Chương 1 NEN TANG MOI QUAN HỆ VĂN HOA GIỮA ÁN ĐỘ VA VIET NAM An độ là một trong bốn quốc gia cô lớn nhất thé giới. Văn hóa An Độ chiếm một vị trí đặc biệt ở phương Đông, vì vậy, nó có những ảnh hưởng đáng kể ra khu vực và thế giới. Phát triển rực rỡ trong nhiễu ngàn năm, nên văn hóa Ấn Độ đã khiến nhiễu người ngưỡng mộ. Trong bài giảng đọc tại trường Đại học Cambridge, Anh, năm 1882, học giả người Đức nỗi tiếng Max Muller đã nói: “Nếu chúng ta phải tìm trên toàn thé giới một nước được trời phú nhiều nhất về của cải, sức mạnh và vẻ đẹp thiên nhiên- trên một số điểm có thể coi là thiên đường trên mặt đất- thì tôi sẽ chỉ ngay vào Án Độ.
Nếu tôi được hỏi dưới bầu trời nào trí óc con người đã phát triển một cách đầy đủ nhất những năng khiếu hoàn hảo nhất của mình, đã suy tư sâu sắc nhất về những vấn đề lớn lao nhất của cuộc sống và đã tìm ra lời giải của một vài van dé trên, hoàn toàn xứng đáng nhận được sự chú ý của ngay cả những người đã nghiên cứu Platon và Kant - thì tôi cũng chỉ ngay vào Ấn Độ. Và nếu tôi tự hỏi mình rằng từ nền văn học nào mà chúng ta - những người ở châu Âu này, những người đã được nuôi dưỡng hầu như hoàn toàn với tư tưởng của người Hy Lạp, La Mã và của một chủng tộc Xemit là người Do Thái, có thé rút ra được cái yếu tố điều hòa hiện đang cần nhất dé làm cho cuộc sống bên trong của chúng ta hoàn thiện hơn, toàn diện hơn, phổ biến hơn, thực tê là một cuộc sông thực sự con người hơn, không phải chỉ cho cuộc đời này, mà còn cho biến hình và vĩnh cửu- thì tôi lại chỉ ngay vào Ấn Độ”. 136] Gần nửa thế kỷ sau, văn sĩ Pháp Romain Rolland cũng viết tương tự: “Nếu có một nơi nào trên bề mặt Trái Đất mà ở đó tất cả những ước mơ của con người đã tìm được một quê hương ngay từ thời kỳ nguyên sơ khi con người bắt đầu mơ ước về sự tồn tại của mình, thì đó là Ấn Độ”. [22, 138] Chính những thành tựu lớn lao đó của văn hóa Án Độ đã có sức thuyết phục và lan tỏa, tạo ra những quê hương mới trên những vùng đất xa xôi.
Tại các nước châu Á, nhất là các nước Đông Nam A, văn hóa An Độ đã bat đầu phủ một lớp khá dày lên văn hóa bản địa, tạo thành một dấu ấn nổi bật, không bao giờ bi phai mờ. Vào dau Công Nguyên, nên văn minh An Độ đã bắt dau lan ra ngoài vịnh Bengal vào Đông Nam A qua cả đất liền lẫn hải đảo. Vào khoảng cuốỗi thế kỷ thứ V sau Công Nguyên, các quốc gia ở đây đã được tổ chức theo những quy tắc truyền thống của lý thuyết về chính trị của Ấn Độ hay đi theo giáo điều của đạo Phật và đạo Hinđu của Ấn Độ tại Miến Điện, Thái Lan, Đông Dương, Mã Lai đa đảo (Singapore, Inđônêsia và Malaysia ngày nay), Có học giả đã mô tả những vùng này là “vùng ngoại biên của Ấn Độ”. Nhiều học giả khác lại mô tả sự mở rộng về phía Đông của nền văn minh Ấn Độ trong hình ảnh là hàng loạt “đợt sóng” và quả thực, có những lý do khi cho rằng “những dot sóng” này hiện vẫn còn đập vào bở biển của các nước Đông Nam A cho đến tận ngày nay.
Trong cuốn Lich sử cổ đại của các quốc gia An hóa vùng Viễn Đông, nhà nghiên cứu người Pháp G. Coèdes đã nói đây là “Sự lan tỏa của một nền văn hóa có tô chức, dựa trên quan niệm Hindu về Vương quyền, được xác định đặc trưng băng sự tôn thờ Hindu giáo va Phat giáo, hệ thần thoại Purana, tin theo Dharma và lẫy sanskrit làm phương tiện diễn đạt. [46, 120] 10 Các nền văn hóa của các nước Đông Nam Á hiện đại vẫn còn mang nhiều dau ấn của thời kỳ tiếp xúc lâu dai với văn hóa An Độ. Một số ngôn ngữ của vùng này (như Malay và Java) chứa đựng một thành phần quan trọng những từ có nguồn gốc sanskrít và Dravidian, văn tự sanskrít đã từng là nguôồn gốc của chữ Thái, chữ Lao, chữ Khmer.
Những dấu tích ảnh hưởng của văn hóa An Độ đến ngày nay vẫn còn han nỗi trên các công trình kiến trúc, điêu khắc và các lọai hình khác của văn hóa khu vực nay. Các bộ sử thi vĩ dai, trong đó có Ramayana và Mahabharata của Ấn Độ đã thâm nhập vào nhiều lọai hình văn hóa nghệ thuật của khu vực Đông Nam Á. Đặc biệt, ngay cả một đất nước có nền văn minh vĩ đại ở phương Đông như Trung Quốc cũng đã chịu ảnh hưởng rất lớn của văn hóa An Độ qua sự tiếp nhận đạo Phật, yoga, âm nhạc (nhất là đời Đường), thiên văn và chiếm tinh học. Và từ đây, văn hóa An Độ với các thành tố của nó đã tiếp cận và dé lại những dấu ấn sâu sắc đối với các nước Đông Bắc Á như Hàn Quốc, Nhật Bản trong cả đời sống hàng ngày lẫn các họat động có tính quốc gia như tang ma, kinh cầu hôn, lễ Phật Dan, lễ Vu Lan, ăn chay.Đặc biệt là Thiền Tông đã phát triển rất mạnh và có tầm ảnh hưởng sâu rộng tại Nhật Bản.
Thiền ăn sâu vào tiềm thức người Nhật. Thiền đã đi vào hoa, vào tra, vào nếp sống, nếp nghĩ của người dân và cuối cùng, họ đã nâng chúng lên thành nghệ thuật như Trà Đạo, Hoa Đạo. Bản chất khiêm tốn mà sắc bén, nhân ái mà quật cường của người Nhật được cả thế giới ngưỡng mộ cũng có thể được coi là kết quả từ sự thực nghiệm Thiền Định. Sự tiếp thu văn hóa Ấn Độ của Đông Bắc Á có thời điểm tương đối muộn so với các nước ở Đông Nam Á.
Họ có thái độ chủ động trong tiếp nhận, tuy có lúc thăng tram nhưng nói chung, giới cam quyền tạo nhiều điều kiện thuận lợi dé tiếp nhận văn hóa An Độ, đặc biệt là Phật giáo. Theo quan 11 điểm của các nhà nghiên cứu hiện đại, đây là quá trình tw An Độ hóa của các nước Đông Bắc Á. Sơ qua vài vi dụ như vậy, chúng ta cũng có thé nhận thấy rằng việc tiếp nhận văn hóa An Độ tại các nước châu A là tiếp nhận có lựa chọn, chủ động và kết hợp với các thành tố văn hóa bản địa, tạo nên sắc thái rất riêng, độc đáo, không thé trộn lẫn so với văn hóa An Độ nói riêng và văn hóa thé giới nói chung. Văn hoá Ấn Độ đã từng có ảnh hưởng cực lớn trên thế giới như vậy là do tính tâm linh, tính đa dạng, tính bao dung rõ rệt mạnh mẽ cũng như thành tựu văn hóa vô cùng rực rỡ.
Với trường hợp Việt Nam, truyện văn hoá Ấn Độ truyền vào Việt Nam đã bắt đầu từ lâu. Thời điểm và cách tiếp xúc của văn hoá An Độ vào Việt Nam 1. Trước và sát đầu Công Nguyên: Những tư liệu hàng hải quốc tế của người A Rap đã đề cập đến các địa danh phía Đông chi đem lại những sự suy đoán khác nhau nhưng khó có thé khang định chắc chắn rằng thiên niên ky thứ nhất trước Công Nguyên, con đường hang hải ven bién đó đã từng đến Viễn Đông. Các cuộc khai quật khảo cổ học tiến hành dưới thời trường Viễn Đông Bác Cổ và nhất là các cuộc khai quật do các nhà khảo cô học Việt Nam tiến hành đã đem lại một khối lượng tư liệu phong phú, song cũng mang trong di vật những thông tin khó xác định.
Điều chúng ta có thể khăng định là vào khoảng đầu Công Nguyên đã xuất hiện một loạt nền văn hoá thuộc thời đại kim khí trên khắp lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Những tư liệu khảo cổ học đã được nghiên cứu với kết luận về sự tồn tại của nền văn hoá Đông Sơn nỗi tiếng. Ở miền Trung, văn hoá Sa Huỳnh cũng được khăng định. Văn hoá Óc Eo ở miền Nam cũng đã được khang định trên những nét căn ban.
12 Trong các nền văn hoá đó của Việt Nam, dấu ấn An Độ thé hiện như thé nào, khi nao, ở đâu, trên những lĩnh vực nảo là những câu hỏi mà chúng ta phải trả lời. Trong phần nghiên cứu này, chúng tôi chỉ mới cố gắng tìm hiểu về những dấu ấn đó trong văn học dân gian Việt Nam. Miền Trung: Trong văn hoá Sa Huỳnh nổi lên hiện tượng mộ chum và thường thay dau hiệu hoa tang. Đó là một hiện tượng tín ngưỡng có thé lý giải liên quan đến tục hoả táng sâu đậm ở An Độ, thịnh hành trong Phật giáo, tuy ra đời trước Phật giáo [xem 30].
Nói đến dấu ấn của văn hoá Ấn Độ tại Việt Nam thì không thê không nói đến văn hoá Chăm ở miền Trung. Tư liệu thư tịch cổ nói đến người Chăm thờ những thần tượng cao lớn và dé cập đến Ni Kién Đà - Đạo Ni Kién. Sách Nam Tẻ Thư ghi: "Nước Lâm Ấp có núi vàng, nước có vàng chảy ra sông, thờ đạo Ni Can, đúc tượng vàng tượng bạc lớn 10 vi". [33, 385] Ni Can còn đọc là Ni Kién là từ gọi tắt của Nigantha Nataputta, là thuật ngữ Phật giáo chỉ Vardhamana, người sáng lập ra Jainism, đồng thời cùng với Phật giáo, tương truyền sống vào thé kỷ VI-V trước CN.
Trong Kinh Phat đề cập đến ông như một trong sáu vi đại sư bi Gautama phê phán. Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn có đề cập đến Ni Kiền tử - Đạo Jain và Phạm Chí - Brahmanism chứng tỏ Gautama đã cải đạo cho những tín đồ ngoại đạo này. [33, 383] Đạo Ni Kién là gi? Khoảng thé ky VI trước CN, dao Bàlamôn suy thoái, một loạt tôn giáo mới xuất hiện phản đối Bàlamôn giáo. Dao Jain và Phật giáo là hai tôn giáo mới xuất hiện đều phản đối Brahma với tư cách là Than sáng tạo tối cao, phản đối chế độ dang cấp với sự ưu việt của đắng cấp Bàlamôn, phản đối hiến tế sát sinh.
[35, 62] Tương truyền Đạo Jain có từ lâu đời, đã trải qua 23 tô, đến tô thứ 24 thì hoàn thiện về giáo lý, giáo nghi, giáo đoàn - tức Vardhamana. [xem 32] Dao Jain ảnh hưởng rất mạnh ở vùng hạ lưu 13 sông Hăng và Nam Án Độ. Thực tế thì chính Vardhamana mới là người sáng lập ra dao Jain. Tín đồ gọi ông là Đạo Hùng, tac tượng thờ ông và các tô tiền bối.
Đặc trưng cơ bản của tượng tô là quy mô to lớn, hiện còn một sé tuong tô cao 57 thước Anh (một thước Anh là 0,98m).