CHƯƠNG I NHỮNG LÝ LUẬN NGỮ PHÁP VÀ QUAN ĐIỂM LIÊN QUAN ĐẾN TRỢ TỪ NGỮ KHÍ TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT 1.1 Những lý luận ngữ pháp và quan điểm liên quan đến trợ từ ngữ khí trong tiếng Hán 1.1 Nhận diện ngữ pháp tiếng Hán Tiếng Hán là một trong những ngôn ngữ chính của thế giới, cũng là một trong những ngôn ngữ công tác của Liên Hợp Quốc. Tiếng Hán thuộc về ngữ hệ Hán Tạng, là ngôn ngữ chính trong ngữ hệ này. Ngoài ra phân bố ở Trung Quốc, tiếng Hán còn phân bố ở Singapo, Malaixia. Dân số mà lấy tiếng Hán làm tiếng mẹ đẻ khoảng 940 triệu lượt người.
Tiếng Hán gồm cả tiếng Hán cổ lẫn tiếng Hán hiện đại, lấy tiếng Bắc Kinh làm tiếng phổ thông. Ngữ pháp là quy luật kết cấu của ngôn ngữ, tức là quy luật kết cấu của các đơn vị ngôn ngữ như từ, cụm từ, câu, ngữ đoạn.v Ngữ pháp có thể chia là từ pháp và cú pháp. Phạm vi nghiên cứu của từ pháp là những đặc trưng ngữ pháp như phân loại ngữ pháp của từ, phân bố của từ và chức năng.v Tiếng Hán so sánh với những ngôn ngữ thuộc về ngữ hệ Ấn Âu như tiếng Anh, có thể nhận ra một số đặc điểm về ngữ pháp. Trước hết là tiếng Hán không thay đổi về hình thái với ý nghĩa nghiêm cách.
Danh từ không thay đổi về cách, cũng không có khu 5 z biệt về giống và số. Động từ không thể thể hiện thời; Thứ hai là trật tự từ tương đối cố định. Trong tiếng Hán định ngữ và bổ ngữ luôn đứng trước trung tâm ngữ.2 Những lý luận ngữ pháp và quan điểm về từ loại tiếng Hán Do tiếng Hán khác với đặc điểm của ngôn ngữ châu Âu, trong lịch sử nhiều nhà ngôn ngữ học cho rằng tiếng Hán không có ngữ pháp và từ loại với thời gian lâu dài. Có nhiều nhà ngôn ngữ học nổi tiếng như Mapp, H.
(phương Tây) đều khẳng định tiếng Hán là ngôn ngữ nguyên thuỷ mà không có phạm trù ngữ pháp và từ loại, lý do chính là tiếng Hán không có hình thái. Những năm 50 thế kỷ 20, nhà ngôn ngữ học lấy hình thái làm tiêu chuẩn duy nhất phân chia từ loại nên cho rằng tiếng Hán không có từ loại. với tư cách là học giả Liên Xô viết ra “Luận tiếng Hán”, nêu ra quan điểm phản bác; Sau những năm 60 thế kỷ 20, nhà ngôn ngữ học nghĩ rằng từ loại phải tương ứng từng một với thành phần cú pháp, nhưng từ loại tiếng Hán không tương ứng từng một với thành phần cú pháp, trong tiếng Hán một từ luôn có thể đảm nhiệm nhiều thành phần cú pháp nên cho rằng tiếng Hán không có từ loại một lần nữa. Vấn đề này mà tiếng Hán có từ loại hay không được các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước tranh cãi với thời gian dài.
Dẫn đến những năm 90 thế kỷ 20, các nhà ngôn ngữ học mới chuyên sâu nghiên cứu về ngữ pháp và từ loại tiếng Hán. Trong việc phân chia từ loại nhà ngôn ngữ học đã gặp rất nhiều khó khăn, nguyên nhân chính yếu là tiếng Hán thiếu hình thái và thể hiện ở từ không có ký hiệu hình thức và sự thay đổi hình thái. Đồng thời vì từ loại tiếng Hán là đa chức năng nên việc phân chia càng phức tạp. Nhưng nhà ngôn ngữ học theo tính khả năng trong việc phân chia từ loại, dựa trên các tiêu chuẩn phân chia, đã khẳng định tiếng Hán có từ loại và đến nay tiếng Hán đã có một phân loại hệ thống.
Từ loại là phân loại ngữ pháp của từ. Tiêu chuẩn phân chia từ loại chủ yếu là ngữ nghĩa của từ, hình thái của từ và chức năng ngữ pháp của từ. Trong tiếng 6 z Hán, phân chia từ loại không thể theo hình thức của từ mà phải lấy chức năng ngữ pháp của từ làm tiêu chuẩn phân chia từ loại. Chức năng ngữ pháp của từ được thể hiện ở: a) Khả năng đảm nhiệm thành phần cú pháp; b) Khả năng tổ hợp giữa từ và từ; c) Khả năng chắp dính của từ.
Ai nấy đều biết từ vựng tiếng Hán cực kỳ đa dạng phong phú, quan điểm phân chia từ loại cũng rất nhiều. Dựa trên các tiêu chuẩn có thể chia là ba loại: thực từ, hư từ và nghĩ âm từ. Từ nào có thể đảm nhiệm độc lập thành phần cú pháp? Trong tiếng Hán, đại đa số từ đều có thể đảm nhiệm độc lập thành phần cú pháp. Chẳng hạn những từ như “太阳(mặt trời)”, “北京(Bắc Kinh)”, “学校 (nhà trường)”, “升起(lên cao)”, “美丽(đẹp)”, “红(đỏ)”, “很(rất)” có thể tổ hợp thành những câu như “太阳升起(mặt trời lên cao)”, “北京很美丽(Bắc Kinh rất đẹp)”, “北京学校很多(Bắc Kinh có nhiều nhà trường)”.v Những từ mà có thể đảm nhiệm thành phần cú pháp được gọi là thực từ, thực từ vừa có ý nghĩa từ vựng vừa có ý nghĩa ngữ pháp.
Trong tiếng Hán hiện đại gồm có 8 loại thực từ là: danh từ, động từ, tính từ, số từ, lượng từ, phó từ, đại từ và khu biệt từ. Dựa theo các từ loại đảm nhiệm chức vụ khác nhau trong câu thì có thể chia là thể từ, vị từ và gia từ. Thể từ là những từ mà chủ yếu đảm nhiệm chủ ngữ và tân ngữ trong câu. Trong tiếng Hán hiện đại thể từ bao gồm danh từ, số từ và lượng từ.
Vị từ là những từ mà chủ yếu đảm nhiệm vị ngữ, thuật ngữ và bổ ngữ trong câu. Trong tiếng Hán hiện đại vị từ bao gồm động từ và tính từ. Gia từ là những từ mà chủ yếu đảm nhiệm định ngữ và trạng ngữ trong câu. Trong tiếng Hán hiện đại gia từ bao gồm phó từ và khu biệt từ.
Những từ mà không thể đảm nhiệm độc lập thành phần cú pháp được gọi là hư từ, chẳng hạn: “从(từ)”, “而(mà)”, “和(với)”, “如果 (nếu)”, “即使(mặc dù)”, “了(rồi)”, “啊(nhỉ)”…v.v Hư từ chỉ biểu thị ý nghĩa ngữ pháp không có ý nghĩa từ vựng. Trong tiếng Hán hiện đại gồm có 4 loại hư từ là: giới từ, trợ từ, liên từ và ngữ khí từ; Ngoài ra, còn có một từ loại đặc thù bắt chước âm thanh gọi là từ thanh, như “哈哈(hehe)”, “嘻嘻(hihi)”, “哎哟(oái)”, “嗖嗖(vèo vèo)”, “啊(ối trời)”, “嚷嚷(ồi ồi)”.v Trong tiếng Hán hiện đại nghĩ âm từ bao gồm tượng thanh từ và thán từ. 7 z Suy cho cùng, có thể quy nạp hệ thống từ loại trong tiếng Hán hiện đại như Bảng 1:1 Bảng 1: Phân loại từ loại tiếng Hán hiện đại Danh từ Thể từ Lượng từ Đại thể từ Số từ Thực từ Động từ Đại từ Vị từ Đại vị từ Tính từ Khu biệt từ Gia từ Đại gia từ Phó từ Liên từ Quan hệ từ Giới từ Từ loại Hư từ Trợ từ Phụ trợ từ Ngữ khí từ Tượng thanh từ Từ thanh Thán từ 1.3 Những quan điểm ngữ pháp liên quan đến trợ từ ngữ khí trong tiếng Hán + Tìm hiểu những nghiên cứu về ngữ khí và trợ từ ngữ khí trong tiếng Hán Ngữ khí là hiện tượng phổ biến của ngôn ngữ nhân loại, là một cộng tính ngôn ngữ. Hầu hết tất cả ngôn ngữ trên thế giới đều có ngữ khí, theo loại hình 1 《中国现代语法》 ,王力,商务印书馆,1985 年 8 z học thì ngữ khí là một “cộng tính tuyệt đối”(absolute universal).
Nhưng từ xưa đến nay, các nhà ngôn ngữ học có quan điểm khác nhau với ngữ khí và tình thái. Lyons(1995:331)cho rằng: ngữ khí (mood) là để định nghĩa cái phạm trù mà được hình thành sau tình thái (modality) ngữ pháp hoá. Sử Kim Sinh(2003)nghiên cứu phó từ ngữ khí cũng không khu biệt ngữ khí và tình thái. Lỗ Xuyên(2003)chủ trương phải khu biệt rõ ràng và cho rằng: ngữ khí là đối với “người” và tình thái là đối với “việc”.
Trong quá trình nghiên cứu ý nghĩa của trợ từ ngữ khí thì không thể khu biệt được ngữ khí và tình thái. Vì trợ từ ngữ khí vừa có thể biểu thị ý nghĩa ngữ khí vừa biểu thị ý nghĩa tình thái. Ý nghĩa ngữ khí chủ yếu chỉ những ý nghĩa như trần thuật, cầu khiến, nghi vấn, cảm thán.v Ý nghĩa tình thái chủ yếu là những ý nghĩa như khẳng định, suy đoán, kinh ngạc.v Ý nghĩa ngữ khí và ý nghĩa tình thái không có giới hạn rõ rệt. Thế ngữ khí của trợ từ ngữ khí phải phân loại như thế nào? Vương Lực và Lữ Thúc Tương với tư cách là nhà ngôn ngữ học nổi tiếng đã phân loại ý nghĩa ngữ khí và trợ từ ngữ khí khá sớm.
Vương Lực (1944:160) cho rằng: “phương thức biểu thị mà ngôn ngữ đối với các tính tình chính là ngữ khí; Hư từ mà biểu thị ngữ khí là ngữ khí từ.” Vương Lực chia ngữ khí của ngữ khí từ là 4 đại loại và 12 tiểu loại: 1) Ngữ khí khẳng định, bao gồm ngữ khí quyết định “了(rồi đấy)” , ngữ khí biểu minh “的 (chứ/đâu)”, ngữ khí khoa trương “呢(hử/hở/hả)、罢了(thôi)”; 2) Ngữ khí bất định, bao gồm ngữ khí nghi vấn “吗(à/nhỉ)、呢(hử/hở/hả)”, ngữ khí phản vấn “不成” , ngữ khí giả thiết “呢” và ngữ khí suy đoán “罢”; 3) Ngữ khí ý chí, bao gồm ngữ khí cầu khiến “罢”, ngữ khí giục “啊” và ngữ khí chịu đựng “也罢、罢了”; 4) Ngữ khí cảm thán, bao gồm ngữ khí bất bình “吗” và ngữ khí luận lý “啊”. Quan điểm tiêu biểu nhất của Vương Lực không phải là nhấn mạnh mối tương quan giữa ngữ khí và ý niệm, mà là nhấn mạnh mối tương quan giữa ngữ khí và tâm trạng. Câu tất nhiên biểu đạt ý nghĩa, nhưng do những người ngỏ lời có tâm trạng chủ quan. Loại tâm trạng này là cơ sở tâm lý mà người ngỏ lời lựa 9 z chọn thái độ, kết câu cú pháp và thức câu, mà được biểu hiện trong phát ngôn là hình thành ngữ khí.
Nên bất cứ phát ngôn nào đều không phải là biểu hiện ngôn ngữ thuần tuý về kết cấu khái niệm thế giới khách quan, mà là biểu hiện phát ngôn về “ kết cấu khái niệm + tâm trạng chủ quan ”. Nói cách khác, bất cứ phát ngôn nào đều có ngữ khí. Cái khác nhau về ngữ khí trong phát ngôn, chẳng phải là có hay không về ngữ khí mà là sự khác nhau về kiểu loại, cường độ và phương thức biểu hiện của ngữ khí. Lữ Thúc Tương cho rằng ngữ khí có nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Ngữ khí với nghĩa rộng chia là ngữ nghĩa, ngữ khí và ngữ thế; Ngữ khí với nghĩa hẹp chia là: sự trần thuật trực tiếp và nghi vấn liên quan đến nhận thức, sự bàn bạc và cầu khiến liên quan đến hành động, sự cảm thán và kinh ngạc liên quan đến tình cảm.v Thái Điền Thần Phu (1958) và Chu Đức Hi tiến bộ hơn, chúng kết hợp ý nghĩa và hình thức để phân loại trợ từ ngữ khí.