Tổng quan luận án
Công trình khoa học mang tên Vai trò của các Thiền sư trong văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay do tác giả Tăng Xuân Dẫn (Thích Quảng Tiếp) thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Anh Tuấn, bảo vệ năm 2015 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận án thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số 62 22 80 05.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng hai triều đại Lý - Trần (1009/1010 - 1400) đánh dấu giai đoạn hưng thịnh của Phật giáo Việt Nam, với việc giới Thiền môn thực hành các tư tưởng tùy duyên, tùy tục, hòa quang đồng trần, cư trần lạc đạo và nhập thế hành đạo. Giới trí thức Phật giáo thời kỳ này vừa uyên thâm Phật học vừa thấu hiểu Nho học, trở thành lực lượng cố vấn đắc lực cho triều đình trong quản trị quốc gia và định hướng đời sống tinh thần theo nguyên lý từ bi, hỷ xả. Tuy nhiên, qua điểm luận tài liệu, tác giả khẳng định các công trình đi trước phần lớn chỉ tiếp cận riêng rẽ từng khía cạnh như văn học, quân sự, ngoại giao, hoặc dừng lại ở việc miêu tả diện mạo lịch sử Phật giáo một cách đại cương. Luận án xác định khoảng trống học thuật cần giải quyết là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện nhằm đánh giá đúng mức vị trí, đóng góp của các Thiền sư trên tổng thể các lĩnh vực hợp thành nền văn hóa Đại Việt (chính trị - xã hội, tư tưởng tôn giáo - đạo đức, văn học - nghệ thuật), làm rõ vai trò của Phật giáo như một bệ đỡ tư tưởng của mô hình quân chủ tập quyền, qua đó rút ra bài học lịch sử có giá trị đối với thực tiễn Việt Nam hiện nay.
Mục đích nghiên cứu:
- Phân tích vai trò của các Thiền sư trong xây dựng và phát triển văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần, từ đó rút ra ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thứ nhất, trình bày khái quát về văn hóa Đại Việt và Phật giáo thời Lý - Trần, cùng diện mạo các Thiền sư tiêu biểu thời kỳ này.
- Thứ hai, phân tích một cách có hệ thống vai trò của các Thiền sư trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần.
- Thứ ba, phân tích ý nghĩa rút ra từ việc nghiên cứu vai trò của các Thiền sư thời Lý - Trần đối với các lĩnh vực chính trị - xã hội, tư tưởng tôn giáo, đạo đức, văn học và nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của các Thiền sư trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần và ý nghĩa đối với Việt Nam hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào hoạt động và tư tưởng của các Thiền sư tiêu biểu thuộc hai vương triều Lý và Trần trên ba lĩnh vực chính: chính trị - xã hội; tư tưởng tôn giáo và đạo đức; văn học và nghệ thuật. Giới hạn không gian là quốc gia Đại Việt, giới hạn thời gian kéo dài từ năm 1009/1010 đến năm 1400.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành khảo sát và phân loại nguồn tài liệu nghiên cứu thành hai nhóm chính gồm tài liệu gốc/tài liệu nghiên cứu lịch sử văn hóa và tài liệu nghiên cứu chuyên biệt về Phật giáo, Thiền sư thời Lý - Trần.
Nhóm thứ nhất bao gồm các văn bản sử liệu, văn bia và hợp tuyển văn học cổ:
- Bộ biên niên sử Đại Việt sử ký toàn thư (2 tập), ghi chép các biến cố, nhân vật thời Lý (Quyển II, III, IV) và thời Trần (Quyển V, VI, VII, VIII), ghi nhận vai trò triều chính của Thiền sư Vạn Hạnh, Quốc sư Khuông Việt, Từ Đạo Hạnh, Quốc sư Trúc Lâm.
- Bộ Đại Việt Sử ký tiền biên (17 quyển, 7 sách), trong đó ghi nhận lời bình luận của sử thần Ngô Thì Sĩ về mối liên hệ mật thiết giữa Lý Thái Tổ với Thiền sư Vạn Hạnh và Thiền sư Lý Khánh Văn.
- Các công trình văn bia kim thạch: Văn bia thời Lý do Nguyễn Văn Thịnh chủ trì sưu tầm di văn chùa chiền, tháp Phật và hành trạng Thiền sư Từ Đạo Hạnh; các sưu khảo của Tăng Bá Hoành (1985), Nguyễn Quang Hồng (2002) trong Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập 2: Thời Trần; công trình Một số vấn đề về văn bia Việt Nam do Trịnh Khắc Mạnh chủ biên (2008) với các cứ liệu từ bia An Hoạch sơn (1110), bia Sùng Thiện Diên Linh (1121), bia Thanh Hư (1373 - 1377); văn bia Thanh Mai Viên Thông Tháp Bi dựng năm 1362 tại chùa Thanh Mai (Hải Dương) ghi nhận hành trạng Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông và Đệ nhị tổ Pháp Loa.
- Các tuyển tập văn học sử: Thiền Uyển Tập Anh (Phân viện Nghiên cứu Phật học và NXB Văn học ấn hành năm 1990) ghi lại sự tích các tông phái Thiền học từ thời Đinh, Tiền Lê đến thời Lý; công trình Thơ văn Lý - Trần (3 tập, 1977 - 1989); Hợp tuyển văn học Việt Nam, tập 1 (Bùi Duy Tân chủ biên, 2004) giới thiệu tác phẩm thi kệ của Vạn Hạnh, Mãn Giác, Quảng Nghiêm, Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Huyền Quang.
- Về phương diện nghiên cứu văn học và lịch sử xã hội, tác giả điểm lại quan điểm của Dương Quảng Hàm (1941, Văn học Việt Nam sử yếu); Đinh Gia Khánh (1976, Lời giới thiệu cuốn Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 2); Bùi Văn Nguyên (1987, Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2); Nguyễn Khắc Thuần (2002, Nước Đại Việt Thời Lý - Trần); Viện Sử học (1980, Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời kỳ Lý - Trần); Bùi Duy Tân (chủ biên, 2004, Văn học Việt Nam thế kỷ X - XVIII); Nguyễn Công Lý (1997, Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông Lý - Trần); Nguyễn Phạm Hùng (2008, Các khuynh hướng văn học thời Lý - Trần); Thích Giác Toàn (2011, Thẩm mỹ Phật giáo thời Lý - Trần qua văn chương).
Nhóm thứ hai bao gồm các công trình nghiên cứu lịch sử Phật giáo và chuyên khảo về Thiền sư:
- Các bộ thông sử Phật giáo: Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Nguyễn Tài Thư chủ biên, 1988); Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Nguyễn Đăng Thục, 1991); Lược sử Phật giáo Việt Nam (Thích Minh Tuệ, 1993); Đạo Phật Việt Nam (Thích Đức Nghiệp, 1995); Việt Nam Phật giáo sử luận (Nguyễn Lang, 3 tập, 2000); Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Lê Mạnh Thát, 2 tập, 2001); Lịch sử đạo Phật Việt Nam (Nguyễn Duy Hinh, 2009); Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến 1981 (Bồ Đề Tân Thanh - Nguyễn Đại Đồng, 2012).
- Các chuyên khảo về tư tưởng và nhân vật Thiền tông: Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam (Nhiều tác giả, 1993); Thiền học đời Trần (Nhiều tác giả, 1995); Thiền học Trần Thái Tông (Nguyễn Đăng Thục, 1996); Góp phần tìm hiểu tư tưởng triết học Phật giáo Trần Thái Tông (1996) và Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam (1997) của Nguyễn Hùng Hậu; Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần (Trương Văn Chung, 1998); Tham đồ hiển quyết và thi tụng các thiền sư đời Lý (1997) và Thiền sư Việt Nam (2004) của Thích Thanh Từ; Tuệ Trung, nhân sĩ, thượng sĩ, thi sĩ (Nguyễn Duy Hinh, 1999); Việt Nam văn minh sử cương: Văn minh Đại Việt (Lê Văn Siêu, 2004); Nhà Trần và con người thời Trần (Vũ Ngọc Khánh, 2004); Văn minh Đại Việt (Nguyễn Duy Hinh, 2005); Nhà Lý trong văn hóa Việt Nam và Nhà Trần trong văn hóa Việt Nam (Nguyễn Bích Ngọc, 2009); Phật giáo thời Lý với 1000 năm Thăng Long - Hà Nội (2010); Phật giáo đời Lý (2010) và Phật giáo đời Trần (2011) do Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam xuất bản; Quan hệ nhà nước quân chủ Lý - Trần với Phật giáo (Thích Minh Trí, 2012). Cùng các bài báo học thuật của Kiều Thu Hoạch (1965), Nguyễn Hùng Hậu (1990), Minh Chi (2005), Nguyễn Thị Phương Chi (2008), Nguyễn Thị Ngọc Lan và Nguyễn Thế Cường (2008).
Vị trí của luận án: Luận án kế thừa kết quả của các công trình trên nhưng đặt trọng tâm nghiên cứu vào việc tổng hợp, hệ thống hóa và lý giải vai trò của Thiền sư dưới góc độ triết học duy vật lịch sử. Tác giả định vị công trình của mình ở việc giải quyết khoảng trống: làm rõ tinh thần yêu nước như một thành tố khởi tạo dẫn dắt hành vi của các Thiền sư, đánh giá toàn diện vai trò của họ trong cấu trúc văn hóa Đại Việt, từ đó xây dựng cơ sở khoa học để kế thừa các giá trị này vào công cuộc xây dựng văn hóa Việt Nam đương đại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, luận án vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trọng tâm là lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, cùng quy luật tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội (ý thức chính trị, đạo đức, tôn giáo, thẩm mỹ).
Về các khái niệm công cụ, tác giả xác lập các định nghĩa sử dụng trong văn bản:
- Thiền sư: Dẫn định nghĩa từ sách Tam đức chỉ quy ("Tu tâm tịnh lự là Thiền sư"), sách Phật giáo chính tín của Pháp sư Thánh Nghiêm và Từ điển Nho - Phật - Đạo của Lao Tử và Thịnh Lê (2001). Luận án xác định Thiền sư ở Việt Nam là tu sĩ Phật giáo có tài, đức, học vấn chuyên môn về thiền định, danh tiếng xuất chúng, có nhiều đóng góp cho đạo pháp và dân tộc.
- Đại Việt: Kế thừa quan điểm của Nguyễn Duy Hinh trong Văn minh Đại Việt (2005), thuật ngữ được dùng để chỉ một truyền thống văn hóa độc lập dân tộc kéo dài từ khi Ngô Quyền xưng vương năm 938/939 đến khi nhà Nguyễn ký hòa ước năm 1883 thừa nhận quyền đô hộ của thực dân Pháp. Trong luận án, khái niệm này giới hạn ở truyền thống văn hóa thời Lý - Trần.
- Văn hóa: Vận dụng định nghĩa trong Tuyên bố quốc tế về tính đa dạng văn hóa của UNESCO (2001), coi văn hóa là tập hợp các đặc điểm nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội, bao gồm lối sống, cách suy nghĩ, giáo dục, các giá trị, truyền thống, tư tưởng chính trị và tín ngưỡng.
- Văn hóa truyền thống và giá trị: Dẫn quan niệm của Ngô Đức Thịnh trong Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam (2010), xác định văn hóa truyền thống gắn liền với xã hội tiền công nghiệp, được trao truyền bền vững qua các thế hệ.
Về phương pháp nghiên cứu, công trình áp dụng phương pháp nghiên cứu của tôn giáo học mác-xít kết hợp nghiên cứu liên ngành:
- Phương pháp nghiên cứu văn bản tài liệu gốc: phiên âm, dịch nghĩa, khảo cứu văn bản Hán Nôm (văn bia, tác phẩm thiền phái, sử biên niên).
- Phương pháp thống nhất lịch sử và lôgíc: đặt hoạt động của các Thiền sư vào hoàn cảnh cụ thể của lịch sử Đại Việt để rút ra bản chất và quy luật vận động.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp, so sánh đối chiếu và khái quát hóa: phân loại các nhóm đóng góp theo lĩnh vực văn hóa.
- Phương pháp khảo sát thực địa: nghiên cứu hiện trạng di tích chùa tháp, bi ký, điêu khắc đá thời Lý - Trần.
Nguồn tư liệu và dữ liệu: Tư liệu văn bản gồm các bộ chính sử (Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt Sử ký tiền biên); văn bia thời Lý - Trần (Thanh Mai Viên Thông Tháp Bi, bia Linh Xứng, Sùng Thiện Diên Linh); các tác phẩm Phật thoại, ngữ lục (Thiền Uyển Tập Anh, Khóa hư lục, Tuệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục); các tuyển tập văn học (Thơ văn Lý - Trần, Hợp tuyển văn học Việt Nam); các văn bản quy phạm pháp luật như Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
Nội dung chương 1 được chia thành hai phần lớn:
- Nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu: Khảo cứu nguồn tài liệu gốc về lịch sử, văn hóa, xã hội thời Lý - Trần (các bộ biên niên sử thời Hậu Lê và Tây Sơn, di văn bia ký chữ Hán, tác phẩm văn thi của các tăng sĩ); nguồn tài liệu nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam và các chuyên khảo về Thiền sư Lý - Trần. Tác giả chỉ ra rằng dòng văn học chữ viết giai đoạn này có sự tham gia đông đảo của tầng lớp tăng lữ; theo số liệu dẫn từ Bùi Duy Tân (2004), từ thế kỷ X đến thế kỷ XV có khoảng 120 tác giả thành văn, trong đó từ thế kỷ X đến thế kỷ XII có hơn 50 tác giả với đa số là nhà sư, còn từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIV có hơn 60 tác giả với đa số là nhà Nho.
- Các vấn đề và thuật ngữ dùng trong nghiên cứu của luận án: Trình bày các vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu; định nghĩa và xác lập nội hàm các thuật ngữ: Thiền sư, Đại Việt, Văn hóa, Văn hóa truyền thống, Giá trị, Giá trị văn hóa, Bản sắc văn hóa.
Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ VĂN HÓA ĐẠI VIỆT VÀ PHẬT GIÁO THỜI LÝ - TRẦN
Chương 2 phân tích các tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội hình thành văn hóa Đại Việt và diện mạo Phật giáo Lý - Trần qua hai tiết chính:
- Khái quát về văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần: Phân tích điều kiện kinh tế - xã hội dựa trên nền nông nghiệp lúa nước, sự tồn tại bền vững của tàn dư công xã nông thôn kết hợp thiết chế nhà nước quân chủ trung ương tập quyền. Văn hóa thời kỳ này mang tính dung hợp Tam giáo đồng nguyên (Phật, Nho, Đạo). Tác giả dẫn chứng sự phát triển song hành của văn hóa cung đình và văn hóa dân gian (múa rối nước, trò diễn hát chèo gắn với Thiền sư Từ Đạo Hạnh; các trò chơi dân gian như ném còn, đánh phết, bơi chải). Nho giáo từng bước được khẳng định qua việc mở Quốc Tử Giám và các khoa thi Tam trường (năm 1075 chọn Lê Văn Thịnh), thi vào Hàn lâm viện (năm 1086 chọn Mạc Hiển Tích). Đến giữa thế kỷ XIV, tầng lớp trí thức Nho sĩ như Chu Văn An, Lê Văn Hưu, Trương Hán Siêu, Lê Quát dần chiếm ưu thế trên chính trường. Đạo giáo cũng phát triển với hệ thống Đạo quán, Đạo quan và các phép cầu đảo, trừ tà.
- Phật giáo Đại Việt thời Lý - Trần: Tác giả phục dựng sự phát triển của Phật giáo qua hai triều đại, với hàng loạt dữ kiện lịch sử cụ thể:
- Triều Lý: Lý Thái Tổ sau khi lên ngôi năm 1010 đã ban hai vạn quan tiền xây và sửa chữa các chùa lớn ở Thăng Long (Hưng Thiên, Vạn Tuế, Thắng Nghiêm, Thiên Vương, Cẩm Y, Thánh Thọ, Thiên Quang) và 8 ngôi chùa ở phủ Thiên Đức. Năm 1019 ra chiếu khuyến khích xuất gia; năm 1024 dựng chùa Chân Giáo; năm 1026 đúc chuông các chùa lớn. Vua Lý Thái Tông năm 1031 cho dựng 95 ngôi chùa và miễn thuế một năm; giai đoạn 1036 - 1041 cho tạc hàng ngàn tượng Phật, may hàng vạn cờ phướn. Vua Lý Thánh Tông năm 1055 lệnh cấp chăn chiếu và ngày phát cơm hai lần cho tù nhân; năm 1056 dựng tháp Báo Thiên (thuộc An Nam tứ đại khí, cùng chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh, tượng Phật Quỳnh Lâm); thu nhận Thiền sư Thảo Đường lập phái Thảo Đường truyền qua 5 đời với gần hai chục vị đại sư.
- Triều Trần: Phật giáo đạt cực thịnh. Vua Trần Thái Tông trước tác 6 công trình Phật học và văn thơ: Thiền Tông Chỉ Nam, Lục thời sám hối khoa nghi, Kim cương tam muội chú giải, Bình đẳng lễ sám văn, Thái Tông thi tập, Khóa hư lục. Tuệ Trung Thượng Sĩ (Trần Tung, 1230 - 1291) thể hiện tư tưởng thiền học phóng khoáng qua Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ lục. Vua Trần Nhân Tông (1258 - 1308) lên núi Yên Tử xuất gia năm 1299, lập phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử cùng Đệ nhị tổ Pháp Loa (1284 - 1330) và Đệ tam tổ Huyền Quang (1254 - 1334), để lại 5 tác phẩm: Thiền Lâm chiết chỉ ngữ lục, Trúc Lâm hậu lục, Thạch thất mỵ ngữ, Đại hương Hải Ấn thi tập, Tăng già toái sự.
| Năm |
Sự kiện Phật sự và Hoạt động văn hóa thời Lý - Trần |
| 1010 |
Vua Lý Thái Tổ ban 2 vạn quan tiền dựng và sửa chữa các chùa lớn ở Thăng Long và 8 chùa ở Thiên Đức. |
| 1019 |
Vua Lý Thái Tổ ban chiếu khuyến khích việc xuất gia tu hành trong cả nước. |
| 1031 |
Vua Lý Thái Tông xây dựng 95 ngôi chùa sau chiến thắng tại Châu Hoan, miễn thuế một năm cho dân. |
| 1055 |
Vua Lý Thánh Tông ra lệnh hạ ngục phát chăn chiếu, phát cơm ngày hai lần cho tù nhân trong mùa đông. |
| 1056 |
Vua Lý Thánh Tông cho khởi dựng tháp Báo Thiên tại Thăng Long. |
| 1075 |
Vua Lý Nhân Tông mở khoa thi Tam trường đầu tiên, tuyển chọn Lê Văn Thịnh đỗ đầu. |
| 1299 |
Thượng hoàng Trần Nhân Tông xuất gia tu hành tại Yên Tử, sáng lập dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. |
| 1304 |
Điều Ngự Trần Nhân Tông đi khắp nơi trừ dâm từ, bố thí thuốc chữa bệnh cho người nghèo (theo bia chùa Thanh Mai). |
| 1319 |
Tăng sĩ và cư sĩ hiến máu in 5.000 quyển Kinh Đại Tạng, lưu giữ tại chùa Quỳnh Lâm. |
| 1322 |
Quan lại triều đình cúng dường đúc tượng Phật đồng dưới sự chứng minh của Thiền sư Pháp Loa. |
| 1324 |
Văn Huệ Vương và công chúa Thượng Trân cúng 900 lượng vàng đúc tượng Phật Di Lặc. |
| 1329 |
Thiền sư Pháp Loa chủ trì in 5.000 quyển kinh văn của Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ và Pháp Loa. |
| 1338 |
Vua Trần Anh Tông cúng 100 mẫu ruộng cho chùa Báo Ân, 500 mẫu ruộng và 5 vạn quan tiền cho Pháp Loa. |
Đặc điểm Phật giáo Lý - Trần được khái quát: (1) Phật giáo phát triển toàn thịnh, chiếm địa vị thượng phong trong cơ cấu Tam giáo, chi phối nền chính trị đức trị; (2) Tinh thần tùy tục, tùy duyên, hòa quang đồng trần, nhập thế hành đạo gắn với các dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, Trúc Lâm Yên Tử; kết hợp với tín ngưỡng dân gian bản địa, Mật tông (với dấu tích cột kinh Đà La Ni ở Hoa Lư) và Tịnh Độ tông; diễn đạt giáo lý thông qua ngôn ngữ thi ca hình tượng.
Chương 3: VAI TRÕ CỦA CÁC THIỀN SƯ TRONG XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VĂN HÓA ĐẠI VIỆT THỜI LÝ - TRẦN
Chương 3 trình bày các luận điểm cốt lõi về vai trò thực tế của các Thiền sư trên ba bình diện văn hóa:
- Lĩnh vực chính trị - xã hội:
- Các Thiền sư quán triệt tư tưởng hộ quốc an dân trên tinh thần từ bi hỷ xả, xuất phát từ quyền lợi của nhân dân. Sự tham gia chính trị của các nhà sư không nhằm mục đích tranh đoạt quyền lực mà là bổn phận công dân và trách nhiệm cứu đời.
- Vai trò cố vấn triều chính, ngoại giao và định hình ý thức hệ: Điển hình là Thiền sư Vạn Hạnh phò tá Lý Công Uẩn định đô tại Thăng Long; Quốc sư Khuông Việt và Thiền sư Pháp Thuận trực tiếp tham gia đón tiếp sứ thần nhà Tống (Lý Giác). Sự kết hợp tư tưởng Phật giáo với tinh thần thân dân "lấy dân làm gốc", "khoan thư sức dân làm kế sâu gốc bền rễ", "phụ tử chi binh" đã quy tụ sức mạnh đoàn kết toàn dân, góp phần làm nên chiến thắng chống quân Tống (1075 - 1077) và ba lần đánh thắng giặc Nguyên Mông (1258, 1285, 1288).
- Lĩnh vực tư tưởng tôn giáo và xây dựng đạo đức xã hội:
- Phát triển tư tưởng yêu nước, củng cố khối đoàn kết xã hội trên tinh thần hòa hợp Tam giáo. Phật giáo thời Lý - Trần không bài trừ Nho, Đạo mà dung nạp các yếu tố hợp lý để phục vụ sự nghiệp độc lập dân tộc.
- Nêu gương sáng đạo đức và xây dựng nền đạo đức nhân bản: Các Thiền sư đề cao đức hiếu sinh, khoan dung, nhân quả báo ứng, hướng con người đến hành vi làm lành lánh dữ. Hoạt động thực tiễn bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan được phản ánh qua sự kiện Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đi khắp xóm làng triệt phá các đền thờ dâm từ và cứu giúp bần bệnh vào năm 1304.
- Lĩnh vực văn học và nghệ thuật:
- Thiền sư là lực lượng sáng tác văn học chủ lực thời kỳ đầu độc lập. Các tác phẩm kệ thi của Thiền sư Vạn Hạnh, Mãn Giác, Viên Chiếu, Thông Biện, cùng các tác phẩm của Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông, Huyền Quang đã khai sinh dòng văn học viết mang đậm triết lý Phật giáo kết hợp tình yêu thiên nhiên và hào khí dân tộc.
- Lĩnh vực nghệ thuật: Thiền sư tham gia bảo tồn các loại hình lễ hội, khởi xướng nghệ thuật diễn xướng (Từ Đạo Hạnh được coi là một trong những vị tổ sư nghề hát chèo). Về kiến trúc và điêu khắc, các Thiền sư trực tiếp chỉ đạo quy hoạch, xây dựng các công trình tiêu biểu như chùa Một Cột (chùa Diên Hựu dựng thời Lý Thánh Tông), tháp Báo Thiên, tháp Phổ Minh, chùa Quỳnh Lâm; tạo dựng hệ thống tượng pháp, điêu khắc hoa sen, hình tượng rồng mang phong cách mỹ thuật Lý - Trần.
Chương 4: Ý NGHĨA TỪ VAI TRÕ CỦA CÁC THIỀN SƯ THỜI LÝ - TRẦN ĐỐI VỚI VIỆT NAM HIỆN NAY
Chương 4 kết nối các giá trị lịch sử với yêu cầu phát triển văn hóa Việt Nam đương đại qua hai tiết chính:
- Ý nghĩa đối với lĩnh vực chính trị - xã hội và đạo đức:
- Phật giáo Việt Nam hiện nay kế thừa và phát huy tinh thần "hộ quốc an dân", tham gia tích cực vào các phong trào xã hội, từ thiện nhân đạo, bảo vệ môi trường, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự hướng dẫn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
- Đóng góp vào việc xây dựng nền đạo đức hướng thiện: Vận dụng các giá trị nhân sinh quan, luật nhân quả và tinh thần từ bi của Phật giáo để giáo dục nhân cách, ngăn chặn sự xuống cấp về đạo đức và lối sống thực dụng trong nền kinh tế thị trường.
- Thực thi các quy định pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo: Luận án liên hệ trực tiếp với Điều 2 Chương I Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, chỉ rõ trách nhiệm của chức sắc, nhà tu hành trong việc giáo dục tín đồ lòng yêu nước, ý thức chấp hành pháp luật và nghĩa vụ công dân.
- Ý nghĩa đối với văn học và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc:
- Văn học nghệ thuật hiện đại tiếp thu tinh thần nhập thế tích cực, phản ánh hiện thực cuộc sống gắn với các giá trị nhân đạo sâu sắc của Phật giáo thời Lý - Trần.
- Khẳng định giá trị của di sản kiến trúc, điêu khắc Lý - Trần: Cung cấp bài học kinh nghiệm về tính quy chuẩn, sự hài hòa với thiên nhiên và tính dân tộc trong hoạt động bảo tồn, trùng tu di tích và phát triển nghệ thuật tạo hình Phật giáo Việt Nam đương đại.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các điểm đóng góp mới về mặt khoa học như sau:
- Thứ nhất, luận án phân tích một cách có hệ thống bối cảnh, tiền đề kinh tế - xã hội, các đặc điểm cốt lõi và diện mạo của các Thiền sư tiêu biểu trong tiến trình phát triển của Phật giáo và văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần.
- Thứ hai, công trình làm sáng tỏ một cách toàn diện vai trò của các Thiền sư trong công cuộc xây dựng, phát triển văn hóa Đại Việt trên ba phương diện chính: chính trị - xã hội (tham chính, cố vấn, ngoại giao, xây dựng nền chính trị đức trị); tư tưởng tôn giáo và đạo đức (thực hiện Tam giáo đồng nguyên, củng cố tinh thần yêu nước, định hình đạo đức nhân bản); văn học và nghệ thuật (chủ thể sáng tạo văn học viết, bảo lưu lễ hội, kiến tạo di sản kiến trúc và điêu khắc).
- Thứ ba, luận án luận giải sâu sắc ý nghĩa lịch sử rút ra từ vai trò của các Thiền sư thời Lý - Trần nhằm ứng dụng vào thực tiễn Việt Nam hiện nay trên các lĩnh vực: phát huy tinh thần hộ quốc an dân, định hướng đạo đức xã hội và bảo tồn, phát triển giá trị văn học - nghệ thuật truyền thống.
Về mặt ứng dụng thực tiễn, luận án cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoạch định chính sách tôn giáo đối với Phật giáo, đồng thời là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy chuyên ngành Triết học, Tôn giáo học và Văn hóa học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án thừa nhận do độ lùi thời gian lịch sử và sự tàn phá của chiến tranh, thiên tai (đặc biệt là chính sách hủy diệt văn hóa của nhà Minh trong thời kỳ Bắc thuộc lần thứ tư), nguồn thư tịch cổ và di văn kim thạch nguyên gốc thời Lý - Trần bị thất lạc nhiều. Hơn nữa, truyền thống Thiền tông vốn chủ trương "bất lập văn tự" nên nhiều vị Thiền sư không để lại trước tác hoàn chỉnh mà chỉ lưu truyền qua các bài thi kệ ngắn hoặc ngữ lục do đệ tử chép lại, gây khó khăn cho việc phục dựng trọn vẹn toàn bộ hệ tư tưởng.
Về hướng nghiên cứu tiếp, trên cơ sở các tư liệu văn bia mới được phát hiện và các kết quả khai quật khảo cổ học tại Hoàng thành Thăng Long, Yên Tử, chùa Báo Ân, Quỳnh Lâm, các công trình tiếp theo có thể mở rộng khảo cứu văn bản học, so sánh đối chiếu sâu hơn giữa mô hình nhập thế của Thiền sư Đại Việt với vai trò của tăng lữ Phật giáo ở các quốc gia đồng văn trong khu vực Đông Á cùng thời kỳ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp cho các nhóm đối tượng:
- Các nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Triết học (CNDVBC & CNDVLS), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Lịch sử Phật giáo, Văn hóa học và Văn học cổ trung đại. Phần điểm luận tài liệu tại Chương 1 và khảo cứu văn bia, sử liệu tại Chương 2 là nguồn trích dẫn học thuật có giá trị khảo chứng.
- Giảng viên các trường đại học, viện nghiên cứu giảng dạy các chuyên đề về Tôn giáo học, Lịch sử triết học phương Đông và Lịch sử văn hóa Việt Nam, đặc biệt là các chương mục phân tích tư tưởng triết học của Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ và Tam tổ Trúc Lâm Yên Tử.
- Cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo (Ban Tôn giáo, Mặt trận Tổ quốc) và các nhà hoạch định chính sách văn hóa, tôn giáo nhằm kế thừa kinh nghiệm phát huy nguồn lực tinh thần của Phật giáo trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và ổn định xã hội.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án trích dẫn văn bia nào thời Trần ghi chép về hoạt động trừ bỏ đền thờ dâm thần và ban thuốc chữa bệnh cho người nghèo của Thượng hoàng Trần Nhân Tông?
Luận án dẫn chứng từ văn bia Thanh Mai Viên Thông Tháp Bi dựng năm Đại Trị thứ 5 (1362) tại chùa Thanh Mai (Chí Linh, Hải Dương), do thị giả Trung Minh biên soạn. Bia ghi lại sự kiện năm Giáp Thìn niên hiệu Hưng Long thứ 12 (1304): Điều Ngự Đầu Đà Trần Nhân Tông đi khắp các miền dẹp bỏ những đền thờ dâm thần, bố thí phương thuốc chữa bệnh cho người nghèo và tìm kiếm người nối truyền dòng pháp.
2. Cơ cấu lực lượng tác giả văn học viết từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV được luận án thống kê theo số liệu nào?
Theo số liệu dẫn từ công trình do Bùi Duy Tân chủ biên (2004), trong gần 5 thế kỷ của văn học viết (từ thế kỷ X đến thế kỷ XV) có khoảng 120 tác giả. Trong đó, từ thế kỷ X đến thế kỷ XII có hơn 50 tác giả với đa số là các nhà sư; từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIV có hơn 60 tác giả với đa số là các nhà Nho.
3. Hoạt động Phật sự về in kinh sách và xây dựng tự viện dưới thời Đệ nhị tổ Pháp Loa được ghi nhận với những số liệu cụ thể nào?
Dưới sự lãnh đạo của Thiền sư Pháp Loa, Giáo hội cho xây 5 cây bảo tháp, hai cơ sở hành đạo lớn ở Quỳnh Lâm và Báo Ân, hơn 200 tăng đường, đúc 1.300 tượng Phật bằng đồng. Năm 1319, tăng sĩ và cư sĩ hiến máu in 5.000 quyển Kinh Đại Tạng lưu giữ tại chùa Quỳnh Lâm; năm 1324 Văn Huệ Vương và công chúa Thượng Trân cúng 900 lượng vàng đúc tượng Phật Di Lặc; năm 1329 in tiếp 5.000 quyển kinh văn. Trong 20 năm lãnh đạo của Pháp Loa, số lượng tăng ni cả nước đạt tới 15.000 người.
4. Luận án tiếp thu khái niệm "Đại Việt" theo định nghĩa của tác giả nào và giới hạn thời gian ra sao?
Luận án tiếp thu định nghĩa của Nguyễn Duy Hinh trong công trình Văn minh Đại Việt (2005), theo đó "Đại Việt" chỉ một truyền thống văn hóa độc lập dân tộc kéo dài suốt 944 năm, từ khi Ngô Quyền xưng vương năm 938/939 đến năm 1883 khi triều Nguyễn ký hiệp ước thừa nhận sự đô hộ của thực dân Pháp. Trong phạm vi luận án, khái niệm này được giới hạn khảo cứu ở thời kỳ văn hóa thời Lý - Trần.
5. "An Nam tứ đại khí" được văn bản luận án xác định gồm những công trình nào?
Luận án xác định bốn công trình nghệ thuật - tôn giáo quy mô lớn thời Lý - Trần được gọi là "An Nam tứ đại khí" bao gồm: tháp Báo Thiên (xây năm 1056 thời Lý Thánh Tông), chuông Quy Điền, vạc Phổ Minh và tượng Phật Quỳnh Lâm.
Kết luận
Luận án tiến sĩ triết học của tác giả Tăng Xuân Dẫn (Thích Quảng Tiếp) là công trình nghiên cứu hệ thống về vai trò của tầng lớp Thiền sư trong tiến trình xây dựng và phát triển văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần dưới góc độ của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bằng việc phân tích các nguồn tư liệu gốc từ chính sử, bi ký và tác phẩm thi kệ, tác giả chứng minh tinh thần nhập thế "hộ quốc an dân" và triết lý sống hòa quang đồng trần của các Thiền sư là nhân tố then chốt tạo nên diện mạo rực rỡ của văn hóa dân tộc trên cả ba phương diện chính trị - xã hội, tư tưởng đạo đức và văn học nghệ thuật. Những kết luận khoa học rút ra từ công trình mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoạch định chính sách tôn giáo của Nhà nước và công cuộc bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh đương đại.