Chương 1. Tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết. Khảo sát đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt có yếu tố chỉ đồ vật. So sánh đặc trưng ngôn ngữ văn hóa giữa những thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt có yếu tố chỉ đồ vật.
6 z CHƢƠNG 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tình hình nghiên cứu thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt Có thể nói thành ngữ là một tiêu điểm được nhiều người Trung Quốc học tiếng Việt Nam và nhiều người Việt Nam học tiếng Trung Quốc quan tâm, liên quan đến nghiên cứu thành ngữ, có thể chia thành nhiều loại như nghiên cứu tính chỉnh thể của thành ngữ, nghiên cứu ngữ âm thành ngữ, nghiên cứu kết cấu của thành ngữ, nghiên cứu ngữ nghĩa của thành ngữ, nghiên cứu ngữ nguyên của thành ngữ, nghiên cứu sử dụng thành ngữ, nghiên cứu văn hóa của thành ngữ, nghiên cứu so sánh thành ngữ đa ngôn ngữ chẳng hạn thành ngữ tiêng Hán và tiếng Việt. Theo thống kê, các bài luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, báo cáo khoa học riêng về nghiên cứu so sánh thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt đã có hơn 30 bài được công bố tại Trung Quốc, trong đó bao gồm những bài viết của lưu học sinh Việt Nam du học tại Trung Quốc. Những bài văn này toàn mang tính chất so sánh thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt đã đề cập đến vấn đề hình thức tu từ, những trường từ vựng – ngữ nghĩa như cơ thể con người, động thực vật, trang phục, nguồn gốc xuất xứ của thành ngữ như thành ngữ phật giáo, và nghiên cứu những lỗi thường mắc của lưu học sinh Việt Nam trong quá trình học thành ngữ tiếng Hán.
Thành ngữ là một tinh hoa kho tàng từ vựng tiếng Việt, thu hút nhiều người quan tâm, và đến bây giờ cũng đã có rất nhiều sách vở, báo cáo khoa học, luận văn viết về thành ngữ. Phạm vi nghiên cứu của họ rất rộng rãi, từ vấn đề sưu tập, phân loại, nghiên cứu nguồn gốc xuất xứ đến vấn đề so sánh với các ngôn ngữ khác, nhằm mục đích phổ biến thành ngữ trong sử dụng hàng ngày và giúp cho giới ngôn ngữ 7 z hiểu sâu thêm về ngôn ngữ và văn hóa. Đồng thời giúp cho giáo viên và học sinh trong quá trình học tập hiểu về bản chất thành ngữ và văn hóa dân tộc và nước ngoài. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt Xét về bình diện ngôn ngữ, thành ngữ là phương tiện có giá trị diễn đạt rất độc đáo.
Nó tham gia vào việc tạo ra các phát ngôn, các văn bản súc tích, sinh động, giàu hình tượng, có tính gợi tả. Do đó thành ngữ luôn có sức hấp dẫn và có sức thuyết phục cao, từ xưa đến nay được mọi người sử dụng trong giao tiếp hàng ngày cũng như tác phẩm chữ viết. tuy nhiên về khái niệm thành ngữ vẫn chưa có một định nghĩa cố định được giới nghiên cứu áp dụng, mà khi trong quá trình phát trình ngôn ngữ cũng như theo sự phát triển của xã hội, kho tàng thành ngữ dần dần được phong phú thêm. Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Hán Có thể nói rằng thành ngữ là một tinh hoa ngôn ngữ và tinh hoa văn hóa của dân tộc Trung Hoa, nó đúc kết những trí tuệ của dân tộc Trung Quốc và trong suốt chiều dài lịch sử mà không ngừng được phát triển.
Sự xuất hiện của thành ngữ có thể tận đến thời xuân thu chiến quốc. Theo Từ Diệu Dân, trước khi hai chữ thành ngữ xuất hiện thì người ta thường gặp khái niệm thành ngôn. Hai chữ này xuất hiện sớm nhất trong Kinh Dịch, Tả Truyện, Sử Ký và một số thư tịch cổ khác. Học giả, nhà văn học thời Kim Vương Nhược Hư (王若虚) quan niệm rằng thành ngôn là câu nói của một tổ chức phi lâm thời không thể thay đổi, nội hàm của nó đại thể tương đương với thành ngữ mà ngày nay vẫn nói, những xét các ví dụ được dẫn thì đều thuộc tục ngữ.
8 z Trong cuốn 汉语语汇 (Hán ngữ ngữ hội (ngữ vựng) học), Ôn Đoan Chính ( 温端政) có dẫn theo cuốn 陈书.姚宰传 (Trần thư. Trần Tể Truyện) của tác giả Diêu Tư Liêm 姚思廉 thời nhà Đường chép “言为心使, 心爱言铨, 和合根尘, 鼓 动风气,故成语也”. Nghĩa là“ngôn ngữ từ trong tư duy, muốn diễn đạt tư duy thì phải nhờ vào ngôn ngữ, sống hòa hợp phải bắt đầu từ việc nhỏ, tiếng trống vang lên thì khí thế nổi trời, đó chính là thành ngữ”. Đến thời cận đại, khái niệm thành ngữ đã được xác định chính thức qua một số từ điển như sau: - Từ Nguyên (biên soạn năm 1908, năm 34 Quang Tự thời Thanh, xuất bản năm 1915) coi thành ngữ là cổ ngữ, phàm những gì lưu hành trong xã hội, có thể dẫn đến biểu thị ý nghĩa của mình đều là thành ngữ.[47;653] - Từ Hải (biên soạn năm 1915, xuất bản năm 1936) coi những cổ ngữ mà được người ngày nay dẫn dụng là thành ngữ.
Thành ngữ có nguồn gốc hoặc từ kinh truyện, từ ngạn ngữ ca dao được người dân quen biết truyền miệng.[52;768] Trong quyển Từ Hải xuất bản năm 1979 được sửa đổi, định nghĩa đối với thành ngữ được mở rộng là thành ngữ thuộc một loại của thục ngữ, là những từ cố định hoặc đoản cú có kết cấu ngắn gọn, ý nghĩa súc tích, lâu nay được xã hội quen dùng. [38;690] Đến những năm thập kỷ 80, trong cuốn Hán ngữ hiện đại 现代汉语, Hồ Dục Thụ có viết: “Thành ngữ là một loại từ tổ nhất định, tính chất của nó gần với quán ngữ, thường được sử dụng như một đơn vị với ý nghĩa hoàn chỉnh, nhưng so với quán ngữ thì thành ngữ có tính cố định hơn. Thông thường thì thành ngữ có kết cấu chặt 9 z chẽ, không thể tùy ý thay đổi các thành phần, cũng không như quán ngữ có thể tách rời hoặc chen vào một số thành phần khác. Cũng trong thời kỳ này, các tác giả Hoàng Bá Vinh, Liêu Tự Đông (1981), Trương Tĩnh (1980) cũng cho rằng thành ngữ là “những từ cố định đặc biệt, được mọi người quen dùng xưa nay”, nhìn về nội dung và hình thức, thành ngữ có hai đặc điểm cơ bản là tình hoàn chỉnh về nghĩa và tính cố định về kêt cấu.
[43;221] Thập kỳ 90, trong cuốn Thành ngữ cửu chương, tác giả Nhi Bảo Nguyên và Nhiêu Bằng Từ hiểu về khái niệm như sau: Thành ngữ là những từ tổ cố định, được mọi người lâu nay quen dùng, có ý nghĩa hoàn chỉnh, kết cấu ổn định, hình thúc ngắn gọn, được sử dụng như một chỉnh thể. Tác giả còn cho rằng đặc điểm của thành ngữ là tính quen dùng về mặt lịch sử, tính hoàn chỉnh về mặt ý nghĩa, tính ổn định về mặt kết cấu, tính ngắn gọn về mặt hình thức và tính chỉnh thể về mặt sử dụng.[51;6] Cuốn Từ điển Hán ngữ hiện đại 现代汉语词典 đưa ra khái niệm: “ Thành ngữ là những tổ từ hay đoản cú cố định, hình thức ngắn gọn, ý nghĩa sâu sắc, mà được mọi người lâu nay quen dùng. Thành ngữ Hán đại đa số do bốn chữ tạo nên, và thường có nguồn gốc xuất xứ” .[49;236] Có thể thấy rằng, trong suốt lịch sử phát triển, cách hiểu về thành ngữ khác nhau ở từng giai đoạn lịch sử, dựa trên những thành quả nghiên cứu của những người đi trước. Trong bài luận văn, chúng tôi kết hợp những quan niệm và khái niệm trên có thể tập hợp những đặc điểm của thành ngữ tiếng Hán như sau: - Thành ngữ là những cụm từ cố định, - Có ý nghĩa sâu sắc, được mọi người lâu nay quen dùng, có nguồn gốc xuất xứ về nghĩa, 10 z - Có tính cố định về kết cấu và tính hoàn chỉnh về nghĩa, - Đa số là bốn âm tiết - Mang phong cách văn viết, khác với các thục ngữ khác như tục ngữ, yết hậu ngữ, ngạn ngữ 1.
Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt Thành ngữ trong tiếng Việt được các nhà nghiên cứu định danh dựa trên những đặc điểm như sau: Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê viết “Thành ngữ là một tập hợp từ cố định đã quen dùng, mà nghĩa thường không được giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa các từ tạo nên nó” [16; 915]. Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Từ vựng học tiếng Việt” chỉ rõ: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm [9; 77]. “Đại từ điển Tiếng Việt” của Nguyễn Như Ý viết: “Thành ngữ là tập hợp từ cố định quen dùng có ý nghĩa định danh gọi tên sự vật, thường không kể suy ra từ nghĩa của từng yếu tố cấu tạo thành và được lưu truyền trong dân gian và văn chương” [25; 1530]. Đặc điểm của thành ngữ Dựa trên những khái niệm thành ngữ trong tiếng Hán và tiếng Việt, đặc điểm đa dạng trong cách định danh thành ngữ là những nghi vấn cần được xác thực.
Những khái niệm chưa thống nhất trên cũng là đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu một phương thức dân gian nào đó. Dựa trên phương thức tổng hợp khái niệm, cơ sở của quá trình nghiên cứu ngôn ngữ học, chúng tôi nhận dạng những đặc điểm chung của thành ngữ hai nước như sau: 11 z Thứ nhất: Thành ngữ là tập hợp tổ từ cố định quen dùng, chặt chẽ, hoàn chỉnh về hình thái cấu trúc. Tính cố định và bền vững của hình thái cấu trúc của thành ngữ thể hiện ở các thành tố trong thành ngữ nói chung là ổn định, không được tùy tiện thay thế bằng các yếu tố khác, hoặc không được thay đổi trật tự các thành tố tạo nên thành ngữ, khác với các tổ hợp từ khác như tục ngữ, quán ngữ, ca dao., thành ngữ tạo lập cho mình một kết cấu ổn định. Trong thành ngữ “xếp bút nghiên” hay “笔底春风( bǐ dǐ chūn fēng/bút đề xuân phong), chúng ta không thể bẻ gẫy kết cấu để đọc chệch đi so với văn bản gốc.
Người ta không thể viết “nghiên xếp bút” hay “xuân bút đề phong”. Nếu như vậy, cấu trúc câu sẽ bị phá vỡ về mặt nghĩa. Tất nhiên, không phải tất cả các thành ngữ đều theo quy tắc này. Chúng ta có thể thấy sự xuất hiện song song của các cặp thành ngữ “môi son má phấn”- “má phấn môi son”, “không kèn không trống” – “không trống không kèn”.
Sự tồn tại của những thành ngữ trên là đặc điểm phi cú pháp của thành ngữ, bộc lộ ở tính đối ứng thường có những cấu trúc xen lồng vào nhau của thành tố ngữ pháp. Nhiều cặp thành ngữ khác nhau được hình thành trên đặc trưng biến thể đồng nghĩa ấy.