mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương sau: Chƣơng 1 : Đối chiếu cấu trúc thành ngữ Hàn - Việt có thành tố cấu tạo là tên 7 z gọi động vật Chương này tiến hành nghiên cứu và phân loại về mặt cấu trúc; miêu tả tỉ mỉ các loại cấu trúc của thành ngữ tiếng Hàn có thành tố cấu tạo là tên gọi động vật và đối chiếu với phạm vi thành ngữ tương đương trong tiếng Việt. Chƣơng 2: Đối chiếu ngữ nghĩa của thành ngữ Hàn - Việt có thành tố cấu tạo là tên gọi động vật từ góc nhìn ngôn ngữ - văn hoá Chương này nghiên cứu cơ chế tạo nghĩa và các nội dung ngữ nghĩa của các thành ngữ tiếng Hàn có thành tố cấu tạo là tên gọi động vật và đối chiếu với cơ chế tạo nghĩa cũng như những nội dung ngữ nghĩa của phạm vi thành ngữ tương đương trong tiếng Việt. Chƣơng 3: Đối chiếu những giá biểu trƣng của thế giới động vật liên quan đến tƣ duy và văn hóa của hai dân tộc dân tộc Hàn - Việt qua thành ngữ Chương này nghiên cứu hệ thống giá trị biểu trưng của thế giới động của người Hàn qua thành ngữ, đối chiếu với những giá trị biểu trưng của thế giới động vật của người Việt để từ đó tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong tư duy và văn hóa dân tộc của hai cộng đồng là chủ nhân sáng tạo thành ngữ. 8 z CHƢƠNG I ĐỐI CHIẾU CẤU TRÚC CỦA THÀNH NGỮ HÀN - VIỆT CÓ THÀNH TỐ CẤU TẠO LÀ TÊN GỌI ĐỘNG VẬT 1.
Phân loại thành ngữ có thành tố cấu tạo là tên gọi động vật về mặt cấu trúc 1. Một số khuynh hƣớng phân loại về mặt cấu trúc và tiêu chí phân loại của luận văn Như một đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, thành ngữ được chú ý trên phương diện cấu trúc. Ở phương diện này có rất nhiều các nhà nghiên cứu tiến hành việc phân loại và cho ra các kết quả như sau : - Dựa trên quan hệ cú pháp, tác giả Đái Xuân Ninh chia thành ngữ thành ba loại: Thành ngữ là một câu bình thường. Thành ngữ là một câu đặc biệt (Ví dụ: Run như cầy sấy).
Thành ngữ là một đoạn của lời nói (Ví dụ: Đầu sóng ngọn gió). - Dựa vào cơ chế cấu tạo, tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho rằng thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm. Ông cũng chia thành ngữ làm hai loại : Thành ngữ hợp kết (Ví dụ: Rách như tổ đỉa) và thành ngữ hoà kết (Ví dụ: Chó ngáp phải ruồi). - Dựa vào kết cấu cú pháp gốc của thành ngữ, tác giả Đỗ Hữu Châu chia thành ngữ làm hai loại: Thành ngữ có kết cấu câu (Ví dụ: Ma cũ bắt nạt ma mới) và Thành ngữ có kết cấu cụm từ (Ví dụ: Chạy long tóc gáy) - Dựa vào đặc điểm hình thức, một số tác giả khác chia thành ngữ làm ba loại: Thành ngữ so sánh (Ví dụ: Lạnh như tiền), thành ngữ đối và thành ngữ thường [16, tr.10] Nói chung, các khuynh hướng phân loại trên đều khá rõ ràng.
Dựa trên các tiêu chí phân loại của mình, các bảng phân loại đưa ra đều khá toàn diện và triệt để, bao quát được tất cả các thành ngữ có thể có về mặt cấu trúc. Tuy vậy, hầu hết các tác giả chỉ dừng lại ở kết quả phân loại, rất ít tác giả đi vào mô tả kỹ đặc điểm cấu trúc thành ngữ theo các tiểu loại. Cố gắng khắc phục điều đó, để có thể đối chiếu cấu trúc thành ngữ Hàn - Việt, luận văn cố gắng phân loại và mô tả kỹ cấu trúc của từng tiểu loại thành ngữ rồi đối chiếu giữa hai ngôn ngữ. Như đã nêu, chúng tôi sẽ 9 z lựa chọn thành ngữ Hàn làm cơ sở chỉ đạo, là đối tượng cần phân tích và làm sáng tỏ về mặt cấu trúc, thành ngữ Việt sẽ trở thành phương tiện, là điều kiện cho phép làm sáng tỏ đặc điểm cấu trúc của thành ngữ Hàn.
Để phân loại thành ngữ về mặt cấu trúc, tiêu chí mà chúng tôi dựa vào là quan hệ ngữ pháp của các thành tố trong thành ngữ. Phân loại thành ngữ có thành tố cấu tạo là tên gọi động vật Dựa trên tư liệu cụ thể mà chúng tôi thu được là 387 thành ngữ tiếng Hàn có thành tố cấu tạo là tên gọi động vật, chúng tôi đã căn cứ vào quan hệ giữa các thành tố cấu tạo để phân loại về mặt cấu trúc, đó là Quan hệ chính phụ (Quan hệ của kết cấu một trung tâm trong đó yếu tố đứng làm trung tâm chi phối toàn bộ các yếu tố phụ đứng quanh nó); Quan hệ chủ vị (Quan hệ giữa hai trung tâm chi phối nương tựa lẫn nhau, mỗi trung tâm đều có thể phát triển và mở rộng theo đặc điểm và tính chất của trung tâm nhưng nòng cốt của quan hệ vẫn là hai trung tâm); Quan hệ đẳng lập (Quan hệ giữa các thành tố hoặc bộ phận tham gia trong thành ngữ có quan hệ giá trị ngang bằng và bình đẳng với nhau). Ngoài ra, kết quả xử lý tư liệu cho thấy có một nhóm thành ngữ không thuộc quan hệ nào trong ba quan hệ trên nên chúng tôi xếp thành loại thứ tư gọi là Thành ngữ quan hệ đặc biệt. Như vậy, về cấu trúc, có thể chia các thành ngữ tiếng Hàn là đối tượng nghiên cứu thành 04 loại như sau: + Thành ngữ trong đó các thành tố cấu tạo có quan hệ chính - phụ.
Loại này có 215/ 387 thành ngữ, chiếm khoảng 55%. + Thành ngữ trong đó các thành tố cấu tạo có quan hệ chủ - vị. Loại này có 165/387 thành ngữ, chiếm khoảng 43%. + Thành ngữ trong đó các thành tố cấu tạo có quan hệ đẳng lập.
Loại này có 02/ 387 thành ngữ, chiếm 0. + Thành ngữ trong đó các thành tố cấu tạo có quan hệ đặc biệt. Loại này có 05/ 387 thành ngữ, chiếm 1. Kết quả phân loại về mặt cấu trúc của Trịnh Cẩm Lan năm 1995 trên tư liệu thành ngữ là 904 thành ngữ thì thành ngữ Việt có thành tố cấu tạo là tên gọi động vật như sau: thành ngữ có quan hệ chính phụ (58,8%), thành ngữ có quan hệ chủ - 10 z vị (39,8%), thành ngữ có quan hệ đẳng lập (0,3%) và thành ngữ có quan hệ đặc biệt (4,5%).
Hai kết quả phân loại trên cho thấy có một sự tương ứng tương đối giữa thành ngữ Hàn và thành ngữ Việt về mặt cấu trúc thể hiện ở tỉ lệ các tiểu loại trong đó thành ngữ có quan hệ chính phụ ở cả hai ngôn ngữ đều chiếm tỉ lệ cao nhất: 55% trong tiếng Hàn và 58,8% trong tiếng Việt; tiếp đến loại thành ngữ có quan hệ chủ vị với 43% trong tiếng Hàn và 39,8% trong tiếng Việt. Loại thành ngữ có quan hệ đẳng lập chiếm tỉ lệ thấp nhất trong cả hai ngôn ngữ, chỉ với 0,5% trong tiếng Hàn và 0,3% trong tiếng Việt. Sự tương ứng này thể hiện một phương thức tư duy chung trong cách diễn tả, cấu tạo thành ngữ ở nhiều ngôn ngữ. Về mặt cấu trúc, theo lý thuyết đại cương, thành ngữ là một loại cụm từ cố định, vì thế, quan hệ ngữ pháp giữa các thành tố cấu tạo ở dạng cụm từ sẽ là cấu trúc phổ biến hơn cả.
Kế đến, có thể thấy nhiều thành ngữ có khả năng diễn đạt một ý niệm tương đối trọn vẹn nên loại quan hệ chủ vị trong nội bộ thành ngữ cũng chiếm một tỉ lệ đáng kể. Loại quan hệ đặc biệt, thực chất (xét trên thực tế tư liệu) chỉ là một dạng biến thể của quan hệ chủ vị, có thể dùng phương pháp cải biến để đưa về quan hệ chủ vị. Còn loại quan hệ đẳng lập xuất hiện ở một số ít thành ngữ do khả năng diễn tả đặc biệt của loại đơn vị ngôn ngữ này. Vì những lý giải như trên, chúng tôi thấy sự tương ứng về tỉ lệ thành ngữ ở các loại cấu trúc trong tiếng Hàn và tiếng Việt là một sự tương ứng hợp lý và có thể hiểu được.
Đối chiếu cấu trúc của thành ngữ Hàn - Việt có thành tố cấu tạo là tên gọi động vật 1. Cấu trúc của thành ngữ có quan hệ chính - phụ Theo thống kê, thành ngữ loại này có số lượng lớn nhất trong số các thành ngữ đã được khảo sát. Dựa vào bản chất từ loại của từ trung tâm trong kết cấu chính phụ, chúng tôi phân loại như sau: a. Thành ngữ chính phụ có danh từ làm trung tâm Căn cứ vào đặc điểm quan hệ ngữ pháp trong nội bộ thành tố phụ, có thể phân loại như sau: 11 z a1.
Thành tố phụ là từ Thành ngữ Hàn có các câu: 1. 호랑지심(虎狼志心) → Tâm chó sói (Lòng lang dạ sói) Trong trường hợp này thì Tâm là từ trung tâm, chó sói là yếu tố phụ. Thành ngữ Việt với cấu trúc tương đương có các câu như: Mồm cá ngão, Chim đầu đàn, Mắt cú vọ, Ngựa Tái Ông. Về số lượng, thành ngữ dạng này trong tiếng Việt nhiều hơn, phổ biến hơn.
Một dạng khác có số lượng phổ biến hơn ở cả hai ngôn ngữ là thành ngữ chính phụ danh từ làm trung tâm trong đó yếu tố phụ là từ nhưng có hai trung tâm như vậy ghép với nhau. Loại này có hình thức của thành ngữ đối trong đó mỗi vế đối được cấu tạo theo mô hình từ ghép chính phụ. Có một số tiểu loại phổ biến sau đây : - Thành tố phụ là tên gọi động vật, thành tố chính chỉ một bộ phận nào đó của con vật. Tiểu loại này rất phổ biến ở cả hai ngôn ngữ.
Ví dụ: Tiếng Hàn: 1. 심원의 마 (心猿醫 馬) → Lòng vượn ý ngựa (Ông chẳng bà chuộc) 2. 토각귀모 (兔角龜毛) → Sừng thỏ, lông rùa (Rất hiếm) 3. 어두귀면→ Đầu cá mặt quỉ (Mặt người dạ thú) Tiếng Việt: 1.
Dạ cá lòng chim 2. Cổ trâu cổ bò 3. Lòng lang dạ sói - Thành tố phụ chỉ môi trường sống của con vật, thành tố chính chỉ con vật. Tiểu loại này khá phổ biến trong thành ngữ Việt nhưng không thấy xuất hiện trong thành ngữ Hàn (trên phạm vi tư liệu của chúng tôi).
Chim trời cá nước 2. Mèo mả gà đồng 3. Cá bể chim rừng Ở thành ngữ có danh từ từ làm trung tâm trong đó thành tố phụ là từ, về trật tự của các thành tố, nếu trong thành ngữ Hàn, từ trung tâm đứng sau và thành tố phụ 12 z đứng trước thì trật tự trong thành ngữ Việt là ngược lại. Đây cũng là trật tự thuận cú pháp ở cả hai ngôn ngữ.