phần Mở đầu và Kết luận, luận án đƣợc cấu tạo gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chƣơng 2: Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu trao - nhận có động từ trao - nhận làm vị ngữ trong tiếng Nhật Chƣơng 3: Câu tiếng Nhật có động từ trao - nhận làm động từ bổ trợ (nhìn từ góc độ ngữ pháp hóa) Chƣơng 4: Đối chiếu câu trao - nhận trong tiếng Nhật và câu có ý nghĩa tƣơng đƣơng trong tiếng Việt 5 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nhận diện câu trao - nhận trong tiếng Nhật 1. Câu trao - nhận trong hệ thống phân loại câu chung Trong tiếng Nhật, CTN (授受文) thƣờng đƣợc đề cập tới nhƣ một cách diễn đạt (表 現) phổ biến, song cũng rất đặc biệt không chỉ bởi ý nghĩa mà chúng thể hiện mà còn bởi tính phức tạp, tinh tế trong mối quan hệ giữa những ngƣời tham gia sự tình bị chế định bởi điều kiện sử dụng, bởi những giá trị ngữ dụng xã hội bề sâu và bởi cả những đặc điểm tƣ duy mang tính đặc trƣng của ngƣời Nhật.
Trong hoạt động ngôn ngữ, hành động trao - nhận thƣờng đƣợc thể hiện dƣới dạng thức của câu có động từ mang ý nghĩa trao hoặc nhận. Với tƣ cách là một trong các dạng câu của tiếng Nhật, CTN luôn đáp ứng các tiêu chí chung về đơn vị câu - đơn vị hết sức cơ bản của ngôn ngữ. Câu trong tiếng Nhật, cũng nhƣ ở mọi ngôn ngữ, là một đơn vị với chức năng nổi bật, mang tính khu biệt so với các đơn vị ở các cấp độ khác là chức năng thông báo. Trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ học Nhật Bản, đơn vị này luôn dành đƣợc nhiều sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, song mỗi ngƣời từ góc độ riêng của mình đƣa ra những định nghĩa thể hiện các cách nhận diện riêng.
Có những nhà nghiên cứu thuần túy xuất phát từ góc độ ngữ âm khi nhận diện câu, nhƣ Hashimoto (1948) đã đƣa ra đinh ̣ nghiã : “Câu là một chuỗi âm thanh liên tục , đầ u câu và cuố i cấ u có dấ u hiê ̣u kế t thúc ngữ âm và cuố i câu bao g iờ cũng có sự tham gia của âm điê ̣u đặc thù .” [dẫn theo131, tập I, tr. Cũng có những trƣờng phái nghiên cứu hoàn toàn dựa trên đặc trƣng về mặt ngữ nghĩa của câu, nhƣ Eichi (1976) coi câu là “đơn vi ̣ cơ bản nhấ t có chức năng thể hiê ̣n phá n đoán, thái độ, tình cảm của chủ thể ngôn ngữ ” [dẫn theo131, tập I, tr. Một nhà nghiên cứu khác là Yamada cũng cùng cách tiếp cận khi cho rằ ng : “Câu là một hình thức ngôn ngữ biểu hiê ̣n một tư tưởng thố ng nhấ t ” [dẫn theo131, tập I, tr. Khuynh hƣớng thứ ba, không kém phổ biến khi nhận diện câu hoàn toàn dựa trên tiêu chí về cấu trúc với những đặc điểm tiêu biểu của ngôn ngữ thuộc loại hình chắp dính, sự phân chia chức năng ngữ pháp của từng bộ phận có thể kết dính với nhau một cách khá cơ động, trong đó sự có mặt của động từ ở cuối câu là điều kiện quan trọng nhất đảm bảo sự tồn tại của một câu.
Bên cạnh đó, việc sử dụng đồng thời các tiêu chí để xem xét đơn vị câu 6 z cũng đƣợc một số ngƣời đề xuất. Temura (1982), một trong những nhà ngôn ngữ theo cách tiếp cận này cho rằng đố i với mô ̣t ngôn ngƣ̃ nhƣ tiế ng Nhâ ̣t , mô ̣t phát thoại nếu đặt trong một ngữ cảnh nhất định thì chỉ cần thỏa mãn ho ặc điề u kiê ̣n về hình thức , hoặc điề u kiê ̣n về nghiã đã đƣơ ̣c coi là mô ̣ t câu. Nhƣng nế u tách hoàn toàn khỏi ngữ cảnh thì một phát thoại phải thỏa mãn đầy đủ cả các điều kiện về hình thƣ́c, cấu trúc và nghiã mới có đƣơ ̣c coi là mô ̣t câu đúng. Theo quan điểm của các nhà ngữ pháp học hiện đại Nhật Bản nhƣ Masuoka và Takubo thì “Câu là một đơn vị ngôn ngữ chứa đựng một nội dung nhất định và được đánh dấu bằng dấu chấm câu để thể hiện sự hoàn chỉnh về mặt hình thức”.2] Với các cách tiếp cận không hoàn toàn giống nhau đối với đơn vị câu, các nhà nghiên cứu cũng đƣa ra một số cách phân loại câu trong tiếng Nhật.
Bên cạnh các cách phân loại theo mục đích phát ngôn, theo cấu trúc, theo nghĩa của động từ vốn xuất hiện phổ biến tại các sách giáo khoa tiếng Nhật (sách dạy cho ngƣời nƣớc ngoài và ngƣời Nhật), cách phân loại câu theo cú pháp dựa trên cơ sở ngữ nghĩa của Temura (1982) đƣợc nhiều ngƣời chú ý. Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa ngữ nghĩa và cú pháp trong tiếng Nhật, Temura đã đề cập đến vai trò của phân từ ngữ pháp (PTNP) đối với một ngôn ngữ thuộc loại hình chắp dính nhƣ tiếng Nhật. Sự tình của câu đƣợc biểu hiện thông qua vị ngữ hoặc sự kết hợp giữa vị ngữ và bổ ngữ. Căn cứ vào việc sử dụng PTNP có thể nhận biết đƣợc quan hệ của danh từ với vị từ, qua đó phân biệt cấu trúc cú pháp thể hiện nghĩa sự tình của câu.
Với cách phân loại này, Temura đã đƣa ra 5 loại câu thể hiện 5 kiểu sự tình với cấu trúc cú pháp khác nhau. Loại thứ nhất: Câu miêu tả một sự tình hành động, đƣợc chia làm 5 tiểu loại: - Câu diễn tả hành động của 2 đối tƣợng: Đây là loại câu diễn tả sự tác động, sự hƣớng tới của một đối tƣợng tới đối tƣợng khác, hoặc diễn tả sự tác động qua lại của hai đối tƣợng. Loại câu này bao gồm câu có các động từ nhƣ: 投げる[nageru] (ném) 見 る[miru] (nhìn, xem), 賛成[sansei] (tán thành), 似る[niru] (giống), 会う[au] (gặp gỡ), 喧嘩する[kenkasuru] (cãi nhau, đánh nhau), 結婚する[kekkonsuru] (kết hôn)… - Câu chuyển động và biến hóa: Tiểu loại câu này bao gồm các câu diễn tả sự chuyển động dời khỏi điểm xuất phát, chuyển động hƣớng tới điểm đích hoặc sự thay đổi trạng thái của chủ thể với sự có mặt của các động từ nhƣ: 出る [deru] (ra khỏi), 通 る[tooru] (đi qua), 乗る[noru] (lên tàu xe), なる [naru] (trở nên, trở thành)… 7 z - Câu diễn tả hành động của một đối tƣợng tác động lên một đối tƣợng khác khiến đối tƣợng này thay đổi vị trí ban đầu. Các động từ tham gia cấu tạo dạng câu này gồm: 入れる[ireru] (cho vào), 乗せる[noseru] (cho lên)… - Câu thể hiện sự tƣơng tác giữa hai đối tƣợng: Loại câu này bao gồm hai dạng câu: câu diễn đạt ý nghĩa trao - nhận và câu thể hiện yêu cầu, đề nghị, mệnh lệnh.
Câu diễn đạt ý nghĩa trao - nhận bao gồm các câu có động từ mang ý nghĩa trao nhƣ: 与える[ataeru] (trao), 教える[oshieru] (dạy), 見せる[miseru] (cho xem), 紹介する[shoukaisuru] (giới thiệu), やる[yaru] (cho), あげる[ageru] (cho, biếu, tặng).và các câu có động từ mang nghĩa nhận nhƣ: 受ける[ukeru] (nhận), 習う [narau] (học), 買う[kau] (mua), 借りる[kariru] (vay, mượn), 預かる[azukaru] (giữ). Câu thể hiện yêu cầu, đề nghị, mệnh lệnh của đối tƣợng này đối với đối tƣợng khác là loại câu có các động từ nhƣ: 命令する[meireisuru] (ra lệnh), 要求する [youkyuusuru] (yêu cầu), 頼む[tanomu] (nhờ vả), 勧める[susumeru] (khuyên). Loại thứ hai: Là loại câu miêu tả tình cảm với 2 tiểu loại, phân biệt nhau theo từ loại của vị ngữ là động từ hay tính từ. - Câu miêu tả tình cảm với động từ làm vị ngữ gồm câu có các động từ nhƣ: 泣 く[naku] (khóc), 驚く[odoroku] (ngạc nhiên), 楽しむ[tanoshimu] (vui), 悲しむ [kanashimu] (buồn).
- Câu miêu tả tình cảm với vị ngữ là tính từ: Dạng câu này thƣờng bao gồm các tính từ làm vị ngữ nhƣ: 怖い[kowai] (sợ), 懐かしい[natsukashi] (nhớ nhà), 楽しい [tanoshii] (vui), うらやましい[urayamashii] (sướng). Loại thứ ba: Là loại câu miêu tả sự tồn tại, đƣợc chia thành 4 tiểu loại nhỏ: - Câu miêu tả sự tồn tại của một sự kiện 昨日 地震があった。(Hôm qua có động đất.) - Câu miêu tả sự tồn tại của ngƣời hay vật tại một thời điểm, trong một không gian nào đó 机の上に本がある。(Trên bàn có sách.) - Câu tồn tại sở hữu あの人は免許証がありますか。(Người kia có bằng lái xe không?) - Câu biểu thị sự tồn tại của một bộ phận hay một nhóm nào đó 8 z なにか質問したい人はありませんか。(Có ai muốn hỏi gì không? ) Loại thứ tƣ: Câu miêu tả tính chất và trạng thái với 3 tiểu loại, dựa trên đặc điểm của tính chất hay trạng thái đƣợc miêu tả trong câu. - Câu miêu tả đặc điểm, tính chất, trạng thái của đối tƣợng (ngƣời hoặc vật) về một phƣơng diện cụ thể nào đó 私はその結果に満足だ。(Tôi hài lòng với kết quả đó.) - Câu miêu tả đặc điểm đặc, tính chất, trạng thái mang tính tƣơng đối 地球は月より大きいです。(Trái đất lớn hơn mặt trăng.) - Câu miêu tả đặc điểm, tính chất mang tính tuyệt đối その机は丸いです。(Cái bàn đó tròn.) Loại thứ năm: Câu phán đoán, giải thích có vị ngữ là danh từ. Với loại câu này, ngƣời nói muốn đƣa ra một phán đoán, một thông tin đến ngƣời nghe.
これは桜です。(Đây là hoa anh đào.) Nhƣ vậy, với hệ thống phân loại của Temura, CTN là một tiểu loại câu thuộc nhóm miêu tả sự tình hành động, đƣợc phân biệt với các tiểu loại khác trong nhóm về tính chất của sự tình, thể hiện sự tƣơng tác giữa hai đối tƣợng.2 Khái niệm câu trao - nhận trong tiếng Nhật Nếu hiểu CTN là câu biểu thị sự chuyển dời của một vật nào đó từ đối tƣợng này sang đối tƣợng khác thì theo Temura (1982) và Masuoka, Takubo (1992), nhóm động từ đƣợc coi là mang ý nghĩa trao - nhận có thể tham gia cấu tạo câu đƣợc liệt kê khá rộng, bao gồ m các động tƣ̀ nhƣ: 貸す[kasu] (cho vay, cho mượn), 借りる[kariru] (vay, mượn), 渡す[watasu] (đưa), 買う[kau] (mua), 売る[uru] (bán), 与える[ataeru] (cho, tặng), 受ける[ukeru] (nhận) … Tuy nhiên, tại hầu hết các sách giáo khoa về tiếng Nhật cho ngƣời Nhật và sách dạy tiếng Nhật cho ngƣời nƣớc ngoài đều thống nhất liệt kê chỉ có 7 đô ̣ng tƣ̀ đƣợc coi là điển hình nhất vào nhóm ĐTTN (授受動詞) đặc trƣng của tiếng Nhật. Đó là các động từ: や る [yaru], あ げ る [ageru], さ し あ げ る [sashiageru], くれる[kureru], くださる[kudasaru], もらう[morau] và いただく [itadaku]. 7 động từ này đƣợc phân biệt với các động từ còn lại. Sự phân biệt dựa trên sắc thái nghĩa do các động từ khi xuất hiện trong câu đem lại.
Nế u xét về ý nghiã tƣ̀ vƣ̣ng thì cả 7 ĐTTN và nhóm các động từ còn lại đều diễn tả sự chuyển dời của vật từ đối tƣợng X sang đối tƣợng Y .