Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, ngoại giao văn hóa đã trở thành một trụ cột chiến lược nhằm gia tăng sức mạnh mềm quốc gia trên trường quốc tế. Trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020, ngành công nghiệp truyền hình Trung Quốc đã ghi nhận bước nhảy vọt ấn tượng khi kim ngạch xuất khẩu phim tăng từ 1.639 nghìn Nhân dân tệ lên 41.345 nghìn Nhân dân tệ, tương đương mức tăng trưởng hơn 25 lần; số lượng phát hành vươn từ 111 bộ với 3.685 tập lên 402 bộ với 16.709 tập. Sự gia tăng vượt bậc này đã đưa làn sóng văn hóa Trung Hoa thâm nhập mạnh mẽ vào các quốc gia Đông Nam Á, trong đó Việt Nam là một trong những địa bàn tiếp nhận trọng điểm.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ cơ chế thẩm thấu và mức độ lan tỏa của các giá trị văn hóa Trung Quốc vào đời sống tinh thần của giới trẻ Việt Nam thông qua các sản phẩm truyền hình. Mục tiêu cụ thể của đề tài gồm: hệ thống hóa quá trình du nhập của phim ảnh Trung Quốc qua các thời kỳ; phân tích thực trạng tiếp nhận và đánh giá tác động hai chiều (tích cực và tiêu cực) đối với thanh niên; từ đó đề xuất các nhóm giải pháp nhằm định hướng thị hiếu thẩm mỹ và xây dựng bộ lọc văn hóa vững chắc cho thế hệ trẻ.

Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian tập trung vào giai đoạn bản lề từ năm 2010 đến năm 2020, kết hợp số liệu khảo sát thực địa được thu thập từ tháng 1/2022 đến tháng 7/2022. Phạm vi không gian được triển khai tại 5 đô thị trung tâm đại diện cho các vùng miền cả nước gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ. Đóng góp của nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống 220 mẫu khảo sát xã hội học thực chứng, phân tích tỷ trọng 25% thời lượng phim ngoại nhập trên sóng VTV3, hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý văn hóa và hoạch định chính sách truyền thông đại chúng tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết Sức mạnh mềm (Soft Power) của nhà khoa học chính trị Joseph Nye. Khung lý thuyết này khẳng định rằng một quốc gia có thể đạt được các mục tiêu đối ngoại thông qua sức hút văn hóa, hệ giá trị tư tưởng và chính sách ngoại giao mang tính thuyết phục, thay vì sử dụng sức mạnh cứng bằng quân sự hay áp đặt kinh tế. Thông qua xuất khẩu phim ảnh, các giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại được lan tỏa một cách tự nhiên, tạo lập hình ảnh quốc gia tích cực trong tâm trí công chúng nước ngoài.

Bên cạnh đó, đề tài kết hợp lý thuyết Truyền thông liên văn hóa (Cross-cultural Communication) và khung phân tích nghệ thuật điện ảnh của David Bordwell cùng Kristin Thompson. Các mô hình này lý giải cách thức cấu trúc hình tượng, kịch bản, ngôn ngữ hình ảnh và kỹ xảo điện ảnh tác động đến cơ chế tiếp nhận tâm lý của khán giả, giúp người xem tiếp thu các chuẩn mực đạo đức, phong cách sống một cách vô thức.

Ba khái niệm nòng cốt được vận dụng xuyên suốt công trình gồm:

  • Sức mạnh mềm văn hóa: Nguồn lực phi vật thể có khả năng hấp dẫn, lôi cuốn và định hình sở thích của công chúng quốc tế dựa trên các sản phẩm nghệ thuật, tư tưởng và lối sống.
  • Giới trẻ: Căn cứ theo Luật Thanh niên số 57/2020/QH14 quy định thanh niên là công dân Việt Nam từ đủ 16 đến 30 tuổi; trong phạm vi khảo sát thực địa của đề tài, nhóm đối tượng tập trung vào lứa tuổi từ 18 đến 30 tuổi, độ tuổi có khả năng tiếp nhận truyền thông nhanh nhạy nhất.
  • Phim truyền hình nhiều tập (Television drama series): Thể loại phim truyện có cốt truyện phân đoạn dài tập, được sản xuất và phát sóng trên hệ thống truyền hình đại chúng hoặc nền tảng số định kỳ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu học thuật:

  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu điều tra xã hội học gồm 220 người trong độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi, sinh sống và học tập tại 5 thành phố lớn (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cho các nhóm sinh viên và người trẻ đã đi làm.
  • Kỹ thuật thu thập dữ liệu: Bảng câu hỏi khảo sát cấu trúc gồm 8 nhóm chỉ báo được gửi trực tiếp và trực tuyến đến đối tượng khảo sát. Tiếp đó, tác giả tiến hành phỏng vấn sâu cá nhân đối với 15 sinh viên được lựa chọn ngẫu nhiên từ mẫu điều tra để đào sâu cảm nhận tâm lý và động cơ xem phim.
  • Phương pháp phân tích và lý do lựa chọn: Phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp tài liệu thứ cấp được khai thác từ Niên giám Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc giai đoạn 2010 - 2020, báo cáo phát sóng của Đài Truyền hình Việt Nam và các công trình nghiên cứu chuyên ngành. Việc kết hợp phương pháp định lượng và định tính giúp lượng hóa chính xác tỷ lệ yêu thích từng thể loại phim, đồng thời diễn giải thấu đáo nguyên nhân tâm lý xã hội của hiện tượng du nhập văn hóa.
  • Timeline nghiên cứu: Quá trình tổng hợp tư liệu thứ cấp kéo dài xuyên suốt giai đoạn 2010 - 2020, dữ liệu sơ cấp thực địa được triển khai thu thập và xử lý từ tháng 1/2022 đến tháng 7/2022.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, phim truyền hình Trung Quốc chiếm lĩnh tỷ phần phát sóng đáng kể trên các kênh truyền hình trung ương và địa phương của Việt Nam. Thống kê tại kênh VTV3 cho thấy, từ năm 2010 đến năm 2015, có 19 bộ phim Trung Quốc được mua bản quyền phát sóng, chiếm 25% tổng số lượng phim truyền hình ngoại nhập trên kênh này. Trên các đài địa phương, tần suất phát sóng duy trì từ 3 đến 5 bộ phim mỗi ngày trên các khung giờ từ sáng đến tối.

Thứ hai, cơ cấu thể loại phim truyền hình Trung Quốc được giới trẻ Việt Nam đón nhận rất phong phú nhưng có sự phân hóa rõ rệt. Kết quả khảo sát 220 mẫu cho thấy dòng phim ngôn tình dẫn đầu mức độ yêu thích với 35,50% lựa chọn ở mức rất thích; phim kiếm hiệp xếp vị trí thứ hai với 20,50%; tiếp đến là dòng phim cổ trang cung đấu chiếm khoảng 15,00% đến 20,00%; trong khi phim gia đình chiếm 10,00% và phim thần thoại chiếm khoảng 5,00%.

Thứ ba, sức sống trường tồn của các tác phẩm truyền hình kinh điển tiếp tục duy trì mức độ nhận diện tuyệt đối. Khi được yêu cầu tự viết ra từ 1 đến 3 bộ phim truyền hình Trung Quốc được yêu thích nhất, có tới 129 trên tổng số 220 phiếu (tương đương 58,64%) đã gọi tên tác phẩm Tây Du Ký phiên bản năm 1986. Tác phẩm này được các đài truyền hình như Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội phát sóng lại trên 10 lần và Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh phát lại trên 6 lần trong giai đoạn khảo sát.

Thứ tư, phương thức thâm nhập đã chuyển dịch căn bản từ hình thức trao tặng ngoại giao văn hóa đơn thuần (giai đoạn 1991 - 2000 với các bộ phim Khát Vọng, Tam Quốc Diễn Nghĩa) sang giai đoạn thương mại hóa toàn diện (giai đoạn 2000 - 2020). Giá trị xuất khẩu truyền hình của Trung Quốc chạm mốc 41.345 nghìn Nhân dân tệ vào năm 2020 với 402 bộ phim, tạo nên các cơn sốt truyền thông lớn tại Việt Nam như Diên Hi Công Lược, Hậu Cung Chân Hoàn Truyện hay Trần Tình Lệnh.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi giúp phim truyền hình Trung Quốc tạo dựng sức hút mạnh mẽ xuất phát từ sự tương đồng sâu sắc về cội nguồn văn hóa Á Đông, hệ giá trị đạo đức Nho giáo và triết lý nhân sinh giữa hai dân tộc. Bên cạnh đó, mức kinh phí đầu tư khổng lồ từ các hãng sản xuất (nhiều dự án cung đấu đạt mức kinh phí hàng chục triệu USD), công nghệ trường quay hiện đại bậc nhất thế giới tại Hoành Điếm, Trác Châu cùng dàn diễn viên trẻ đẹp đã tạo ra các sản phẩm nghe nhìn hoàn mỹ.

Khi so sánh với làn sóng Hallyu của Hàn Quốc vốn tập trung vào lối sống đô thị hiện đại và thời trang sành điệu, phim ảnh Trung Quốc lại tạo ưu thế tuyệt đối ở mảng phim dã sử, kiếm hiệp và huyền huyễn nhờ khai thác kho tàng văn học đồ sộ của Kim Dung, Cổ Long hay các tiểu thuyết mạng ăn khách.

Về mặt học thuật, các dữ liệu này có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua một Biểu đồ tròn (Pie chart) minh họa cơ cấu thị phần thể loại phim được yêu thích (ngôn tình 35,50%, kiếm hiệp 20,50%, cổ trang 20,00%, gia đình 10,00%) và một Bảng ma trận 2x2 thể hiện tương quan giữa mức độ đầu tư kỹ xảo và mức độ thẩm thấu sức mạnh mềm văn hóa vào nhận thức giới trẻ.

Tuy nhiên, sự thâm nhập ồ ạt cũng đặt ra thách thức tiêu cực khi một bộ phận khán giả trẻ có xu hướng sùng bái thần tượng thái quá, tiếp nhận các giá trị tình yêu ảo tưởng, hoặc chịu ảnh hưởng bởi những nội dung lịch sử bị hư cấu sai lệch so với sự thật khách quan.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy những giá trị thẩm mỹ tích cực và kiểm soát triệt để các tác động tiêu cực từ làn sóng phim truyền hình Trung Quốc, các giải pháp đồng bộ cần được triển khai:

Thứ nhất, tăng cường công tác quản lý nhà nước và rà soát khung pháp lý: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Bộ Thông tin và Truyền thông cần chuẩn hóa quy chế cấp phép phát sóng, thiết lập tỷ lệ tối thiểu 30% đến 40% thời lượng phát sóng dành cho phim truyền hình nội địa trên các khung giờ vàng từ 19h00 đến 22h00; kiểm duyệt nghiêm ngặt các chi tiết cài cắm quan điểm lịch sử, địa lý và chủ quyền biển đảo xuyên tạc giai đoạn 2024 - 2026.

Thứ hai, nâng cao năng lực sản xuất phim truyền hình Việt Nam: Các đài truyền hình như VTV, HTV và các hãng phim tư nhân cần học hỏi kỹ thuật dàn dựng, mô hình sản xuất chuyên nghiệp của các nước trong khu vực; đầu tư chiều sâu cho kịch bản phản ánh chân thực đời sống giới trẻ hiện đại nhằm mục tiêu gia tăng 25% tỷ lệ khán giả theo dõi phim nội địa vào năm 2027.

Thứ ba, đẩy mạnh công tác giáo dục định hướng thị hiếu thẩm mỹ: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các cơ sở giáo dục đại học cần tổ chức định kỳ 2 lần mỗi năm học các diễn đàn chuyên đề về tiếp nhận văn hóa phẩm ngoại lai, trang bị kỹ năng tư duy phản biện cho trên 80% sinh viên trước các trào lưu giải trí trên không gian mạng từ năm học 2024 - 2025.

Thứ tư, xây dựng ý thức tiếp nhận văn hóa chủ động ở giới trẻ: Mỗi cá nhân thanh niên cần nâng cao ý thức tự tôn dân tộc, lựa chọn các sản phẩm nghe nhìn lành mạnh, tránh lãng phí thời gian sinh hoạt và học tập vào các dòng phim ủy mị, đồng thời tích cực quảng bá bản sắc văn hóa Việt Nam ra cộng đồng quốc tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu của luận văn mang giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Đông Phương học, Trung Quốc học, Văn hóa học và Truyền thông đại chúng: Sử dụng luận văn làm nguồn tài liệu tham khảo chuẩn xác về lý thuyết sức mạnh mềm, mô hình phân loại phim truyền hình và phương pháp điều tra xã hội học thực chứng.
  • Cơ quan quản lý văn hóa và ban biên tập các đài truyền hình: Vận dụng số liệu phân tích về tỷ lệ khung giờ, thị hiếu khán giả để xây dựng quy hoạch phát sóng và chính sách quản lý bản quyền nghe nhìn phù hợp với định hướng văn hóa quốc gia.
  • Biên kịch, đạo diễn và các đơn vị sản xuất phim truyện trong nước: Khai thác kết quả khảo sát về nhu cầu tâm lý của nhóm tuổi 18 đến 30 tuổi nhằm định hình phong cách làm phim, cải tiến kịch bản đáp ứng đúng thị hiếu khán giả trẻ.
  • Các nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế và ngoại giao công chúng: Ứng dụng các phân tích ca bệnh thực tế về xuất khẩu văn hóa truyền hình của Trung Quốc để đánh giá xu hướng cạnh tranh sức mạnh mềm tại khu vực Đông Nam Á.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Tại sao phim truyền hình Trung Quốc lại duy trì được sức hấp dẫn đặc biệt đối với giới trẻ Việt Nam? Sự hấp dẫn này bắt nguồn từ sự tương đồng sâu sắc về nền tảng văn hóa Á Đông, các giá trị luân lý gia đình và triết lý nhân sinh. Thêm vào đó, nguồn vốn đầu tư hàng triệu USD cho kỹ xảo, trang phục cùng dàn diễn viên thần tượng đã đáp ứng trọn vẹn nhu cầu nghe nhìn và thị hiếu thẩm mỹ của thanh thiếu niên.

Câu hỏi 2: Thể loại phim truyền hình Trung Quốc nào được giới trẻ Việt Nam yêu thích nhất theo số liệu khảo sát? Dựa trên kết quả khảo sát 220 mẫu thực tế, phim ngôn tình chiếm vị trí dẫn đầu với 35,50% lựa chọn ở mức rất thích. Đứng thứ hai là dòng phim kiếm hiệp với 20,50%, tiếp theo là phim cổ trang cung đấu và dã sử với tỷ lệ lựa chọn dao động từ 15,00% đến 20,00%.

Câu hỏi 3: Tiến trình du nhập của phim truyền hình Trung Quốc vào Việt Nam được phân kỳ như thế nào? Tiến trình này trải qua 2 giai đoạn chính: giai đoạn giao lưu văn hóa (1991 - 2000) với hình thức phim trao tặng ngoại giao như Khát Vọng, Tây Du Ký; và giai đoạn thương mại hóa (2000 - 2020) khi các đài truyền hình Việt Nam trực tiếp mua bản quyền thương mại với 19 phim phát sóng riêng trên kênh VTV3.

Câu hỏi 4: Tác động tiêu cực đáng chú ý nhất của làn sóng phim này đến giới trẻ là gì? Tác động tiêu cực nổi cộm là việc tiếp nhận thụ động các quan niệm tình cảm ủy mị xa rời thực tế từ phim ngôn tình, tình trạng lãng phí quỹ thời gian học tập, và nguy cơ lệch lạc nhận thức lịch sử khi khán giả trẻ tiếp xúc với các chi tiết dã sử bị hư cấu sai sự thật.

Câu hỏi 5: Cỡ mẫu và phạm vi khảo sát của đề tài được triển khai cụ thể ra sao? Nghiên cứu tiến hành thu thập 220 phiếu điều tra xã hội học hợp lệ đối với thanh niên trong độ tuổi từ 18 đến 30 tuổi. Địa bàn khảo sát được phân bổ đồng đều tại 5 thành phố lớn gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ trong thời gian từ tháng 1/2022 đến tháng 7/2022.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện tiến trình du nhập và phát triển của phim truyền hình Trung Quốc tại Việt Nam qua hai giai đoạn then chốt từ năm 1991 đến năm 2020.
  • Khẳng định vai trò xung kích của ngành truyền hình trong chiến lược lan tỏa sức mạnh mềm văn hóa của Trung Quốc với kim ngạch xuất khẩu đạt mốc 41.345 nghìn Nhân dân tệ vào năm 2020.
  • Lượng hóa rõ nét thị hiếu của giới trẻ thông qua khảo sát thực chứng 220 mẫu, xác định dòng phim ngôn tình (35,50%) và kiếm hiệp (20,50%) là hai thể loại chiếm ưu thế vượt trội.
  • Phân tích đa chiều tác động tích cực về mặt giải trí, bồi dưỡng ngôn ngữ song song với việc cảnh báo các nguy cơ tiêu cực về lối sống thụ động và suy giảm thị phần phim nội địa.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược gắn liền với lộ trình triển khai từ năm 2024 đến năm 2027 dành cho cơ quan quản lý, đơn vị truyền thông và tổ chức giáo dục.

Công trình đóng góp một cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc cho chuyên ngành Đông Phương học và nghiên cứu truyền thông liên văn hóa. Trong giai đoạn tiếp theo, hướng nghiên cứu có thể mở rộng khảo sát trên các nền tảng phát video trực tuyến (OTT) xuyên biên giới như iQiyi, Tencent Video và Netflix. Các cơ quan quản lý và các nhà làm phim Việt Nam cần chủ động tham khảo công trình để có những bước đi đột phá trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm văn hóa nước nhà.