Nghiên cứu đặc điểm uyển ngữ trong tiếng Hán và sự liên hệ với tiếng Việt

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm của uyển ngữ trong tiếng hán có liên hệ với tiếng việt 62 22 01 10, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2015

245
32
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

2. TỔNG QUAN

2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu uyển ngữ

2.1.1. Tình hình nghiên cứu uyển ngữ ở Trung Quốc

2.1.2. Nghiên cứu uyển ngữ từ góc độ tu từ học

2.1.3. Nghiên cứu uyển ngữ từ góc độ ngữ nghĩa học

3. ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA UYỂN NGỮ TIẾNG HÁN (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)

4. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA UYỂN NGỮ TIẾNG HÁN (CÓ LIÊN HỆ VỚI TIẾNG VIỆT)

5. ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG CỦA UYỂN NGỮ TIẾNG HÁN VÀ VẤN ĐỀ DỊCH UYỂN NGỮ TỪ HÁN SANG VIỆT

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặc điểm uyển ngữ trong tiếng Hán

Uyển ngữ trong tiếng Hán được xem là một hiện tượng ngôn ngữ đặc biệt, phản ánh sự tinh tế trong giao tiếp. Uyển ngữ không chỉ đơn thuần là cách diễn đạt mà còn mang trong mình những giá trị văn hóa sâu sắc. Đặc điểm nổi bật của uyển ngữ trong tiếng Hán là tính gián tiếp và tính lịch sự. Người sử dụng thường chọn cách diễn đạt này để tránh gây tổn thương cho người khác hoặc để thể hiện sự tôn trọng. Theo nghiên cứu, uyển ngữ có thể được phân loại thành nhiều nhóm khác nhau, từ những từ ngữ kiêng kị đến những cách diễn đạt mang tính hài hước. Điều này cho thấy sự phong phú và đa dạng trong cách sử dụng ngôn ngữ của người Hán. Hơn nữa, uyển ngữ còn thể hiện rõ nét những đặc trưng văn hóa của người Trung Quốc, như quan niệm về cái chết, bệnh tật và các vấn đề nhạy cảm khác. Việc nghiên cứu uyển ngữ không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn mở ra cánh cửa tìm hiểu văn hóa và tâm lý của người Hán.

1.1. Tính chất và chức năng của uyển ngữ

Tính chất của uyển ngữ trong tiếng Hán thể hiện qua nhiều khía cạnh khác nhau. Đầu tiên, uyển ngữ thường mang tính chất gián tiếp, giúp người nói tránh được những tình huống khó xử. Chức năng chính của uyển ngữ là tạo ra sự lịch sự trong giao tiếp, đồng thời giảm thiểu sự tổn thương cho người nghe. Nghiên cứu cho thấy, trong nhiều trường hợp, việc sử dụng uyển ngữ có thể giúp duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa các cá nhân. Hơn nữa, uyển ngữ còn có chức năng che giấu thông tin, giúp người nói bảo vệ bản thân khỏi những tình huống không mong muốn. Điều này đặc biệt quan trọng trong các lĩnh vực như chính trị và ngoại giao, nơi mà sự khéo léo trong giao tiếp là rất cần thiết. Tóm lại, uyển ngữ không chỉ là một hiện tượng ngôn ngữ mà còn là một phần không thể thiếu trong văn hóa giao tiếp của người Hán.

II. Mối liên hệ giữa uyển ngữ tiếng Hán và tiếng Việt

Mối liên hệ giữa uyển ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt là một chủ đề thú vị trong nghiên cứu ngôn ngữ học. Cả hai ngôn ngữ đều có những đặc điểm riêng về uyển ngữ, nhưng cũng tồn tại nhiều điểm tương đồng. Trong tiếng Việt, uyển ngữ cũng được sử dụng để thể hiện sự lịch sự và tôn trọng trong giao tiếp. Tuy nhiên, cách thức và ngữ cảnh sử dụng có thể khác nhau. Nghiên cứu cho thấy, người Việt thường sử dụng uyển ngữ trong các tình huống nhạy cảm như cái chết, bệnh tật hay các vấn đề liên quan đến tình dục. Điều này cho thấy sự tương đồng trong cách tiếp cận các chủ đề nhạy cảm giữa hai nền văn hóa. Hơn nữa, việc dịch uyển ngữ từ tiếng Hán sang tiếng Việt cũng gặp nhiều thách thức do sự khác biệt trong ngữ nghĩa và ngữ cảnh. Việc hiểu rõ mối liên hệ này không chỉ giúp cải thiện khả năng giao tiếp giữa hai ngôn ngữ mà còn góp phần vào việc nghiên cứu văn hóa và tâm lý của mỗi dân tộc.

2.1. Tương đồng và khác biệt trong sử dụng uyển ngữ

Tương đồng giữa uyển ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt thể hiện qua việc cả hai ngôn ngữ đều sử dụng uyển ngữ để tránh gây tổn thương cho người khác. Tuy nhiên, sự khác biệt cũng rất rõ ràng. Trong tiếng Hán, uyển ngữ thường mang tính chất phức tạp hơn, với nhiều lớp nghĩa và sắc thái. Ngược lại, tiếng Việt có xu hướng sử dụng uyển ngữ một cách đơn giản hơn, dễ hiểu hơn. Điều này có thể do sự khác biệt trong văn hóa giao tiếp của hai dân tộc. Hơn nữa, một số uyển ngữ trong tiếng Hán không có tương đương trực tiếp trong tiếng Việt, điều này tạo ra những thách thức trong việc dịch và hiểu đúng ý nghĩa. Việc nghiên cứu những tương đồng và khác biệt này không chỉ giúp cải thiện khả năng giao tiếp mà còn làm phong phú thêm hiểu biết về văn hóa và ngôn ngữ của mỗi dân tộc.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 04 chương. Tổng quan Trình bày tổng quan về nghiên cứu uyển ngữ, đồng thời trình bày cơ sở lí thuyết để triển khai nội dung luận án. Đặc điểm cấu tạo của uyển ngữ tiếng Hán (có liên hệ với tiếng Việt) Trình bày nguyên tắc cấu tạo và phương thức cấu tạo uyển ngữ tiếng Hán có liên hệ với tiếng Việt. Đặc điểm ngữ nghĩa của uyển ngữ tiếng Hán (có liên hệ với tiếng Việt) Khảo sát, miêu tả nghĩa của các uyển ngữ tiếng Hán có liên hệ với tiếng Việt.

Ở chương này, luận án chú trọng tới những tương đồng về văn hoá xã hội giữa Trung Quốc và Việt Nam trong việc tạo nên những bộ phận uyển ngữ chung. Đặc điểm sử dụng của uyển ngữ tiếng Hán và vấn đề dịch uyển ngữ từ Hán sang Việt Luận án giới thiệu về nguyên tắc sử dụng uyển ngữ, những yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng uyển ngữ, mức độ sử dụng, cách dịch uyển ngữ, những uyển ngữ Hán Việt và những uyển ngữ chỉ có ở tiếng Hán mà không có tương đương trong tiếng Việt. 11 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu uyển ngữ 1.

Tình hình nghiên cứu uyển ngữ ở Trung Quốc Để có thể thấy được một cách khái quát tình hình nghiên cứu uyển ngữ ở Trung Quốc, chúng tôi sẽ tiến hành xem xét một cách tổng quan từ các góc độ nghiên cứu khác nhau của tu từ học, ngữ nghĩa học, ngữ dụng học, ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học tri nhận và từ điển học. Thứ nhất, nghiên cứu uyển ngữ ở Trung Quốc từ góc độ tu từ học Trong tiếng Hán, uyển ngữ thường được xem là một loại thủ pháp tu từ truyền thống - ―uyển khúc‖. Theo Ngô Lễ Quyền (1997), tu từ uyển chuyển của tiếng Hán có tổng cộng 8 loại chủ yếu. Đó là: dùng điển tích, nói vòng, kiêng kỵ, ẩn chữ, chữ vòng, hai nghĩa, ẩn dụ, khởi hưng.

Tám loại tu từ uyển chuyển này mặc dù đều có hiệu quả biểu đạt riêng biệt của từng loại, nhưng hiệu quả biểu đạt chính thì vẫn giống nhau, tức là uyển chuyển vòng vo, ẩn chứa trong chiều sâu. Lý Phương Nguyên (1999) đã tiến hành tổng kết phương thức biểu đạt cũng như các biểu đạt của uyển ngữ bằng các phương pháp sử dụng từ ngữ như từ ngữ mơ hồ, từ ngữ đồng nghĩa, cách dùng ví dụ, thay thế, ngữ ngược nghĩa, ngữ kính trọng và kiêm ngữ, cách dùng điển tích và giản lược. Thúc Định Phương (2005) cho rằng, cống hiến của tu từ học đối với uyển ngữ chủ yếu là nghiên cứu đột phá trên cấp độ chữ và từ; sau đó tiến thêm một bước nghiên cứu uyển ngữ ở cấp độ câu, văn bản. Phác Kim Phụng (2007)cho rằng uyển ngữ là một loại biện pháp tu từ, còn biểu đạt uyển chuyển là một loại biểu đạt lịch sự có hiệu quả.

Bắt đầu từ 修辞学发凡(Tóm tắt nội dung tu từ học) của Trần Vọng Đạo (2008), các học giả Trung Quốc đã nghiên cứu uyển ngữ từ góc độ tu từ học trong một khoảng thời gian dài. 12 z Những năm gần đây, cũng đã có một vài chuyên gia học giả vận dụng lý thuyết không gian hợp thành, lý thuyết phạm trù để giải thích cơ chế suy lý và cấu thành ý nghĩa của uyển ngữ tiếng Anh, chú trọng tới cơ chế ẩn dụ trong uyển ngữ tiếng Anh. Thứ hai, nghiên cứu uyển ngữ ở Trung Quốc từ góc độ ngữ nghĩa học Xuất phát từ đặc điểm ngữ nghĩa, nghiên cứu uyển ngữ tập trung vào việc chỉ ra mối quan hệ giữa uyển ngữ và từ ngữ cấm kỵ; đồng thời cho rằng, uyển ngữ và từ ngữ cấm kỵ có quan hệ với nhau. Một số tác giả cũng đã tiến hành nghiên cứu phương thức và thủ pháp cấu thành của sự biểu đạt uyển chuyển từ góc độ ngữ nghĩa học.

Chẳng hạn, Lý Quốc Nam (1989) đã tách biểu đạt uyển chuyển thành uyển ngữ thành ngữ và biểu ngữ tính lâm thời. Thúc Định Phương và Từ Kim Nguyên (1995) đã đưa ra khái niệm uyển ngữ nghĩa hẹp và uyển ngữ nghĩa rộng, đưa ra uyển ngữ hoặc đoản ngữ được thừa nhận sử dụng thì gọi là uyển ngữ nghĩa hẹp và uyển ngữ nghĩa rộng (phương thức biểu đạt uyển chuyển thông qua các thủ pháp trong hệ thống ngôn ngữ hoặc trong lời nói). Từ Hải Minh (1995) đã đưa ra khái niệm uyển ngữ quy định hoá và uyển ngữ phi quy định hoá. Ngũ Thiết Bình (1999) đã dùng lý thuyết mơ hồ để giải thích hiệu quả giao tiếp của uyển ngữ.

Cách thức này đã mở ra một con đường nghiên cứu uyển ngữ ở cấp độ sâu hơn. Cô Đồng Thanh (2001) đã tiến hành phân tích mối quan hệ ngữ nghĩa giữa uyển ngữ và từ ngữ cấm kỵ, đã thảo luận cơ chế bên trong việc sử dụng uyển ngữ tiếng Anh, tức là vận dụng ngữ nghĩa liên tưởng và sự thay đổi của ngữ nghĩa do ý nghĩa liên tưởng tạo ra. Vương Vĩnh Trung (2001) đã phân tích 6 loại chức năng của uyển ngữ từ góc độ ngữ nghĩa mơ hồ. Theo đó, lần lượt là chức năng giao tiếp, chức năng tránh né, chức năng lễ phép, chức năng che giấu, chức năng dụ dỗ, chức năng bảo vệ chính mình.

13 z Theo Lưu Bình (2001), sự biểu đạt uyển chuyển là một hiện tượng ngôn ngữ phổ biến trong cuộc sống xã hội, nó có đặc tính biểu đạt nghĩa mang tính gián tiếp. Nhìn từ góc độ ngữ nghĩa học, sự biểu đạt uyển chuyển có thể được chia thành hai loại lớn là sự tăng ngữ nghĩa và sự giảm ngữ nghĩa. Chẳng hạn, trong tiếng Hán có không ít từ đa nghĩa có thể dùng để biểu đạt uyển chuyển là nhờ trên cơ sở nghĩa gốc phát triển một nghĩa uyển chuyển mới. Dựa vào các nghiên cứu trên, Thiệu Quân Hàng (2002) quy uyển ngữ về hai loại là uyển ngữ quy định hóa và uyển ngữ phi quy định hóa.

Ở tác giả này, đối tượng mà uyển ngữ thành ngữ, uyển ngữ nghĩa hẹp và uyển ngữ quy định hoá được đề cập đến về cơ bản là như nhau; do đó có thể gọi thống nhất là uyển ngữ quy định hoá. Còn đối tượng mà uyển ngữ mang tính lâm thời, uyển ngữ nghĩa rộng và uyển ngữ phi quy định hoá đề cập đến thì đều tương đối giống nhau; do đó có thể gọi thống nhất thành uyển ngữ phi quy định hoá. Lưu Trân (2004), trên cơ sở làm rõ đặc điểm ngữ nghĩa của biểu đạt uyển chuyển, xuất phát từ góc độ người nghe giải thích ngôn ngữ, đã phân tích chức năng lý giải của tri thức ngữ cảnh như ngữ cảnh văn hoá, ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh chủ quan cá nhân đối với ngữ nghĩa biểu đạt uyển chuyển. Có thể thấy, nghiên cứu uyển ngữ có những liên hệ mật thiết với nghiên cứu ngữ nghĩa học.

Nói cách khác, thành quả nghiên cứu ngữ nghĩa có thể giúp chúng ta nhận thức về uyển ngữ nhiều hơn. Thứ ba, nghiên cứu uyển ngữ ở Trung Quốc từ góc độ ngữ dụng học Từ góc độ ngữ dụng học, các nhà nghiên cứu Trung Quốc sử dụng các lí thuyết về nguyên tắc cộng tác (hội thoại), nguyên tắc lịch sự v.v để phân tích cơ chế hình thành uyển ngữ. Các bài viết thường chú trọng tìm hiểu quan hệ giữa uyển ngữ tiếng Anh với nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự, đặc điểm ngữ dụng trong hoạt động giao tiếp, cơ chế mơ hồ tồn tại trong uyển ngữ tiếng Anh. Từ đó, người ta liên hệ, áp dụng vào nghiên cứu uyển ngữ tiếng Hán.

Ở Trung Quốc, nghiên cứu ngữ dụng học về uyển ngữ phát triển rất nhanh. Hướng nghiên cứu này dùng lý thuyết ngữ dụng học để giải thích cơ chế hình thành và việc sử dụng uyển ngữ. 14 z Thúc Định Phương (1989) đã nêu ra 3 nguyên tắc cơ bản của cấu tạo biểu đạt uyển chuyển. Đó là nguyên tắc khoảng cách, nguyên tắc liên quan và nguyên tắc dễ nghe.

Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra rằng, trong khi vận dụng biểu đạt uyển chuyển thì ngoài nguyên tắc cộng tác và nguyên tắc lịch sự ra, còn có một nguyên tắc quan trọng nữa là nguyên tắc bảo vệ chính mình. Quan điểm này có ảnh hưởng rất lớn đến việc nghiên cứu biểu đạt uyển chuyển sau này. Vu Quốc (1991) đã thảo luận các đặc trưng hình thành biểu đạt uyển chuyển, mở rộng được tầm nhìn của con người đối với hiện tượng kiến thức của cách biểu đạt uyển chuyển, làm phong phú thêm cho thành quả nghiên cứu biểu đạt uyển chuyển. Thường Kính Vũ (2000) đã đưa ra các chiến lược giao tiếp của cách biểu đạt uyển chuyển chủ yếu dùng trong phương diện kiểu câu và cho rằng nó là một loại phương thức biểu đạt rộng rãi có đầy đủ chức năng vận dụng ngôn ngữ đặc biệt.

Lương Hồng Mai (2005) đã chỉ ra rằng, uyển ngữ được sinh ra do vi phạm các chuẩn tắc của nguyên tắc cộng tác. Việc lựa chọn và lý giải của nó đều dựa vào ngữ cảnh, đồng thời tôn trọng nguyên tắc lịch sự, hành động ngôn từ gián tiếp. Dương Vũ Quân, Lương Tuyết Thanh (2006) đã thảo luận về quan hệ giữa tính gián tiếp của ngôn ngữ và nguyên tắc lịch sự. Các tác giả này cố gắng thuyết minh rằng, biểu đạt uyển chuyển là một loại hiện tượng vận dụng ngôn ngữ tiêu biểu cho lịch sự, nhưng hoàn toàn không tuân theo nguyên tắc hội thoại.

Bởi vì con người sử dụng ngôn ngữ uyển chuyển, ngoại việc thể hiện lịch sự và tôn trọng người khác ra, người ta còn biểu hiện ý đồ bảo vệ chính mình. Có thể nói việc nghiên cứu uyển ngữ từ góc độ ngữ dụng học đã cắm mốc vào việc nghiên cứu uyển ngữ mà không câu nệ vào bản thân nó nữa. Trong quá trình nghiên cứu ứng dụng của uyển ngữ, hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào câu hỏi là làm thế nào để ngăn ngừa việc xuất hiện những ứng dụng uyển ngữ sai lầm trong hoạt động giao tiếp; làm sao để sử dụng uyển ngữ phù hợp trong các ngữ cành khác nhau. Ngay cả những ứng dụng trong nghiên cứu so sánh uyển ngữ Hán - Anh người ta cũng tập trung vào nghiên cứu ở những người mà tiếng mẹ đẻ là tiếng Hán và làm thế nào sử dụng uyển ngữ tiếng Anh trong giao tiếp tiếng Anh.

Tiếc 15 z rằng, lại có rất ít người quan tâm đến ứng dụng của uyển ngữ tiếng Hán như là việc dạy một ngoại ngữ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc điểm uyển ngữ trong tiếng Hán và sự liên hệ với tiếng Việt là một luận án tiến sĩ được thực hiện bởi Hà Hội Tiên (He Huixian) dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Văn Khang tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận án này tập trung nghiên cứu đặc điểm uyển ngữ trong tiếng Hán và mối liên hệ với tiếng Việt, nhằm tìm hiểu về sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ này.

Bài viết này cung cấp một cái nhìn sâu sắc về đặc điểm uyển ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt, và giúp người đọc hiểu rõ hơn về sự liên hệ giữa hai ngôn ngữ này. Thông qua việc nghiên cứu đặc điểm uyển ngữ, luận án này cũng cung cấp một số gợi ý về cách dạy và học tiếng Hán và tiếng Việt.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các bài viết sau:

So sánh trợ từ ngữ khí giữa tiếng Hán và tiếng Việt là một luận văn thạc sĩ được thực hiện bởi Chung Kiều dưới sự hướng dẫn của GS.TS Đinh Văn Đức tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Bài viết này tập trung so sánh trợ từ ngữ khí giữa tiếng Hán và tiếng Việt, nhằm tìm hiểu về sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ này.

So sánh đặc trưng ngôn ngữ văn hóa giữa thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt là một luận văn thạc sĩ được thực hiện bởi Mạc Diễn Điền dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Văn Hiệu tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Bài viết này tập trung so sánh đặc trưng ngôn ngữ văn hóa giữa thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt, nhằm tìm hiểu về sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ này.

Nghiên cứu đặc điểm từ ngữ lóng trong tiếng Hán và tiếng Việt là một luận án tiến sĩ được thực hiện bởi Nguyễn Thị Hoài Tâm dưới sự hướng dẫn của GS. Nguyễn Văn Khang tại Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội. Bài viết này tập trung nghiên cứu đặc điểm từ ngữ lóng trong tiếng Hán và tiếng Việt, nhằm tìm hiểu về sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ này.