ 1: Động từ bổ trợ bắt đầu mất nghĩa từ vựng cơ học, biểu thị hành động đem lại lợi ích cho người tiếp nhận.
- Mức độ 2: Mờ hóa ý nghĩa từ vựng, gia tăng tính trừu tượng, chuyển sang biểu thị ý nghĩa tình thái ơn huệ, cảm kích, nguyện vọng.
- Mức độ 3: Ngữ pháp hóa hoàn toàn thành các kết cấu cố định tạo lập hành vi ngôn ngữ như câu nhờ vả (
~てください) và câu xin phép (~させてください, ~させてもらう).
Kết luận
Luận án "Câu trao - nhận trong tiếng Nhật (Đối chiếu với tiếng Việt)" của Đào Thị Hồng Hạnh là công trình nghiên cứu toàn diện về câu trao - nhận trên cả ba bình diện kết học, nghĩa học và dụng học. Tác giả đã mô hình hóa thành công cấu trúc nghĩa biểu hiện 6 lớp nghĩa của câu trao - nhận tiếng Nhật và làm rõ cơ chế 3 mức độ ngữ pháp hóa của động từ trao - nhận khi chuyển biến thành động từ bổ trợ. Kết quả đối chiếu với tiếng Việt cùng các dữ liệu khảo sát dịch thuật văn học đã chỉ ra những tương đồng, dị biệt loại hình và dự báo các lỗi ngữ dụng tinh tế của người học phi bản ngữ. Công trình có giá trị khoa học vững chắc và mang lại ý nghĩa ứng dụng thiết thực cho công tác nghiên cứu ngôn ngữ, giảng dạy tiếng Nhật và dịch thuật Nhật - Việt.