phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 04 chương. Tổng quan Trình bày tổng quan về nghiên cứu uyển ngữ, đồng thời trình bày cơ sở lí thuyết để triển khai nội dung luận án. Đặc điểm cấu tạo của uyển ngữ tiếng Hán (có liên hệ với tiếng Việt) Trình bày nguyên tắc cấu tạo và phương thức cấu tạo uyển ngữ tiếng Hán có liên hệ với tiếng Việt. Đặc điểm ngữ nghĩa của uyển ngữ tiếng Hán (có liên hệ với tiếng Việt) Khảo sát, miêu tả nghĩa của các uyển ngữ tiếng Hán có liên hệ với tiếng Việt.
Ở chương này, luận án chú trọng tới những tương đồng về văn hoá xã hội giữa Trung Quốc và Việt Nam trong việc tạo nên những bộ phận uyển ngữ chung. Đặc điểm sử dụng của uyển ngữ tiếng Hán và vấn đề dịch uyển ngữ từ Hán sang Việt Luận án giới thiệu về nguyên tắc sử dụng uyển ngữ, những yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng uyển ngữ, mức độ sử dụng, cách dịch uyển ngữ, những uyển ngữ Hán Việt và những uyển ngữ chỉ có ở tiếng Hán mà không có tương đương trong tiếng Việt. 11 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu uyển ngữ 1.
Tình hình nghiên cứu uyển ngữ ở Trung Quốc Để có thể thấy được một cách khái quát tình hình nghiên cứu uyển ngữ ở Trung Quốc, chúng tôi sẽ tiến hành xem xét một cách tổng quan từ các góc độ nghiên cứu khác nhau của tu từ học, ngữ nghĩa học, ngữ dụng học, ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học tri nhận và từ điển học. Thứ nhất, nghiên cứu uyển ngữ ở Trung Quốc từ góc độ tu từ học Trong tiếng Hán, uyển ngữ thường được xem là một loại thủ pháp tu từ truyền thống - ―uyển khúc‖. Theo Ngô Lễ Quyền (1997), tu từ uyển chuyển của tiếng Hán có tổng cộng 8 loại chủ yếu. Đó là: dùng điển tích, nói vòng, kiêng kỵ, ẩn chữ, chữ vòng, hai nghĩa, ẩn dụ, khởi hưng.
Tám loại tu từ uyển chuyển này mặc dù đều có hiệu quả biểu đạt riêng biệt của từng loại, nhưng hiệu quả biểu đạt chính thì vẫn giống nhau, tức là uyển chuyển vòng vo, ẩn chứa trong chiều sâu. Lý Phương Nguyên (1999) đã tiến hành tổng kết phương thức biểu đạt cũng như các biểu đạt của uyển ngữ bằng các phương pháp sử dụng từ ngữ như từ ngữ mơ hồ, từ ngữ đồng nghĩa, cách dùng ví dụ, thay thế, ngữ ngược nghĩa, ngữ kính trọng và kiêm ngữ, cách dùng điển tích và giản lược. Thúc Định Phương (2005) cho rằng, cống hiến của tu từ học đối với uyển ngữ chủ yếu là nghiên cứu đột phá trên cấp độ chữ và từ; sau đó tiến thêm một bước nghiên cứu uyển ngữ ở cấp độ câu, văn bản. Phác Kim Phụng (2007)cho rằng uyển ngữ là một loại biện pháp tu từ, còn biểu đạt uyển chuyển là một loại biểu đạt lịch sự có hiệu quả.
Bắt đầu từ 修辞学发凡(Tóm tắt nội dung tu từ học) của Trần Vọng Đạo (2008), các học giả Trung Quốc đã nghiên cứu uyển ngữ từ góc độ tu từ học trong một khoảng thời gian dài. 12 z Những năm gần đây, cũng đã có một vài chuyên gia học giả vận dụng lý thuyết không gian hợp thành, lý thuyết phạm trù để giải thích cơ chế suy lý và cấu thành ý nghĩa của uyển ngữ tiếng Anh, chú trọng tới cơ chế ẩn dụ trong uyển ngữ tiếng Anh. Thứ hai, nghiên cứu uyển ngữ ở Trung Quốc từ góc độ ngữ nghĩa học Xuất phát từ đặc điểm ngữ nghĩa, nghiên cứu uyển ngữ tập trung vào việc chỉ ra mối quan hệ giữa uyển ngữ và từ ngữ cấm kỵ; đồng thời cho rằng, uyển ngữ và từ ngữ cấm kỵ có quan hệ với nhau. Một số tác giả cũng đã tiến hành nghiên cứu phương thức và thủ pháp cấu thành của sự biểu đạt uyển chuyển từ góc độ ngữ nghĩa học.
Chẳng hạn, Lý Quốc Nam (1989) đã tách biểu đạt uyển chuyển thành uyển ngữ thành ngữ và biểu ngữ tính lâm thời. Thúc Định Phương và Từ Kim Nguyên (1995) đã đưa ra khái niệm uyển ngữ nghĩa hẹp và uyển ngữ nghĩa rộng, đưa ra uyển ngữ hoặc đoản ngữ được thừa nhận sử dụng thì gọi là uyển ngữ nghĩa hẹp và uyển ngữ nghĩa rộng (phương thức biểu đạt uyển chuyển thông qua các thủ pháp trong hệ thống ngôn ngữ hoặc trong lời nói). Từ Hải Minh (1995) đã đưa ra khái niệm uyển ngữ quy định hoá và uyển ngữ phi quy định hoá. Ngũ Thiết Bình (1999) đã dùng lý thuyết mơ hồ để giải thích hiệu quả giao tiếp của uyển ngữ.
Cách thức này đã mở ra một con đường nghiên cứu uyển ngữ ở cấp độ sâu hơn. Cô Đồng Thanh (2001) đã tiến hành phân tích mối quan hệ ngữ nghĩa giữa uyển ngữ và từ ngữ cấm kỵ, đã thảo luận cơ chế bên trong việc sử dụng uyển ngữ tiếng Anh, tức là vận dụng ngữ nghĩa liên tưởng và sự thay đổi của ngữ nghĩa do ý nghĩa liên tưởng tạo ra. Vương Vĩnh Trung (2001) đã phân tích 6 loại chức năng của uyển ngữ từ góc độ ngữ nghĩa mơ hồ. Theo đó, lần lượt là chức năng giao tiếp, chức năng tránh né, chức năng lễ phép, chức năng che giấu, chức năng dụ dỗ, chức năng bảo vệ chính mình.
13 z Theo Lưu Bình (2001), sự biểu đạt uyển chuyển là một hiện tượng ngôn ngữ phổ biến trong cuộc sống xã hội, nó có đặc tính biểu đạt nghĩa mang tính gián tiếp. Nhìn từ góc độ ngữ nghĩa học, sự biểu đạt uyển chuyển có thể được chia thành hai loại lớn là sự tăng ngữ nghĩa và sự giảm ngữ nghĩa. Chẳng hạn, trong tiếng Hán có không ít từ đa nghĩa có thể dùng để biểu đạt uyển chuyển là nhờ trên cơ sở nghĩa gốc phát triển một nghĩa uyển chuyển mới. Dựa vào các nghiên cứu trên, Thiệu Quân Hàng (2002) quy uyển ngữ về hai loại là uyển ngữ quy định hóa và uyển ngữ phi quy định hóa.
Ở tác giả này, đối tượng mà uyển ngữ thành ngữ, uyển ngữ nghĩa hẹp và uyển ngữ quy định hoá được đề cập đến về cơ bản là như nhau; do đó có thể gọi thống nhất là uyển ngữ quy định hoá. Còn đối tượng mà uyển ngữ mang tính lâm thời, uyển ngữ nghĩa rộng và uyển ngữ phi quy định hoá đề cập đến thì đều tương đối giống nhau; do đó có thể gọi thống nhất thành uyển ngữ phi quy định hoá. Lưu Trân (2004), trên cơ sở làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa của biểu đạt uyển chuyển, xuất phát từ góc độ người nghe giải thích ngôn ngữ, đã phân tích chức năng lý giải của tri thức ngữ cảnh như ngữ cảnh văn hoá, ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh chủ quan cá nhân đối với ngữ nghĩa biểu đạt uyển chuyển. Có thể thấy, nghiên cứu uyển ngữ có những liên hệ mật thiết với nghiên cứu ngữ nghĩa học.
Nói cách khác, thành quả nghiên cứu ngữ nghĩa có thể giúp chúng ta nhận thức về uyển ngữ nhiều hơn. Thứ ba, nghiên cứu uyển ngữ ở Trung Quốc từ góc độ ngữ dụng học Từ góc độ ngữ dụng học, các nhà nghiên cứu Trung Quốc sử dụng các lí thuyết về nguyên tắc cộng tác (hội thoại), nguyên tắc lịch sự v.v để phân tích cơ chế hình thành uyển ngữ. Các bài viết thường chú trọng tìm hiểu quan hệ giữa uyển ngữ tiếng Anh với nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự, đặc điểm ngữ dụng trong hoạt động giao tiếp, cơ chế mơ hồ tồn tại trong uyển ngữ tiếng Anh. Từ đó, người ta liên hệ, áp dụng vào nghiên cứu uyển ngữ tiếng Hán.
Ở Trung Quốc, nghiên cứu ngữ dụng học về uyển ngữ phát triển rất nhanh. Hướng nghiên cứu này dùng lý thuyết ngữ dụng học để giải thích cơ chế hình thành và việc sử dụng uyển ngữ. 14 z Thúc Định Phương (1989) đã nêu ra 3 nguyên tắc cơ bản của cấu tạo biểu đạt uyển chuyển. Đó là nguyên tắc khoảng cách, nguyên tắc liên quan và nguyên tắc dễ nghe.
Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra rằng, trong khi vận dụng biểu đạt uyển chuyển thì ngoài nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự ra, còn có một nguyên tắc quan trọng nữa là nguyên tắc bảo vệ chính mình. Quan điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến việc nghiên cứu biểu đạt uyển chuyển sau này. Vu Quốc (1991) đã thảo luận các đặc trưng hình thành biểu đạt uyển chuyển, mở rộng được tầm nhìn của con người đối với hiện tượng kiến thức của cách biểu đạt uyển chuyển, làm phong phú thêm cho thành quả nghiên cứu biểu đạt uyển chuyển. Thường Kính Vũ (2000) đã đưa ra các chiến lược giao tiếp của cách biểu đạt uyển chuyển chủ yếu dùng trong phương diện kiểu câu và cho rằng nó là một loại phương thức biểu đạt rộng rãi có đầy đủ chức năng vận dụng ngôn ngữ đặc biệt.
Lương Hồng Mai (2005) đã chỉ ra rằng, uyển ngữ được sinh ra do vi phạm các chuẩn tắc của nguyên tắc cộng tác. Việc lựa chọn và lý giải của nó đều dựa vào ngữ cảnh, đồng thời tôn trọng nguyên tắc lịch sự, hành động ngôn từ gián tiếp. Dương Vũ Quân, Lương Tuyết Thanh (2006) đã thảo luận về quan hệ giữa tính gián tiếp của ngôn ngữ và nguyên tắc lịch sự. Các tác giả này cố gắng thuyết minh rằng, biểu đạt uyển chuyển là một loại hiện tượng vận dụng ngôn ngữ tiêu biểu cho lịch sự, nhưng hoàn toàn không tuân theo nguyên tắc hội thoại.
Bởi vì con người sử dụng ngôn ngữ uyển chuyển, ngoại việc thể hiện lịch sự và tôn trọng người khác ra, người ta còn biểu hiện ý đồ bảo vệ chính mình. Có thể nói việc nghiên cứu uyển ngữ từ góc độ ngữ dụng học đã cắm mốc vào việc nghiên cứu uyển ngữ mà không câu nệ vào bản thân nó nữa. Trong quá trình nghiên cứu ứng dụng của uyển ngữ, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào câu hỏi là làm thế nào để ngăn ngừa việc xuất hiện những ứng dụng uyển ngữ sai lầm trong hoạt động giao tiếp; làm sao để sử dụng uyển ngữ phù hợp trong các ngữ cành khác nhau. Ngay cả những ứng dụng trong nghiên cứu so sánh uyển ngữ Hán - Anh người ta cũng tập trung vào nghiên cứu ở những người mà tiếng mẹ đẻ là tiếng Hán và làm thế nào sử dụng uyển ngữ tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Anh.
Tiếc 15 z rằng, lại có rất ít người quan tâm đến ứng dụng của uyển ngữ tiếng Hán như là việc dạy một ngoại ngữ.