Tổng quan luận án
Công trình Đặc điểm du kí Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX của nghiên cứu sinh Nguyễn Hữu Lễ được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học – Đại học Huế dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thái Học, bảo vệ năm 2015. Luận án thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 62 22 01 21, thuộc hệ đào tạo Tiến sĩ Ngôn ngữ và Văn hoá Việt Nam.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án chỉ rõ rằng văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX là giai đoạn có ý nghĩa bước ngoặt trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc. Tuy nhiên, giới nghiên cứu trong một thời gian dài thường có xu hướng tập trung vào các thể loại chính thống như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, kịch, dẫn đến việc bỏ qua các thể loại cận văn chương và mang tính đại chúng như tản văn, bút kí, hồi kí và du kí. Hiện tượng này vô hình trung đã tách văn học ra khỏi môi trường văn hóa phát triển của nó. Dù thể loại du kí từng bùng phát hai lần trong lịch sử văn học Việt Nam (lần thứ nhất vào nửa đầu thế kỉ XX và lần thứ hai vào đầu thế kỉ XXI), du kí vẫn chưa được khảo sát đầy đủ và nghiêm túc bằng các công trình lý luận và lịch sử chuyên biệt. Quan niệm về thể loại du kí ở Việt Nam chưa có sự thống nhất, chủ yếu xem du kí là một tiểu loại nằm trong thể loại kí bên cạnh phóng sự, nhật kí, tùy bút, tản văn. Ranh giới giữa các tiểu thể loại này vốn mờ nhòe, chuyển hóa lẫn nhau. Do đó, yêu cầu cấp thiết được đặt ra là phải phân định ranh giới thể loại của du kí thông qua việc khảo cứu đặc điểm thực tiễn sáng tác, nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn văn học sử như ý kiến nhận định của Phong Lê và Nguyễn Hữu Sơn được tác giả trích dẫn.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể qua ba nội dung:
- Xác lập cách hiểu hợp lí về thể loại, khái niệm du kí, xây dựng các vấn đề lí thuyết về thể loại của du kí để làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu lịch sử vận động hình thành thể loại và đặc điểm du kí Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX.
- Xác định những đặc điểm cơ bản của du kí Việt Nam về nội dung và hình thức để thấy được những đóng góp của nó trong quá trình hiện đại hóa văn học và làm phong phú diện mạo văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX.
- Chỉ ra được các phong cách tiêu biểu để góp phần minh chứng cho sự phát triển của thể loại du kí trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ các tác phẩm du kí Việt Nam sáng tác trong nửa đầu thế kỉ XX, bao gồm các tác phẩm đăng tải trên các báo và tạp chí đương thời như Nam Kỳ tuần báo, An Nam tạp chí, Nam Phong tạp chí, Phụ nữ Tân văn, Tri Tân, Thanh Nghị, Tao Đàn, Phong hóa... cùng các ấn phẩm du kí đã xuất bản thành sách.
- Phạm vi nghiên cứu: Về mặt lí thuyết, đề tài tập trung vào hệ thống lí luận thể loại và lịch sử văn học. Về mặt tư liệu, luận án khảo sát hệ thống văn bản du kí nửa đầu thế kỉ XX, vượt ra ngoài phạm vi 62 tác phẩm trên tạp chí Nam Phong mà học giả Nguyễn Hữu Sơn từng tuyển chọn. Đồng thời, luận án khảo sát điểm qua các tác phẩm du kí trước thế kỉ XX để thiết lập hệ quy chiếu lịch đại. Về phân loại phong cách, tác giả tập trung khảo sát sâu ba tác giả tiêu biểu đại diện cho ba xu hướng/loại hình sáng tác: Nguyễn Đôn Phục (du kí có yếu tố Hán, phong cách truyền thống), Phạm Quỳnh (phong cách hiện đại) và Mãn Khánh Dương Kỵ (du kí chứa yếu tố hư cấu, tưởng tượng, phong cách huyền thoại hóa).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được tác giả phân định thành hai mảng nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước.
Ở nước ngoài, từ thập niên 90 của thế kỉ XX, phê bình du kí phát triển mạnh với sự ra đời của Hiệp hội Du kí Quốc tế (ISTW – International Society for Travel Writing). Luận án điểm lại các quan niệm học thuật tiêu biểu:
- Xu Zong Yuan (Hứa Tông Nguyên - 2005) trong bài viết Mấy vấn đề lí thuyết về thể loại du kí (旅游文学论纲) tiếp cận du kí dưới góc độ văn học du lịch và hoạt động thẩm mĩ.
- V. Shachkova (2009) trong luận án về Mark Twain định nghĩa du kí là sự kết hợp các yếu tố kể chuyện, thống kê, khoa học tự nhiên và xã hội bằng hình thức văn chương.
- Claire Lindsay (trong Du kí đương đại châu Mỹ Latinh) viện dẫn Patrick Holland, Graham Huggan, Jan Borm để khẳng định đặc trưng phi hư cấu, nơi tác giả, người kể chuyện và nhân vật chính là một.
- Balazs Venkovits khảo sát du kí Hungary, xem thể loại này là hiện tượng văn hóa cá nhân trong các cuộc hành trình.
- V. Guminski đại diện cho quan điểm du kí phi hư cấu dựa trên ghi chép của nhân chứng, trong khi V. Mikhailov (1999) lại xem du kí là một thể loại tiểu thuyết về cuộc hành trình có yếu tố hư cấu. Stetcenko đánh giá du kí là thể loại biện chứng giữa chủ quan và khách quan.
- Carl Thompson với chuyên khảo Travel Writing tổng kết các tranh luận học thuật hậu thuộc địa, dẫn các quan điểm của Zweder Von Martels, Paul Fussell, Holland và Huggan. Tim Youngs trong The Cambridge Introduction to Travel Writing dẫn Jonathan Raban xem du kí là "ngôi nhà mở" hay thể loại pha trộn nằm giữa quan sát khoa học và tiểu thuyết.
Ở trong nước, luận án truy nguyên việc sử dụng thuật ngữ:
- Đầu thế kỉ XIX, thuật ngữ xuất hiện ở Tam Kiều nguyệt dạ du kí (1805) của Ngô Thị Hoàng, Tam Ngô du kí của Nguyễn Văn Siêu; trong khi nhiều tác phẩm cùng thời dùng chữ kí, nhật kí, kỉ lược, chí lược (Như Tây kí của Ngụy Khắc Đản, Như Tây sứ trình nhật kí của Phạm Phú Thứ, Tây phù nhật kí của Tôn Thọ Tường, Tây hành kiến văn kỉ lược của Lý Văn Phức, Hải trình chí lược của Phan Huy Chú, Chuyến đi Bắc Kì năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký).
- Đầu thế kỉ XX, từ "du kí" trở lại qua Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác, bản dịch Thượng kinh kí sự ("Một tập du kí của cụ Lãn Ông") do Nguyễn Trọng Thuật thực hiện năm 1923, và tác phẩm của Đào Trinh Nhất (bút danh Phạm Vân Anh) năm 1929 trên Phụ nữ Tân văn.
- Về mặt lý luận và nghiên cứu văn học sử, tác giả điểm qua quan niệm của Phạm Quỳnh trên Nam Phong số 96 (phân biệt du kí viết về đi xa và văn kỉ sự ghi chép đi gần); Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại; Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1961); các bài viết về thể kí của Nam Mộc (1967), Tầm Dương (1967), Phạm Hổ; Mã Giang Lân trong Quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900-1945 (2000); Bùi Đức Tịnh trong Lược khảo lịch sử văn học Việt Nam (2004); Phan Cự Đệ chủ biên trong Văn học Việt Nam thế kỉ XX – những vấn đề lịch sử và lí luận; Hoàng Ngọc Hiến trong Năm bài giảng về thể loại; Hà Minh Đức chủ biên giáo trình Lí luận văn học (1995, 2008); và Từ điển thuật ngữ văn học.
- Về nghiên cứu chuyên biệt du kí nửa đầu thế kỉ XX: Phạm Thị Ngoạn khảo sát du kí trong luận án Tìm hiểu tạp chí Nam Phong; Nguyễn Hữu Sơn với bộ tuyển tập Du kí Việt Nam - tạp chí Nam Phong 1917 - 1934 (2005) cùng các chuyên luận về thể tài du kí chữ Hán và chữ Quốc ngữ; Phong Lê với bài viết bàn về việc "Đi"; Phạm Xuân Nguyên với các bài viết về thể tài du kí; Nguyễn Thúy Hằng tiếp cận dưới góc độ văn hóa; Trần Thị Tú Nhi nghiên cứu nghệ thuật ngôn từ; Võ Thị Thanh Tùng khảo sát tính cách người Nam Bộ qua du kí.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Hầu hết các công trình trong nước trước đây chỉ xem du kí là một tiểu loại của thể kí hoặc tiếp cận thuần túy trên phương diện "thể tài" (nội dung phản ánh của đề tài). Luận án xác lập một khoảng trống cần xử lý: giải phóng du kí khỏi định kiến phụ thuộc, phân tích hình thức thi pháp và khẳng định du kí như một thể loại văn xuôi tự sự độc lập có sự vận động lịch sử và đóng góp trực tiếp vào tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý thuyết, luận án dựa trên hệ thống khái niệm và nguyên lý của thi pháp học thể loại, lịch sử văn học và văn hóa học:
- Quan niệm bản chất thể loại: Xác định du kí là một thể loại văn học hoàn chỉnh thuộc loại hình tự sự, được kiến tạo xoay quanh hạt nhân cuộc hành trình thực tế hoặc có yếu tố tưởng tượng, có khả năng dung hợp các phương thức phản ánh nghệ thuật khác và tương tác qua lại với các thể loại văn xuôi.
- Cơ sở lý thuyết hỗ trợ: Sử dụng lý thuyết thi pháp tiểu thuyết của M. Bakhtin (quan niệm về biến chuyển thể loại, tính đa ngữ văn hóa), quan điểm về quy luật vận động thể loại của Y. Lotman và B. Tomachevski (sự chuyển dịch từ ngoại biên vào trung tâm), nhận thức luận của C. Mác về sự phản ánh hiện thực, và quan niệm triết học của I. Kant về không gian và thời gian như những ý niệm tiên nghiệm của nhận thức.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai hoàn toàn theo hướng định tính, bao gồm:
- Phương pháp lịch sử: Tiếp cận quá trình hình thành, phát triển và biến đổi của thể loại du kí gắn liền với hoàn cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa của Việt Nam qua từng thời kì.
- Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Khảo sát các thành tố nội dung, hình thức của du kí Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX như một chỉnh thể thống nhất, chỉ ra mối liên hệ hữu cơ giữa lý thuyết thể loại và thực tiễn sáng tác.
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Mổ xẻ từng phương diện thi pháp (cốt truyện, kết cấu, điểm nhìn, không gian, thời gian, ngôn từ) và khái quát các quy luật, đặc trưng thể loại.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Vận dụng so sánh đồng đại (giữa du kí với tiểu thuyết, tản văn, tùy bút cùng thời) và so sánh lịch đại (giữa du kí nửa đầu thế kỉ XX với du kí giai đoạn trung đại và các giai đoạn sau).
- Các phương pháp liên ngành: Kết hợp thi pháp học, phong cách học, văn bản học và mĩ học tiếp nhận.
Nguồn dữ liệu và tư liệu:
- Luận án thu thập và khảo sát hệ thống văn bản du kí phong phú được in ấn trên các cơ quan báo chí nửa đầu thế kỉ XX: Nam Phong tạp chí, Tri Tân, Thanh Nghị, Phụ nữ Tân văn, Nam Kỳ tuần báo, An Nam tạp chí, Tao Đàn, Phong hóa...
- Các tập du kí xuất bản thành sách riêng của các tác giả giai đoạn 1900–1945.
- Các tư liệu du kí chữ Hán và chữ Quốc ngữ trước thế kỉ XX làm đối tượng đối chiếu lịch sử văn học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này trình bày bức tranh toàn cảnh về lịch sử tiếp nhận và nghiên cứu thể loại du kí trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra sự khác biệt cơ bản giữa cách nhìn nhận quốc tế và trong nước: trong khi giới học thuật thế giới đã coi du kí là một bộ môn nghiên cứu liên ngành rộng lớn thuộc văn học du lịch với các tranh luận về ranh giới hư cấu và phi hư cấu, thì ở Việt Nam, du kí phần lớn vẫn bị đóng khung trong quan niệm là tiểu thể loại của kí, mang tính ghi chép người thật việc thật hoặc chỉ được nhìn nhận như một thể tài phản ánh. Chương 1 khẳng định sự cần thiết phải phân định du kí trên cả hai bình diện lý thuyết loại thể và thực tiễn sáng tác.
Chương 2: Vấn đề lí thuyết thể loại và lịch sử du kí Việt Nam
Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở thi pháp thể loại của du kí và phác họa tiến trình lịch sử thể loại qua các giai đoạn:
- Thi pháp thể loại: Luận án phân tích cấu trúc hạt nhân của du kí gồm điểm nhìn trần thuật, thời gian và không gian. Điểm nhìn trong du kí là điểm nhìn ngoại quan hướng ra thế giới của cái tôi trải nghiệm, khác với điểm nhìn hướng nội của tiểu thuyết tự truyện. Không gian du kí chia thành không gian vật lí (địa danh, cung đường, phương tiện) và không gian ý niệm (khát vọng tìm kiếm cái đẹp, trở về cội nguồn). Thời gian gồm thời gian vật lí tuyến tính tiệm tiến và thời gian ý niệm đồng hiện. Nhân vật trong du kí là "nhân vật phát ngôn", biến đổi nhận thức qua trải nghiệm hành trình.
- Khái quát quá trình lịch sử du kí Việt Nam: Khảo sát sự vận động của thể loại qua 5 giai đoạn:
- Giai đoạn từ thế kỉ X đến thế kỉ XVII: Xuất hiện dưới dạng thơ, phú, kí bằng chữ Hán.
- Giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX: Định hình các văn bản du kí và nhật kí hành trình tiêu biểu (Thượng kinh kí sự, các tác phẩm đi sứ của Phan Huy Chú, Phạm Phú Thứ, Lý Văn Phức...).
- Giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX: Bùng phát mạnh mẽ cùng chữ Quốc ngữ và báo chí hiện đại.
- Giai đoạn nửa sau thế kỉ XX (cho đến hết thập niên 80): Phát triển trong bối cảnh văn học kháng chiến và xây dựng đất nước.
- Giai đoạn thập niên 90 của thế kỉ XX đến nay: Hưng khởi trở lại trong bối cảnh mở cửa và hội nhập quốc tế.
Chương 3: Đặc điểm nội dung của du kí Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX
Tác giả phân tích nội dung du kí giai đoạn 1900–1945 qua hai bình diện chính:
- Sự phong phú về đề tài: Bao gồm 5 nhóm đề tài chính:
- Đề tài khảo cứu văn hóa: Ghi chép phong tục tập quán, lễ nghi, nếp sống cộng đồng.
- Đề tài lịch sử: Tìm về các di tích, chiến trường xưa, ôn lại chiến công và sự tích tiền nhân.
- Đề tài danh lam thắng cảnh: Miêu tả vẻ đẹp núi non, sông biển, chùa chiền của ba kì.
- Đề tài quốc tế: Kể về những chuyến đi sang Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Lào, Campuchia.
- Đề tài dân tộc thiểu số: Ghi nhận đời sống, tập quán ở các vùng đồng bào miền núi.
- Sự đa dạng về cảm hứng: Thể hiện qua 5 mạch cảm hứng chủ đạo: cảm hứng viễn du, cảm hứng yêu nước, cảm hứng tâm linh, cảm hứng trữ tình và cảm hứng thế sự.
Chương 4: Đặc điểm hình thức của du kí Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX
Chương 4 khảo cứu hệ thống thi pháp hình thức của du kí nửa đầu thế kỉ XX:
- Nghệ thuật cốt truyện và kết cấu: Du kí sử dụng cốt truyện hành trình hoặc cốt truyện sự tích – huyền thoại. Các mô hình kết cấu tiêu biểu gồm: kết cấu khung, kết cấu trực quan (quan sát như máy quay phim), kết cấu nhật trình – sự kiện (ghi theo ngày tháng hoặc chuỗi sự việc), kết cấu tự sự – trữ tình (kết hợp linh hoạt giữa ghi chép và bộc lộ cảm xúc).
- Điểm nhìn trần thuật: Luận án phân tích điểm nhìn đa diện đối với hiện thực và điểm nhìn dịch chuyển liên tục theo bước chân của người kể chuyện.
- Ngôn ngữ và văn phong: Khảo sát sự kết hợp đa dạng giữa từ ngữ Hán Việt cổ kính, từ Việt cổ, từ địa phương và hệ thống từ ngữ mới tiếp thu từ tiếng Pháp; sự đa dạng của văn phong từ văn biền ngẫu, văn nghị luận đến phong cách báo chí hiện đại.
Chương 5: Những tác giả du kí Việt Nam tiêu biểu nửa đầu thế kỉ XX
Chương cuối cùng đi sâu vào ba gương mặt tác giả đại diện cho ba khuynh hướng sáng tác của giai đoạn:
| Tác giả | Khuynh hướng / Phong cách | Đặc điểm thi pháp nổi bật |
|---|---|---|
| Nguyễn Đôn Phục | Phong cách truyền thống (Du kí có yếu tố Hán) | - Triết lí về "sự đi" gắn với đạo học và quan niệm truyền thống. - Tiếp cận đối tượng cảnh quan trên phương diện lịch sử, hoài cổ. - Ngôn từ cổ kính, uyên bác, giàu tính biểu cảm và dấu ấn biền văn. |
| Phạm Quỳnh | Phong cách hiện đại (Du kí hiện đại hóa) | - Văn du kí mang tính tư tưởng sâu sắc, gắn với ý thức canh tân văn hóa. - Kết cấu nhật trình chặt chẽ, ngôn ngữ khúc chiết mang tính hiện đại. - Văn du kí giàu chất nghị luận, triết luận sắc sảo. |
| Mãn Khánh Dương Kỵ | Phong cách huyền thoại hóa (Du kí hư cấu, tưởng tượng) | - Cảm quan lịch sử kết hợp bút pháp huyền thoại hóa không gian văn hóa. - Nghệ thuật dựng cảnh, tạo không khí lịch sử trầm mặc, kì ảo. - Ngôn từ giàu tính tạo hình, gợi tả thế giới tâm linh, di tích cổ xưa. |
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lí luận:
- Luận án đã chỉ ra các điểm chưa nhất quán trong các công trình nghiên cứu trước đây về việc xác định khái niệm và loại hình của du kí. Từ đó, tác giả xác lập luận điểm: du kí là một thể loại văn xuôi thuộc loại hình tự sự, có tư cách thể loại độc lập, có khả năng dung hợp các phương thức phản ánh của các thể loại nghệ thuật lân cận và có tác động trở lại đối với các thể loại khác.
- Luận án đã bước đầu xây dựng được một hệ thống lí thuyết thể loại tương đối hoàn chỉnh cho du kí (về cốt truyện, kết cấu, điểm nhìn trần thuật, nhân vật, không gian, thời gian và ngôn từ), bổ sung vào khoảng trống lí luận thể loại vốn chưa được giải quyết thấu đáo trong các giáo trình lí luận văn học tại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn:
- Công trình đã phát hiện, sưu tầm và tập hợp được một khối lượng tác phẩm du kí phong phú đăng tải rải rác trên báo chí nửa đầu thế kỉ XX, làm phong phú thêm di sản văn học giai đoạn giao thời.
- Thiết lập hệ thống tiêu chí thi pháp để phân định tác phẩm du kí đích thực với các văn bản ngộ nhận; xác định lại tư cách thể loại cho những tác phẩm du kí vốn trước đây bị xếp nhầm sang tùy bút, tản văn, tiểu thuyết hoặc phóng sự.
- Dựng lại diện mạo toàn diện của du kí Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX về cả đề tài, cảm hứng, cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ và phong cách tác giả, qua đó khẳng định vị trí quan trọng của du kí như một bộ phận văn học tích cực thúc đẩy quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt.
- Đề xuất ứng dụng thực tiễn: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo phục vụ công tác biên soạn giáo trình, giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu cho các chuyên ngành Văn học, Văn hóa học và Du lịch.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản cho thấy luận án tập trung khảo sát chủ yếu vào ba tác giả tiêu biểu đại diện cho ba loại hình phong cách mà chưa thể phân tích chi tiết toàn bộ các tác giả du kí xuất hiện trên diện rộng của báo chí nửa đầu thế kỉ XX. Đồng thời, nguồn tư liệu báo chí giai đoạn 1900–1945 vô cùng đồ sộ và phân tán tại nhiều thư viện, một số ấn phẩm thất lạc hoặc chưa được số hóa hoàn chỉnh, khiến diện khảo sát văn bản còn phụ thuộc vào mức độ tiếp cận tư liệu thực tế của tác giả.
Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án mở ra triển vọng tiếp tục sưu tầm, khảo lục văn bản du kí trên các tờ báo địa phương và ấn phẩm tư nhân chưa được khai thác hết; đồng thời mở rộng khung lý thuyết thi pháp thể loại đã xác lập để khảo sát du kí Việt Nam ở các chặng đường tiếp theo, đặc biệt là giai đoạn nửa sau thế kỉ XX và giai đoạn từ thập niên 90 của thế kỉ XX đến nay.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị học thuật đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Văn học Việt Nam và Lí luận văn học: Chương 2 và Chương 4 cung cấp khung lý thuyết thi pháp thể loại và mô hình phân tích kết cấu, điểm nhìn, không gian, thời gian rất hữu ích để nghiên cứu thể loại tự sự phi hư cấu hoặc thể loại trung gian.
- Đối với các nhà nghiên cứu lịch sử văn học: Luận án cung cấp hệ thống dữ liệu thư mục văn bản phong phú về các bài du kí trên báo chí giai đoạn 1900–1945, giúp khôi phục các tác phẩm bị lãng quên ngoài bộ sưu tập tạp chí Nam Phong.
- Đối với các nhà nghiên cứu Văn hóa học và Du lịch: Các phân tích về đề tài khảo cứu văn hóa, danh lam thắng cảnh và cảm thức địa lý trong Chương 3 là nguồn tư liệu quý giá về lịch sử hình thành không gian du lịch và ý thức văn hóa du lịch của người Việt thời kì cận hiện đại.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định bản chất thể loại của du kí như thế nào?
Luận án khẳng định du kí là một thể loại văn xuôi hoàn chỉnh thuộc loại hình tự sự, chứ không chỉ là một tiểu loại phụ thuộc của kí hay một thể tài ghi chép thông thường. Du kí lấy cuộc hành trình và người kể chuyện cái tôi trải nghiệm làm hạt nhân cấu trúc, có khả năng dung hợp các phương thức phản ánh nghệ thuật khác nhau.
2. Ba phong cách tác giả tiêu biểu trong Chương 5 đại diện cho các xu hướng sáng tác nào?
Ba tác giả đại diện cho ba loại hình phong cách rõ rệt: Nguyễn Đôn Phục đại diện cho phong cách truyền thống (du kí có yếu tố Hán, tiếp cận lịch sử, ngôn từ cổ kính); Phạm Quỳnh đại diện cho phong cách hiện đại (du kí mang tính tư tưởng, kết cấu nhật trình hiện đại, văn giàu chất triết luận); Mãn Khánh Dương Kỵ đại diện cho phong cách huyền thoại hóa (du kí có yếu tố hư cấu, cảm quan lịch sử kết hợp huyền thoại).
3. Không gian và thời gian nghệ thuật trong du kí được phân loại ra sao?
Luận án chia không gian thành không gian vật lí (lộ trình, địa danh, thắng tích) và không gian ý niệm (khát vọng tìm kiếm cái đẹp, sự trải nghiệm bản thân, cội nguồn). Thời gian gồm thời gian vật lí tuyến tính tiệm tiến từ điểm xuất phát đến khi kết thúc và thời gian ý niệm đồng hiện trong các tác phẩm mang yếu tố huyền thoại hóa.
4. Điểm nhìn trần thuật và nhân vật trong du kí có điểm gì khác biệt so với tiểu thuyết?
Điểm nhìn trần thuật trong du kí mang tính ngoại quan hướng ra thế giới bên ngoài thay vì hướng nội sâu vào nội tâm như tiểu thuyết; người trần thuật không ẩn danh mà xuất hiện với tư cách cái tôi chủ thể trải nghiệm chịu trách nhiệm về phát ngôn. Nhân vật trong du kí là "nhân vật phát ngôn" và "nhân vật tự thân" biến đổi qua chuyến đi, chứ không phải nhân vật tính cách được hư cấu đa dạng như trong tiểu thuyết.
Kết luận
Luận án Đặc điểm du kí Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX của Nguyễn Hữu Lễ là công trình nghiên cứu văn học có tính hệ thống cao về thể loại du kí trong giai đoạn giao thời 1900–1945. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp liên ngành thi pháp học, phong cách học và lịch sử văn học, luận án đã xác lập cơ sở lý thuyết thể loại vững chắc, phân loại đặc điểm nội dung và hình thức của du kí, đồng thời khẳng định vị thế độc lập của thể loại này trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị cho nghiên cứu văn học sử, thi pháp học và văn hóa học Việt Nam.