Tổng quan luận án

Bản luận án phó tiến sĩ khoa học ngữ văn với đề tài "Trên quan điểm folklore xem xét quá trình biến đổi từ truyện kể dân gian truyền miệng đến văn bản truyện dân gian" do nghiên cứu sinh Hà Đình Thành thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Kiều Thu Hoạch. Luận án được hoàn thành năm 1996 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, thuộc chuyên ngành Văn học dân gian (Mã số: 5.07). Toàn văn luận án có dung lượng 150 trang đánh máy, kết cấu gồm phần Mở đầu, 3 chương nội dung, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo với 171 đơn vị tư liệu tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp.

+-------------------------------------------------------------------------------+
| THÔNG TIN ĐỊNH DANH LUẬN ÁN                                                   |
+-------------------------------------------------------------------------------+
| Đề tài: Trên quan điểm folklore xem xét quá trình biến đổi từ truyện kể dân  |
|         gian truyền miệng đến văn bản truyện dân gian                         |
| Tác giả: Hà Đình Thành                                                        |
| Người hướng dẫn khoa học: PGS. Kiều Thu Hoạch                                 |
| Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG Hà Nội       |
| Chuyên ngành: Văn học dân gian | Mã số: 5.07 | Năm bảo vệ: 1996               |
| Dung lượng: 150 trang đánh máy (3 chương chính, 171 tài liệu tham khảo)       |
+-------------------------------------------------------------------------------+

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Truyện kể dân gian vốn là sáng tác tập thể của quần chúng lao động qua các thời kỳ lịch sử, tồn tại và lưu truyền chủ yếu bằng phương thức truyền khẩu. Khi xã hội xuất hiện chữ viết, các thế hệ tác gia và trí thức đã tiến hành ghi chép, biên soạn truyện kể dân gian thành các văn bản. Vấn đề đặt ra cho ngành folklore học là:

  • Quá trình văn bản hóa tác động ra sao đến cấu trúc, nội dung và phương thức tồn tại của truyện kể dân gian?
  • Mối quan hệ tương tác hai chiều giữa truyện kể truyền miệng và văn bản truyện dân gian diễn ra như thế nào trong tiến trình lịch sử?
  • Các văn bản truyện dân gian do các tác gia ghi chép, biên soạn lại có được công nhận là tác phẩm folklore đích thực hay không?

Tại Việt Nam, trước thời điểm luận án công bố (1996), chưa có một công trình chuyên luận nào đặt vấn đề khảo sát và giải quyết một cách toàn diện, có hệ thống các câu hỏi lý luận và thực tiễn nêu trên theo góc nhìn folklore học. Việc thực hiện đề tài nhằm lấp đầy khoảng trống lý luận này, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho công tác sưu tầm, chỉnh lý và xuất bản truyện kể dân gian.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu bao trùm của luận án là khảo sát có hệ thống quá trình văn bản hóa truyện kể dân gian từ góc độ khoa học folklore, từ đó đưa ra các kiến giải mới về quy luật vận động của truyện kể. Luận án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nêu bật nguồn gốc và quá trình biến đổi của truyện kể dân gian từ phương thức truyền miệng sang hình thức thành văn.
  2. Khảo sát các văn bản truyện kể của Charles Perrault (Sác-lơ Pe-rôn) tại Pháp để làm rõ các nguồn ảnh hưởng và phương thức văn bản hóa ở phương Tây.
  3. Khảo sát các văn bản truyện kể dân gian tiêu biểu ở Việt Nam gồm truyện Thánh Gióng, Trầu cau, và Tấm Cám qua các tập sách cổ và hiện đại, nhằm chỉ ra chu trình chuyển đổi, các điểm tương đồng và dị biệt giữa các văn bản cùng chung một cốt truyện.
  4. Xác định quy luật tương tác giữa truyện truyền miệng và truyện thành văn, phân định các cấp độ văn bản hóa và đề xuất nguyên tắc khoa học cho công tác biên soạn, chỉnh lý truyện dân gian.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Bản chất quá trình biến đổi từ truyện kể dân gian truyền miệng sang văn bản truyện dân gian và mối quan hệ qua lại giữa hai phương thức tồn tại này.
  • Phạm vi tư liệu:
    • Hệ thống giáo trình văn học dân gian của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
    • Các chuyên luận khoa học, bài báo nghiên cứu chuyên ngành folklore tại Việt Nam và Pháp.
    • Khảo sát thực tế các văn bản truyện kể của Sác-lơ Pe-rôn xuất bản từ năm 1697 và các bản dịch tiếng Việt (từ bản của Nguyễn Văn Vinh năm 1916 đến các bản dịch thập niên 1980 - 1990).
    • Khảo sát các văn bản Hán Nôm và Quốc ngữ ghi chép truyện kể dân gian Việt Nam: Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái, Truyện cổ nước Nam, Truyện cổ tích Việt Nam, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tiến hành rà soát, phân loại toàn diện các công trình nghiên cứu đi trước tại Việt Nam và trên thế giới liên quan trực tiếp đến đề tài.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Về nguồn gốc và các trường phái nghiên cứu folklore: Tác giả điểm lại các chuyên luận nền tảng như "Học giả phương Tây đi tìm nguồn gốc truyện dân gian" của Cao Huy Đỉnh (1965), "Nhận định tổng quát về kho tàng truyện cổ tích Việt Nam" của Nguyễn Đổng Chi (Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập V, 1982), và "Truyện cổ tích dưới mắt các nhà khoa học" của Chu Xuân Diên (1989).
  • Về chủ đề, thể loại và phương pháp folklore học: Đinh Gia Khánh với "Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám" (1968), "Truyện hay nước Việt" (1988), "Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian" (1989); Cao Huy Đỉnh với "Người anh hùng làng Dóng" (1969); Tăng Kim Ngân với công trình khảo sát tục ăn trầu và truyện trầu cau (1984); Lê Chí Quế với "Phương pháp loại hình học trong khoa văn học dân gian" (1989).
  • Về lý luận văn bản và mối quan hệ truyền miệng - thành văn: Phong Châu với "Bàn về vấn đề văn bản truyện cổ dân gian Việt Nam" (1972); Vũ Ngọc Phan với "Vấn đề viết hay kể truyện cổ dân gian" (1976) và bài viết về quá trình hoàn chỉnh truyện cổ (1964); Kiều Thu Hoạch với "Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến" (1971) và "Vai trò của truyện kể dân gian đối với sự hình thành các thể loại tự sự trong văn học Việt Nam" (1989); Nguyễn Tấn Đắc với "Những truyện kể của Vêtala" (1986) và bài nghiên cứu so sánh type truyện Tấm Cám ở Đông Nam Á (1994); Trần Đức Ngôn với chuyên luận lý luận về văn bản văn học dân gian (1990).

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  • Nghiên cứu về truyện kể Charles Perrault: Luận án tổng hợp các công trình khảo cứu của các học giả Pháp như Jacques Barchilon, Paul Bonnefon, Charles Deulin, Louis Marin, Paul Delarue, Marie-Louise Tenèze, P. Saintyves, Marc Soriano. Tác giả nhận định tại Việt Nam, truyện của Perrault đã được dịch và tái bản nhiều lần nhưng chưa từng được giới nghiên cứu trong nước phân tích dưới góc độ folklore học.
  • Cuộc tranh luận học thuật tại Ru-ma-ni về mối quan hệ truyền miệng - thành văn: Luận án điểm lại cuộc tranh luận lý luận kéo dài từ cuối thế kỷ XIX đến thế kỷ XX giữa B. P. Hasdeu (A-xơ-đanh), Moses Gaster (Ga-xơ-tê), N. Cartojan (Các-tô-giăng), I. Chitimia (Chi-ti-mi-a), và Ovidiu Bîrlea (Bíc-lơ-a) xung quanh vấn đề sách truyện dân gian (carte bình dân) thâm nhập vào truyện kể truyền miệng và ngược lại.
+-------------------------------------------------------------------------------+
| SƠ ĐỒ TIẾP CẬN CÁC TRƯỜNG PHÁI LÝ LUẬN TRONG LUẬN ÁN                         |
+-------------------------------------------------------------------------------+
| 1. Trường phái Thần thoại ngữ văn (Anh em Grimm, Max Müller, Kuhn, Afanasyev) |
|    -> Cốt truyện dân gian bắt nguồn từ hiện tượng thần thoại cổ Aryan.        |
| 2. Trường phái Ấn Độ học / Vay mượn (Theodor Benfey, Cosquin, Clouston)       |
|    -> Truyện kể bắt nguồn từ Ấn Độ, lan tỏa qua phương Tây và phương Đông.    |
| 3. Trường phái Lịch sử (Vsevolod Miller, Sokolov, Anikin)                     |
|    -> So sánh trực diện cốt truyện dân gian với sự kiện, nhân vật lịch sử.    |
| 4. Trường phái Lịch sử - Địa lý Phần Lan (J. Krohn, K. Krohn, Antti Aarne)    |
|    -> So sánh dị bản, dựng khung tiêu chuẩn để tìm truyện kể gốc (Ur-form).   |
+-------------------------------------------------------------------------------+

Khoảng trống mà luận án lựa chọn

Mặc dù các tác giả đi trước đã nghiên cứu từng khía cạnh riêng lẻ của truyện cổ tích hay truyền thuyết, nhưng chưa có công trình nào đối chiếu quá trình văn bản hóa giữa một hiện tượng kinh điển phương Tây (Charles Perrault) với các tác phẩm tiêu biểu phương Đông (Việt Nam) nhằm đúc kết quy luật hai cấp độ văn bản hóa và xác định tính bản chất của văn bản folklore.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm cốt lõi

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết folklore học quốc tế và trong nước:

  • Ba xu hướng nghiên cứu folklore (theo tổng kết của R. M. Dorson):
    1. Xu hướng nhân loại học: Nhấn mạnh tính truyền miệng là thành tố chính và vai trò ứng tác của người diễn xướng (tiêu biểu là Albert Lord với The Singer of Tales, 1960).
    2. Xu hướng nhân chủng học: Khảo sát giá trị văn hóa, tàn tích phong tục tập quán (E. B. Tylor, Andrew Lang, Franz Boas, Ruth Benedict, Melville Herskovits, William Bascom với khái niệm "nghệ thuật truyền miệng").
    3. Xu hướng phân tâm học: Giải thích tư liệu truyện kể dân gian qua hành vi vô thức, giấc mơ và ẩn ức bản năng (Sigmund Freud, C. G. Jung, Paul Radin với The Trickster, Gershon Legman).
  • Lý thuyết văn bản folklore: Tiếp thu quan điểm của Đinh Gia Khánh và Trần Đức Ngôn, luận án xác định văn bản folklore cấu thành từ hai phương diện hữu cơ: yếu tố cố định (bất biến) nhằm khẳng định truyền thống nghệ thuật và yếu tố khả biến phản ánh tính đa dạng, sự đổi mới và quá trình phát triển lịch sử của tác phẩm dân gian.
  • Hệ thống phân loại truyện kể quốc tế Aarne - Thompson (A-T): Sử dụng hệ thống type và motif để định vị tính quốc tế và tính dân tộc của các dị bản truyện kể.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

  • Phương pháp luận: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với quan điểm đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam.
  • Phương pháp chuyên ngành:
    • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Bóc tách các lớp xã hội - lịch sử trong từng văn bản truyện kể.
    • Phương pháp so sánh - đối chiếu loại hình lịch sử: Đối chiếu giữa các dị bản truyền miệng và dị bản thành văn, giữa truyện kể phương Tây và truyện kể Việt Nam.
    • Phương pháp quy nạp: Rút ra các nhận định mang tính quy luật từ khảo sát thực chứng hệ thống văn bản.

Nguồn dữ liệu khảo sát

  • Nguồn tư liệu văn bản Pháp: Tuyển tập truyện kể của Charles Perrault năm 1697 (Contes de ma mère l'Oye) và các bản in, khảo luận lưu trữ trong thư mục tiếng Pháp.
  • Nguồn tư liệu văn bản Việt Nam: Toàn bộ các dị bản ghi chép truyện Thánh Gióng, Trầu cau, Tấm Cám trong các tác phẩm Hán Nôm cổ (Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái) và các bộ sưu tập truyện cổ tích thế kỷ XX của Nguyễn Văn Ngọc, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đổng Chi, Chu Xuân Diên, Lê Chí Quế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương một: Vấn đề nghiên cứu truyện kể dân gian từ truyền miệng đến thành văn

Chương này tập trung tổng kết lịch sử nghiên cứu folklore thế giới và Việt Nam, đồng thời phân tích mối quan hệ giữa phương thức truyền miệng và phương thức thành văn qua các thời kỳ lịch sử.

+-------------------------------------------------------------------------------+
| CÁC TRƯỜNG PHÁI VÀ XU HƯỚNG NGHIÊN CỨU TRUYỆN DÂN GIAN (CHƯƠNG MỘT)           |
+----------------------+--------------------------+-----------------------------+
| Trường phái / Hướng  | Đại diện tiêu biểu       | Luận điểm chính             |
+----------------------+--------------------------+-----------------------------+
| Thần thoại ngữ văn   | J. & W. Grimm, Kuhn,     | Truyện cổ tích là tiếng vang|
| (Lý thuyết Aryan)    | Schwartz, Max Müller     | cuối cùng của thần thoại cổ.|
+----------------------+--------------------------+-----------------------------+
| Ấn Độ học            | Theodor Benfey, Cosquin, | Ấn Độ là cội nguồn phát sinh|
| (Thuyết di chuyển)   | Clouston                 | truyện kể lan sang châu Âu. |
+----------------------+--------------------------+-----------------------------+
| Lịch sử              | V. Miller, Sokolov,      | Đối chiếu trực diện cốt     |
|                      | V. Anikin                | truyện với sự kiện lịch sử. |
+----------------------+--------------------------+-----------------------------+
| Lịch sử - Địa lý     | J. Krohn, K. Krohn,      | Dựng bản gốc (Ur-form) qua  |
|                      | Antti Aarne              | so sánh toàn bộ dị bản.     |
+----------------------+--------------------------+-----------------------------+
| Tranh luận Ru-ma-ni  | Hasdeu, Gaster, Cartojan,| Truyền miệng và sách truyện |
| (Truyền khẩu-Thành văn) Chi-ti-mi-a, Birlea    | dân gian tương tác 2 chiều. |
+----------------------+--------------------------+-----------------------------+
  1. Khái niệm folklore và các trường phái nghiên cứu nguồn gốc:

    • Tác giả phân tích sự đa nghĩa và phức tạp của thuật ngữ "folklore", phân biệt folklore đích thực với hiện tượng "fakelore", "faketale". Tại Việt Nam, khái niệm này phát triển qua các chặng đường: văn học dân gian - văn nghệ dân gian - văn hóa dân gian.
    • Phân tích 4 trường phái lớn nghiên cứu nguồn gốc truyện kể:
      • Trường phái Thần thoại ngữ văn học (lý thuyết A-ry-an): Khởi xướng bởi anh em nhà Grimm (Jacob và Wilhelm Grimm) với công trình Kinder- und Hausmärchen (1812, 1815, 1822) và Deutsche Mythologie (1835). Wilhelm Grimm khẳng định: "Truyện cổ tích là tiếng vang cuối cùng của thần thoại xa xưa".
      • Trường phái Ấn Độ học (thuyết di chuyển / vay mượn): Bắt đầu từ Lời tựa bản dịch Panchatantra (1859) của Theodor Benfey, cho rằng Ấn Độ là chiếc nôi sản sinh truyện kể lan truyền sang châu Âu và phương Đông.
      • Trường phái Lịch sử (Nga): Vsevolod Miller với Khảo luận văn học dân gian Nga (1897), gắn cốt truyện dân gian với bối cảnh lịch sử có thật.
      • Trường phái Lịch sử - Địa lý (Phần Lan): Sáng lập bởi Julius Krohn, Kaarle Krohn và Antti Aarne, đề ra phương pháp so sánh dị bản để tìm lại truyện kể gốc và phỏng định thời gian, không gian xuất phát.
  2. Tiến trình từ truyền miệng đến thành văn trong lịch sử văn hóa nhân loại:

    • Luận án chứng minh mọi nền văn học lớn trên thế giới đều khởi đầu từ truyền miệng: từ sử thi Iliad, Odyssey, truyện ngụ ngôn É-dốp (Aesop), kinh Veda, Upanishad, sử thi Ramayana, Mahabharata, truyện Panchatantra đến Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, hay tập Thoại bản Tống Minh của Phùng Mộng Long.
    • Phân tích sâu cuộc tranh luận học thuật tại Ru-ma-ni: B. P. Hasdeu coi truyện truyền miệng là "con gái đẻ", sách truyện dân gian là "con gái nuôi"; Moses Gaster cho rằng có bước chuyển trực tiếp từ truyện thành văn sang truyện truyền miệng; N. Cartojan chứng minh sự tồn tại song hành hài hòa giữa yếu tố uyên bác và yếu tố dân gian; I. Chitimia khẳng định truyện dân gian thành văn hình thành trên nền tảng truyện truyền miệng nhưng đóng vai trò truyền bá mô-típ; O. Bîrlea khảo sát tập truyện của Ion Creangă và chỉ ra chu trình hoàn chỉnh: Sáng tạo truyền miệng -> In thành sách -> Lan tỏa vùng xa -> Tái thâm nhập dòng truyền khẩu.
  3. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam:

    • Tổng thuật đóng góp của Đinh Gia Khánh khi phân tích truyện Tấm Cám (chỉ ra sự kết hợp giữa chủ đề đấu tranh xã hội mang tính quốc tế và chủ đề phong tục mang màu sắc dân tộc); quan niệm mở rộng về truyện dân gian trong Truyện hay nước Việt.
    • Khảo sát mô hình phục dựng cốt truyện Thánh Gióng của Cao Huy Đỉnh.
    • Phân tích sơ đồ của Kiều Thu Hoạch về sự phát triển song song và giao lưu chuyển hóa giữa hai dòng truyền thuyết anh hùng thành văn và truyền thuyết anh hùng truyền miệng, cũng như sự giao thoa với thể tài vè lịch sử và diễn ca.
    • Nhận định của Nguyễn Tấn Đắc về 4 thao tác biên soạn truyện dân gian của các nhà văn cổ: chuyển văn kể miệng thành văn viết bóng bẩy; chen văn vần, tả cảnh, giáo huấn; lồng ghép bình phẩm, triết lý; biến đổi chi tiết để lồng vào khung truyện chung.

Chương hai: Trên quan điểm folklore xem xét quá trình văn bản hóa trong truyện kể của Sác-lơ Pe-rôn

Chương này đi sâu khảo sát trường hợp cụ thể của tác gia Charles Perrault (1628 - 1703) – người có công đầu trong việc văn bản hóa truyện cổ tích tại Pháp và châu Âu cuối thế kỷ XVII.

+-------------------------------------------------------------------------------+
| KHẢO SÁT VĂN BẢN HÓA TRUYỆN KỂ CHARLES PERRAULT (CHƯƠNG HAI)                  |
+-------------------------------------------------------------------------------+
| Xuất bản: 1697 (Tập truyện "Contes de ma mère l'Oye")                         |
| Nguồn ảnh hưởng:                                                              |
|   1. Nguồn truyền khẩu dân gian Pháp thế kỷ XVII.                             |
|   2. Nguồn văn bản văn học trước đó (Boccaccio, Straparola, Basile).          |
| Phương thức xử lý văn bản:                                                    |
|   - Giữ nguyên cốt truyện, chức năng và mô-típ dân gian cốt lõi.              |
|   - Trau chuốt văn phong văn xuôi bác học phù hợp thị hiếu thế kỷ XVII.       |
|   - Bổ sung bài học luân lý bằng thơ (moralités) ở cuối mỗi truyện.           |
| Vị trí folklore học:                                                          |
|   - Được Hệ thống phân loại truyện mẫu Aarne - Thompson (A-T) công nhận.      |
| Tiếp nhận tại Việt Nam:                                                       |
|   - Bản dịch Quốc ngữ sớm nhất: Nguyễn Văn Vinh (1916).                       |
|   - Các bản dịch tái bản: Vũ Ngọc Bình, Phạm Đình Giêm, Hồ Nhật Hồng.        |
+-------------------------------------------------------------------------------+
  1. Cuộc đời, sự nghiệp và vị trí của Sác-lơ Pe-rôn:

    • Năm 1697, Charles Perrault xuất bản tập truyện Histoires ou contes du temps passé (thường gọi là Contes de ma mère l'Oye - Truyện mẹ Ngỗng) tại Pháp, vào thời điểm thế giới chưa hình thành ngành nghiên cứu folklore một cách khoa học.
    • Luận án khẳng định Perrault là một trong những nhà sưu tập truyện kể dân gian sớm nhất ở châu Âu. Tác phẩm của ông không phải là sáng tác cá nhân thuần túy mà là quá trình ghi chép, định hình văn bản từ kho tàng truyện kể dân gian truyền miệng của nhân dân Pháp.
  2. Các nguồn ảnh hưởng và phương thức văn bản hóa của Pe-rôn:

    • Nguồn ảnh hưởng dân gian truyền miệng: Tác giả tiếp thu trực tiếp lời kể dân gian từ người vú nuôi và các tầng lớp bình dân Pháp, bảo tồn hệ thống motif thần kỳ nguyên hợp.
    • Nguồn ảnh hưởng văn bản bác học: Tiếp thu kỹ thuật tự sự từ các tác phẩm đi trước ở Ý và Pháp (Boccaccio, Straparola, Giambattista Basile).
    • Phương thức văn bản hóa: Perrault giữ nguyên kết cấu cốt truyện và các motif dân gian truyền thống, nhưng trau chuốt ngôn ngữ theo phong cách cổ điển thế kỷ XVII, đồng thời gắn thêm phần kết luận luân lý bằng thơ (moralité) nhằm mục đích giáo dục đạo đức cho trẻ em và giới quý tộc đương thời.
    • Tính chất folklore của văn bản: Luận án chứng minh các truyện kể của Perrault (như Cendrillon, La Belle au bois dormant, Le Petit Chaperon rouge, Le Chat botté) hoàn toàn đáp ứng các tiêu chuẩn folklore và đã được hệ thống phân loại quốc tế Aarne - Thompson (A-T) xếp vào danh mục truyện mẫu với các ký hiệu type truyện xác định.
  3. Sự tiếp nhận truyện Perrault tại Việt Nam:

    • Phân tích tiến trình dịch thuật và phổ biến truyện Perrault tại Việt Nam: Bản diễn quốc âm đầu tiên của Nguyễn Văn Vinh trên tạp chí và ấn phẩm của Sheneider / Trung Bắc tân văn (Chuyện trẻ con của Perrault tiên sinh, các năm 1916, 1928, 1929, 1943); các bản dịch của Vũ Ngọc Bình, Phạm Đình Giêm (Hằng Nga ngủ trong rừng, 1958), Hồ Nhật Hồng (Chiếc hài cườm pha lê, 1974), v.v.
    • Tác giả chỉ ra rằng trước đây độc giả Việt Nam tiếp cận truyện Perrault chủ yếu dưới góc độ giải trí hoặc "mẹ kể con nghe", trong khi luận án là công trình đầu tiên phân tích các văn bản này dưới góc nhìn lý luận folklore học.

Chương ba: Trên quan điểm folklore xem xét quá trình văn bản hóa trong một số truyện kể dân gian ở Việt Nam

Chương này tập trung khảo sát lịch sử văn bản hóa truyện kể dân gian tại Việt Nam và phân tích thực chứng trên ba cụm truyện tiêu biểu: Thánh Gióng, Trầu cau, và Tấm Cám.

+-------------------------------------------------------------------------------+
| KHẢO SÁT 3 CỤM TRUYỆN DÂN GIAN VIỆT NAM (CHƯƠNG BA)                          |
+-------------------+--------------------------+--------------------------------+
| Cụm truyện        | Nguồn văn bản đối chiếu  | Quá trình biến đổi & Hiện tượng|
+-------------------+--------------------------+--------------------------------+
| Thánh Gióng       | Lĩnh Nam chích quái,     | Thần thoại/truyền thuyết bộ lạc|
|                   | Việt điện u linh,        | -> Truyền thuyết anh hùng      |
|                   | Thần tích, Lịch sử       | -> Lịch sử hóa thời phong kiến.|
+-------------------+--------------------------+--------------------------------+
| Trầu cau          | Lĩnh Nam chích quái,     | Tục ăn trầu, hôn nhân anh em   |
|                   | Khơ-me, Truyện cổ        | -> Đạo đức luân lý Nho giáo,   |
|                   | nước Nam (Nguyễn Văn Ngọc)| Biến đổi chi tiết quan hệ họ hàng|
+-------------------+--------------------------+--------------------------------+
| Tấm Cám           | 6 văn bản người Việt,    | Cổ tích thần kỳ A-T 510        |
| (Type A-T 510)    | Dị bản Tày, Thái, H'Mông,| -> Giao thoa khu vực Đông Nam Á|
|                   | Hrê, Chăm, Đông Nam Á    | -> Lịch sử hóa địa phương      |
|                   |                          |    (Sự tích Ỷ Lan thái hậu).   |
+-------------------+--------------------------+--------------------------------+
  1. Lịch sử sưu tầm, chỉnh lý truyện dân gian Việt Nam:

    • Thời kỳ phong kiến trung đại: Các trí thức Hán học tiến hành sưu tầm, ghi chép truyện kể dân gian vào các tác phẩm như Việt điện u linh (Lý Tế Xuyên), Lĩnh Nam chích quái (Trần Thế Pháp, Vũ Quỳnh, Kiều Phú). Quá trình này chịu ảnh hưởng của ý thức hệ Nho giáo và xu hướng Hán hóa, lịch sử hóa.
    • Thời kỳ cận - hiện đại: Sự chuyển giao sang chữ Quốc ngữ với các công trình sưu tầm của Nguyễn Văn Ngọc (Truyện cổ nước Nam), Vũ Ngọc Phan (Truyện cổ tích Việt Nam), công trình khảo cứu 5 tập của Nguyễn Đổng Chi (Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam), và tuyển tập của Chu Xuân Diên - Lê Chí Quế.
  2. Khảo sát thực chứng ba trường hợp truyện kể:

    • Truyện Thánh Gióng: Khảo sát sự chuyển hóa loại hình tự sự từ thần thoại và truyền thuyết thời kỳ bộ lạc sang truyền thuyết anh hùng thời Hùng Vương, sau đó được các nhà nho ghi chép thành truyện lịch sử mang màu sắc trung quân ái quốc thời phong kiến.
    • Truyện Trầu cau: Phân tích nguồn gốc cốt truyện gắn với tục ăn trầu cổ xưa và quan hệ hôn nhân gia đình (anh - em, vợ - chồng). Đối chiếu văn bản cổ trong Lĩnh Nam chích quái với truyện trầu cau của dân tộc Khơ-me và các bản kể cận đại để thấy sự biến đổi của các chi tiết luân lý dưới ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức xã hội qua từng thời kỳ.
    • Truyện Tấm Cám (Type A-T 510):
      • Luận án khảo sát toàn diện 6 văn bản truyện kiểu Tấm Cám của người Việt đã công bố, đối chiếu với dị bản của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam (Tua Gia Tua Nhi của người Tày, Ý Ươi Ý Noong của người Thái, Gầu Nà của người H'Mông, Gơ Lơ, Gơ Lát của người Xơ-rê/Xơ-đăng, Ú và Cao của người Hrê, Chiếc giầy vàng của người Chăm).
      • Mở rộng so sánh với các dị bản Đông Nam Á (Néang Cantọc - Campuchia, Nàng Tua Khăm - Lào, Con cá vàng - Thái Lan) và văn bản Nàng Diệp Hạn (Trung Quốc).
      • Phân tích hiện tượng đặc thù: Sự tích Ỷ Lan thái hậu ở làng Thuận Quang (gắn với địa danh Thổ Lỗi, sông Thiên Đức, giếng Bống, nhân vật Khiết Nương, vua Lý Thánh Tông, Lê Công Thiết...). Tác giả chứng minh truyện Tấm Cám đã bị lịch sử hóa, địa phương hóa để trở thành một truyền thuyết lịch sử - danh nhân, dung hợp phần đầu của truyện Tấm Cám với sự tích địa phương.
  3. Nhận xét về ba xu hướng chi phối văn bản hóa ở Việt Nam:

    • Xu hướng Hán hóa những yếu tố dân tộc.
    • Xu hướng lịch sử hóa các yếu tố thần thoại, cổ xưa.
    • Xu hướng hiện đại hóa các chi tiết cổ sơ để thích nghi với hoàn cảnh mới.
    • Luận án chỉ ra rằng các nhà nho xưa chỉ sưu tầm những truyện gắn với lịch sử dân tộc để chứng minh nước Đại Việt "núi non kỳ lạ, đất đai linh thiêng, nhân dân anh hào", do đó đã bỏ qua nhiều truyện cổ tích thần kỳ sinh hoạt giá trị như Thạch Sanh, Sọ Dừa, Cây khế, Tấm Cám.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự đúc kết 8 luận điểm kết luận quan trọng, mang lại đóng góp mới về cả phương diện lý luận lẫn thực tiễn:

+-------------------------------------------------------------------------------+
| HAI CẤP ĐỘ VĂN BẢN HÓA TRUYỆN DÂN GIAN (ĐÓNG GÓP MỚI VỀ LÝ LUẬN)             |
+-------------------------------------------------------------------------------+
| CẤP ĐỘ 1: GHI CHÉP ĐIỀN DÃ NGUYÊN VẸN                                         |
| - Tôn trọng tuyệt đối nội dung cốt truyện, ngôn từ, motif của lời kể miệng.   |
| - Ghi rõ họ tên người kể, địa điểm, thời gian sưu tầm.                        |
| - Mục đích: Bảo tồn nguyên trạng dữ liệu folklore phục vụ nghiên cứu.         |
+-------------------------------------------------------------------------------+
| CẤP ĐỘ 2: BIÊN SOẠN, CHỈNH LÝ KHOA HỌC                                        |
| - Giữ nguyên dáng dấp, cốt truyện, tính truyền thống và thi pháp thể loại.    |
| - Không sáng tác thêm, không hư cấu bịa đặt, không để "trôi motif" / chắp vá. |
| - Tinh giản các chi tiết lạc hậu, làm cho lời văn trong sáng, hấp dẫn.        |
| - Mục đích: Xuất bản phổ biến phục vụ công chúng và giáo dục thế hệ trẻ.      |
+-------------------------------------------------------------------------------+

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Xác định bản chất của văn bản folklore: Khẳng định một truyện kể dân gian không bao giờ tồn tại dưới một văn bản duy nhất. Mỗi văn bản chỉ xuất hiện ở một thời điểm lịch sử - xã hội nhất định và phản ánh bản chất xã hội tại thời điểm đó. Văn bản dân gian là sự dung hòa biện chứng giữa cái bất biến (cốt truyện, motif, kết cấu) và cái khả biến (lời văn, chi tiết thích nghi).
  2. Quy luật chu trình chuyển đổi: Xác lập chu trình vận động: Truyện kể truyền miệng -> Văn bản hóa (Sách truyện dân gian) -> Thâm nhập trở lại đời sống truyền miệng.
  3. Phân định hai cấp độ văn bản hóa: Đưa ra mô hình phân loại rõ ràng giữa cấp độ sưu tầm ghi chép điền dã nguyên vẹn (cấp độ 1) và cấp độ biên soạn, chỉnh lý khoa học (cấp độ 2).

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất

  1. Hệ thống hóa tư liệu so sánh quốc tế: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên tại Việt Nam tập hợp, đối chiếu có hệ thống hệ thống truyện kể Charles Perrault và truyện cổ tích Việt Nam dưới góc độ văn bản học folklore.
  2. Nguyên tắc biên soạn, chỉnh lý truyện dân gian: Luận án đề xuất tiêu chuẩn khoa học cho công tác viết lại truyện cổ dân gian phục vụ đời sống hiện đại:
    • Đạt hai tiêu chuẩn "Có chính trị và có kỹ thuật" theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Hội nghị cán bộ văn hóa ngày 30/10/1958).
    • Tôn trọng triệt để các đặc tính thi pháp của truyện dân gian: tính thần kỳ, tính khoa trương phóng đại, tính ước lệ tượng trưng.
    • Giữ gìn ngôn từ mộc mạc, trong sáng, đậm đà phong vị dân gian; không tùy tiện đưa các yếu tố hiện đại hóa gượng ép làm mất bản sắc truyền thống.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Khảo sát thực chứng tập trung chủ yếu vào ba cụm truyện tiêu biểu (Thánh Gióng, Trầu cau, Tấm Cám) và một tác gia phương Tây (Charles Perrault), chưa thể bao quát toàn bộ các thể loại tự sự dân gian khác như truyện ngụ ngôn, truyện cười hay sử thi.
  • Nguồn tư liệu điền dã đối chiếu giữa các vùng miền chủ yếu dựa trên các văn bản đã xuất bản thành sách, chưa tiến hành điều tra xã hội học folklore trên diện rộng tại tất cả các địa phương.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi khảo cứu quá trình văn bản hóa sang các thể loại tự sự dân gian khác (truyện cười, truyện ngụ ngôn, truyện trạng).
  • Đi sâu nghiên cứu quá trình văn bản hóa kho tàng truyện kể của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam bằng chữ viết dân tộc và chữ Quốc ngữ.
  • Áp dụng phương pháp phân tích thi pháp học và ký hiệu học cấu trúc để giải mã sâu hơn các tầng nghĩa văn hóa ẩn chứa trong các motif dị bản.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo khoa học cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Ngữ văn, Văn học dân gian, Văn hóa học, Nhân học: Tham khảo khung phương pháp luận nghiên cứu văn bản học folklore, phương pháp so sánh loại hình học và cách xử lý dị bản truyện kể.
  • Giảng viên đại học, cao đẳng sư phạm: Sử dụng tư liệu của luận án để biên soạn bài giảng chuyên đề về truyện kể dân gian Việt Nam, lịch sử folklore học thế giới, và tiến trình tiếp nhận văn học dân gian phương Tây tại Việt Nam.
  • Các nhà sưu tầm, biên tập viên nhà xuất bản và soạn giả sách văn học thiếu nhi: Vận dụng nguyên tắc hai cấp độ văn bản hóa và các yêu cầu kỹ thuật biên soạn truyện dân gian nhằm nâng cao chất lượng xuất bản sách truyện cổ tích.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân định hai cấp độ hình thành của "truyện kể dân gian thành văn" như thế nào?

Tác giả xác định hai cấp độ:

  • Cấp độ thứ nhất: Truyện kể được sưu tầm, ghi chép lại nguyên vẹn từ lời kể truyền miệng trong nhân dân, có ghi rõ họ tên người kể, thời gian và địa điểm sưu tầm nhằm bảo tồn tính nguyên thủy của tác phẩm.
  • Cấp độ thứ hai: Truyện kể được các tác gia, nhà nghiên cứu viết lại hoặc chỉnh lý khoa học theo tiêu chuẩn nội dung và thi pháp thể loại; giữ nguyên dáng dấp và cốt truyện gốc, không hư cấu thêm, chỉ tinh giản các chi tiết lạc hậu để phục vụ độc giả đương đại.

2. Cuộc tranh luận học thuật ở Ru-ma-ni về mối quan hệ giữa truyền miệng và thành văn có những quan điểm chính nào?

Cuộc tranh luận gồm 3 quan điểm tiêu biểu:

  • B. P. Hasdeu (A-xơ-đanh): Khẳng định truyện truyền miệng là "con gái đẻ", sách truyện dân gian là "con gái nuôi"; hai hình thức luôn có sự vay mượn, qua lại thường trực.
  • Moses Gaster (Ga-xơ-tê): Cho rằng có bước chuyển trực tiếp từ truyện thành văn sang truyện truyền miệng (truyện truyền miệng tiếp thu đề tài từ thành văn).
  • N. Cartojan và I. Chitimia: Khẳng định truyện thành văn hình thành trên cơ sở truyện truyền miệng, nhưng sách truyện dân gian đóng vai trò tích cực trong việc truyền bá và lưu giữ các motif trong nhân dân.

3. Ba xu hướng chính tác động đến quá trình văn bản hóa truyện dân gian Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử là gì?

Luận án chỉ ra ba xu hướng:

  • Xu hướng Hán hóa những yếu tố dân tộc: Thể hiện rõ trong các văn bản Hán Nôm thời phong kiến do các nhà nho biên soạn.
  • Xu hướng lịch sử hóa các yếu tố cổ sơ: Biến các nhân vật, sự kiện thần thoại, cổ tích thành nhân vật, sự kiện lịch sử có thật (như trường hợp truyện Thánh Gióng hay sự tích Ỷ Lan thái hậu gắn với Tấm Cám).
  • Xu hướng hiện đại hóa các yếu tố cổ xưa: Cải biên chi tiết cho phù hợp với quan niệm xã hội của thời đại mới.

4. Hiện tượng địa phương hóa / lịch sử hóa truyện Tấm Cám được luận án phân tích qua trường hợp nào?

Luận án phân tích trường hợp sự tích Ỷ Lan thái hậu ở làng Thuận Quang:

  • Phần đầu của sự tích hoàn toàn tương ứng với truyện Tấm Cám, nhưng các danh từ phiếm chỉ được chuyển hóa thành địa danh và nhân vật lịch sử cụ thể (làng Thổ Lỗi, sông Thiên Đức, giếng Bống, nàng Khiết Nương, vua Lý Thánh Tông, bố Lê Công Thiết, mẹ Vũ Thị Tinh, dì ghẻ Chu Thị).
  • Nhân dân địa phương đồng nhất sự tích Ỷ Lan thái hậu với truyện Tấm Cám, tạo nên một dị bản địa phương độc đáo kết hợp giữa cổ tích thần kỳ và truyền thuyết lịch sử.

5. Nguyên tắc cốt lõi khi biên soạn, chỉnh lý truyện kể dân gian hiện nay được luận án đề xuất là gì?

Soạn giả phải quán triệt tiêu chuẩn "Có chính trị và có kỹ thuật", tôn trọng tính truyền thống và thi pháp thể loại (tính thần kỳ, phóng đại, ước lệ); sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, trong sáng, đậm chất dân gian; tuyệt đối không tự tiện hư cấu làm biến dạng cốt truyện hay gây ra hiện tượng "trôi motif".


Kết luận

Bản luận án phó tiến sĩ khoa học ngữ văn của tác giả Hà Đình Thành là công trình nghiên cứu chuyên sâu về quy luật chuyển hóa từ truyện kể dân gian truyền miệng sang văn bản thành văn dưới góc nhìn folklore học. Luận án đã làm sáng tỏ mối quan hệ tương tác biện chứng giữa hai dòng truyền miệng và thành văn thông qua khảo sát đối chiếu giữa các văn bản truyện kể của Charles Perrault tại Pháp và các truyện kể kinh điển tại Việt Nam (Thánh Gióng, Trầu cau, Tấm Cám). Công trình đóng góp hệ thống lý luận vững chắc về bản chất văn bản folklore, xác lập hai cấp độ văn bản hóa và đề xuất những nguyên tắc phương pháp luận thiết thực cho công tác sưu tầm, biên soạn truyện dân gian trong giai đoạn hiện nay.