đặt vấn đề đi tìm nguồn gốc truyện kể dân gian và những nguyên nhân giống nhau của nhiều loại truyện kể dân gian trên thế giới. Ngay từ > ae đó, 6 Việt Nam đã hình thành khoa nghiên cứu so sánh truyện kể dan gian theo các trường phái sau đây: 1. Trường phái thần thoại ngũ văn học (hay lý thuyết A-ry-an) Khi các nhà trí thúc, nhất là các nhà chuyên môn bống nhận ra rang, : vào đầu thế kỳ XIX, đã ùn lại một đống lón các thứ truyền thống, các truyện kể dân gian và các phong tục tập quan,. thì ngay lập tức, họ đi sâu vào tìm kiếm những xuất xứ của chúng.
Nhà ngôn ngữ học người Đúc Gia-cốp Grim (Jacob Grim) cùng vói em trai là Vim-hem Grim (Wilhelm Grim) đã cho xuất bản lần lượt ba tập sách vào các năm 1812, 1815, 1822 dưới nhan đề "Truyện kể trẻ em và truyện kể trong nha", và thiết lập ra một ngành khoa học về folklore; rồi sau đó, ho đã tập hop lại toàn bộ những truyện kể dân gian 6 nông thôn thành một hệ "thống thần Thoại” ˆ uyên bác về những cội nguồn 6 trong cuốn Thần (hoại Đúc. Tác phẩm __ quan trọng này được xuất bản vào năm 1835, và khi tái bản lần thú tu, thì được dịch sang tiếng Anh (1882 - 1888). Hai anh em Grim, vốn là những người Đức có đầu óc quốc gia da gia thiết rang, có mot thu điện "Pang-té-Ong" (tho các thần) rất phát triển trong thoi kỳ tiền La Mã, đã bị nhà tho Trung cổ phá hủy, chỉ còn rơi rót lại những mảng hoang tan nằm trong các tín ngưỡng của những truyện thần thoại cổ xưa. Đặc,biệt trong bài tụa do Vin-hem Grim viết cho cuốn "Truyện kể trẻ em và truyện kể trong nhà" - tái ban năm 1858 6 Lai-xích, đã có những ý kiến về nguồn gốc truyện kể dân gian.
Mặc dù chúng chỉ đúng với một số truyện có liên quan đến thần thoại A-ry-an, nhưng chúng đã trỏ thành "Chiếc đũa thần" để cho các nhà thần thoại ngữ văn học sau này sử dụng để phát hiện nguồn gốc truyện kể dân gian (tuy rằng họ có lạm dụng nó và gán ghép nó cho mọi trường hợp). Vậy, chúng tôi có thể tóm tắt những = 1S) = y kién cha Vin-hem Grim nhu sau: - Truyện cổ tích là tiếng vang cuối cùng của than thoại xa xưa. - Chỉ cần phân tích "từ nguyên" của các tên trong các thần thoại A-ry-an cũng đủ hiểu rõ nguồn gốc truyện kể dân gian của các đân tộc ở châu Au. Sau anh em Grim, còn có các học giả khác theo trưởng phái nay như A-dan-béc Kun (người Đúc), Vin-hem Svacro (người Đúc), Max Muy-le (người Anh gốc Duc), PH.A-pha-na-xi-ép (người Nga), A.Guy-béc-na-tít và Sác-lö Po-loi (người Pháp), v.
Ho cũng đã chứng minh rằng, những cốt truyện và các hình tượng nhân vật của -các truyện-kể dân gian đều từ các hiện tượng thần thoại mà ra. Và_ trong tất cả các công trình nghiên cứu của họ đều đã bộc lộ ra ba vấn đề chính: Cội nguồn xuất hiện các truyện kể dân gian. __= Sự giống nhau và khác nhau của những cốt truyện, và của những hình tượng văn hoc dan gian 6 các dân tộc khác nhau. - Ý nghĩa tu tưởng của các truyện kể dân gian.
Hon thế nữa, họ muốn chứng minh rằng, cái gì của châu Âu cũng đều do truyền thống A-ry-an mà ra cả. "Vì vậy mà lập luận của các nhà thần thoại học ngày càng trỏ nên gan đỏ, bị người ta diéu cot và chóng lãng quên, mặc dầu sau đó có nhũng nhà "Tan thần thoại học" cố vung "Chiếc gây than" lên đôi lần nữa" [23:tr. Và dù sao đi chăng nữa: "Đó là những đóng góp đáng kể của họ mà gidi văn học dân gian, trong đó các nhà loại hình học có thể tiếp thu và tiếp tục phát triển" [90:tr. Trường phái Ấn Độ học (tức là lý thuyết đi chuyển hay lý thuyết vay mượn) Tay-lo đã đưa ra một quan điểm mới về nguồn gốc folklore, ông không bác bỏ trường phái thần thoại ngữ van học về câu chuyện "Mặt trời" của Muy-le, mà còn đẩy ngược nó vượt qua thồi A-ry-an cho đến tận thoi "Con người tiền sử".
Nhìn nhận vũ trụ theo thuyết linh hồn (anamiste), con người cổ sơ đã gán cho mỗi bãi cỏ và mỗi hòn sỏi một tâm hồn và một cá tính riêng. Tin ngưỡng này vẫn còn rơi rót lại ö các tang lóp "ngu dốt” trong nền văn minh hiện nay va đã: hình thành các lóp co ban của folklore. Lý thuyết "Tiến hóa luận của Văn hóa" và lý thuyết "Phi tiến hóa của folklore ", nói như Alan Dundes, và do Tay-lo phát lại, thì trước hết đã — bị giả thiết của Ben-phay (Théodor Benfey)- nhà ngữ văn học npudi Duc bác bỏ. Nhà bác học này, trong "Lòi tựa" cho tập truyện kể Ấn Độ vai _ nhan đề : " Panchatantra" (1859), đã chủ trương rằng Ấn Độ vốn có mot nền văn minh cổ mỏ rộng ra khắp châu Âu, là nước cội Yiguồn sản sinh ra các truyện kể dân gian phần nào vẫn còn có giá trị khuôn mẫu mà sau nay chúng ta tìm thấy trong nhũng truyện cổ của Grim.
Những truyện cổ này né rộ chất tân kỳ, được nhập từ An Độ vào châu Âu cùng một lúc vói ngôn ngữ bang con đường truyền miệng,. Luận thuyết của Ben-phây được nhiều nhà nghiên cứu folklore khác hưởng ung, đặc biệt là Cốt-xo-canh (Emmanue) Cosquin) 6 Pháp và Cluxtông (William Alexander Clouston) 6 Ê-cốt. Họ đều là những người đã bổ xung thêm một con đường khác: đó là con đường mà truyện kể dân gian từ Ấn Độ xâm nhập vào phương Đông. Và như thế, Ấn Do đã dan dan mất di cái quyền ưu tiên vdi tu cách là mảnh đất cội nguồn của các truyện kể dân gian quốc tế; trước hết bởi vì người ta đã tìm ra được những điểm - We xuất phát khác như Ai-cập va Hy-lap.
Có thể từ đó, càng ngày người ta càng hiểu ra rang, không thể có sự phổ cập tuyệt đối về nguồn gốc truyện kể dân gian. Truong phái lich su Cuối thé ky XIX, 6 Nga xuất hiện trudng phái lich sử mà người dung đầu là V. Trong công trình "Khảo luận văn học dân gian Nga" (1897), V.Minler đã trình bày các nguyên tắc co bản của trường phái lịch sử. Quan điểm của ông được các học giả sau này như M.Xô-cô-lốp,.
tiếp tục nghiên cứu và bổ xung. Các học giả theo trường phái này 'đã so sánh theo tuyến trực diện giữa những cốt truyện, hình tượng van hoc dân gian vói những su kiện và nhân vật lịch su. Và như vậy là họ đã hạ thấp vai trò sáng tạo của nhân dan đối vói các tác phẩm văn hoc đân gian cũng như đưa-vào-khoa —van học ——— __ò dân gian quan điểm xã hội hoc dung tục trong khi đánh giá một_ tác phẩm nghệ thuật " [68:tr. Mặc dù trường phái lịch sử có mắc phải sai lầm, là không đánh giá đúng đặc thù nghệ thuật sáng tác của folklore ngôn từ, nhưng nó đã khơi gọi cho các nhà folklore học phương hướng để tìm hiểu sâu sắc hơn mối quan hệ giữa tác phẩm folklore (nhất là truyện kể dan gian) voi hiện thực - lịch sử.
Trường phái này sau đó đã được V.Anhikin hoàn thiện trên co sỏ mỹ học Mac-xit. Trường phái lịch sử - địa lý Theo các nhà nghiên cứu folklore Phần Lan mà phương pháp nghiên cúu Sử - Địa của họ đã hấp dẫn phần lón các nhà chuyên môn hồi nửa š hei đầu thế kỷ XX này, thì lịch sử của mỗi bộ sưu tập truyện kể dân gian đòi hỏi một sự nghiên cứu riêng rẻ. Sau khi đã so sánh một cách hết súc kỹ càng những đặc điểm của các mâu thuẫn khác nhau của một số truyện kể dân gian điển hình, các nhà nghiên cứu folklore Phần Lan [nhu Các Kron (Kaarle Krohn), Giu-li-út Kron (Julius Krohn) va Anti Ac-no (Antti Aarne)] nghĩ rằng, ho có thể dung lại được các hình thúc cổ xưa của nó, địa điểm cũng như thời kỳ ang áng da sản sinh ra nó. Những ai thừa nhận lý thuyết lịch sử - địa lý này cũng đều chấp nhận cái ý kiến đầu tiên cho rằng lúc đầu, đã có một tác giả vô danh sáng tạo ra một đề tài chủ yếu cho truyện kể dân gian 6 một thời điểm nào đó giống hệt như nhà van khi viết ra cuốn tiểu thuyết vậy.
-———--Các-nhà- nghiên -cúu-theo-trường-phái- lịch sủ-- địa lý cũng đã cho rằng — _. truyện cổ tích là một sáng tác văn học. Theo họ, muốn dò ra "truyện kể gốc", người nghiên cứu phải trải qua mấy budc: - Tập hop đầy đủ các dị bản hiện có, biết rõ được địa điểm lưu truyền ền của tung dj bản. " “Min _ - So sánh chi li sự giống nhau và khác nhau giữa các dị bản, tìm ra được "cái khung chung nhất làm tiêu chuẩn" cho các dij bản.
- Tro lại so sánh cái khung tiêu chuẩn ấy vói tất cả các di bản để tìm ra bản gốc xưa nhất, và phỏng định được thời gian và địa điểm xuất phát của nó [23:tr. Phải thừa nhận rang, 6 Phần Lan - quê hương của bản trường ca nổi tiếng thế giói Ka-lê-va-la, đã hình thành trường phái lịch sử - địa lý trong folklore học. Và phương pháp nghiên cứu khoa học về folklore chủ yếu là phương pháp ngữ văn học, mà đại diện đầy quyền uy của nó là bố con Kron. TINH HINH NGHIÊN CUU TRUYỆN KE DAN GIAN TRUYEN MIENG VA THANH VAN Tiếng nói của con người phải trải qua nhiều giai đoạn mdi dat toi cách diễn đạt tân kỳ đầy tho mộng như ngày nay với khuynh hướng muốn ngang hàng với âm nhạc ("Am nhạc truóc mọi thú khác" - Pén-vec-len), hoặc muốn kết hợp vào tiếng nói nhiều: màu sắc khác nhau để "Ghi lại cái điều không sao diễn đạt nổi" (Rem-bô).
Con người phải cần đến hàng vài chục vạn năm mdi thốt ra được một lồi nói, và lại phải một thỏi gian dai như vậy nữa mdi viết được nó ra thành chữ để có thể phố biến rộng khắp trong không gian và thời gian. Văn học cũng như tiếng nói của con người đã đi từ truyền miệng đến "thanh van và chu viết, đù chỉ là hình thúc don giản dùng để giao lưu, - hoặc đã mang chất lượng văn học, cũng đều bắt nguồn từ sự giao lưu văn _ hóa, hoặc trong sáng tác truyền miệng, và đã trải qua hàng ngàn vạn năm để trỏ thành chữ viết hoàn chỉnh. Cho nên từ /huật ngữ đơn giản đến những cấu trúc có phong cách đều bat nguồn từ ngôn ngữ truyền miệng, tù những hình thái văn hóa đân gian. Trên thé giói không có nền văn học nao 6 ngoài qua trình tự nhiên va hữu co này.