CHƯƠNG 1: ĐÀO TẤN – CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆP 1. Con người và quê hương của Đào Tấn 1. Con người Đào Đăng Tấn, sau đổi là Đào Tấn, tự là Chỉ Thúc, hiệu là Tô Giang và Mộng Mai, biệt hiệu là Tiểu Linh Phong Mai Tăng hoặc Mai Tăng, sinh ngày 06.1845 (Ất Tị), tại thôn Vinh Thạnh, tổng Thời Tú, huyện Tuy Phước, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định1 (nay thuộc thôn Vinh Thạnh, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định), mất ngày 23 tháng 8 năm 1907, đúng rằm tháng Bảy âm lịch. Sinh thời, Đào Tấn làm thơ, viết từ khúc và soạn tuồng hát bội.
Nhưng xuất sắc hơn cả vẫn là sự nghiệp tuồng. Nhân dân trong vùng đều tôn kính gọi là cụ Đào Vinh Thạnh - vị hậu tổ của nghệ thuật hát bội. Ảnh: Trích sổ hưu của Đào Tấn (chữ Pháp) - ghi năm sinh Quí Mẹo (1843) Thân phụ Đào Tấn, cụ Đào Đức Ngạc làm nghề thầy lang và thân mẫu là Hà Thị Loan. Thuở nhỏ ông sống tại Gò Bồi, Tuy Phước, Bình Định, sau theo cha mẹ về nguyên quán thôn Vinh Thạnh.
Đào Tấn nhà nghèo nên chỉ học chữ 1 Tuy nhiên, theo sổ hưu trí mà triều đình nhà Nguyễn cấp cho Đào Tấn năm 1904, bản chữ Hán và chữ Pháp chúng tôi chụp lại từ tài liệu lưu của gia đình, thì Đào Tấn được ghi là “sinh năm 1843 nhằm năm Quí Mẹo”. Nhưng chính bút tích Đào Tấn năm 55 tuổi cho phép ta lấy năm 1845. 12 Nho ở nhà với cha. Cụ Tú tài Nguyễn Diêu ở tổng Nhơn Ân, xã Phước Thuận, huyện Tuy Phước thấy ông khôi ngô chăm chỉ nên đón về dạy dỗ năm Đào Tấn 13 tuổi (1857).
Nhờ sự rèn cặp của tôn sư, sau mười năm đèn sách, Đào Tấn đã đậu cử nhân thứ 8 khoa Đinh Mão (1867) tại trường thi Bình Định, dưới triều vua Tự Đức. Mãi đến bốn năm sau (1871) khi vua Tự Đức cho soát xét lại những người chưa đỗ đạt, Đào Tấn mới được triệu về kinh thành Huế nhận một chức nhỏ trong ban Hiệu thư. Đào Tấn làm quan trải qua bốn đời vua, có mười hai năm dưới thời Tự Đức (1871 - 1883), nửa năm trong giai đoạn “bốn tháng ba vua” (1883), sau đó bỏ chức về quê khi Kiến Phúc tại vị. Khi vua Hàm Nghi lên ngôi và bỏ kinh thành ban chiếu Cần Vương, Đào Tấn ở quê nhà vì có tang cha nên không tham gia, bị Mai Xuân Thưởng là lãnh tụ phong trào Cần Vương tại Bình Định (1885 - 1887) cho quân tìm bắt nên ông xuất gia đi tu tại chùa Ông Núi (Linh Phong tự) trong ba năm (1883 - 1885).
Ông lại được triệu ra làm quan trở lại dưới thời Đồng Khánh (1886 - 1889) và sau đó lĩnh nhiều trọng trách dưới triều vua Thành Thái cho đến ngày bị hãm hại buộc phải về hưu (1889 - 1904). Như vậy, Đào Tấn có hơn ba mươi năm gắn bó chốn quan trường, trong đó thời gian chủ yếu ở trong cung đình Huế, ngoài ra Đào Tấn đã làm quan ở An Tĩnh (Nghệ An, Hà Tĩnh bây giờ), Quảng Trạch (Quảng Bình), Nam Ngãi (Quảng Nam, Quảng Ngãi bây giờ). Những đánh giá về chặng đường làm quan của Đào công đã được nhiều học giả, nhà nghiên cứu đề cập trong hai cuộc “Hội thảo về Đào Tấn” lần 1 (1977) và lần 2 (1982) do Bộ Văn hoá chủ trì, thống nhất ý kiến khẳng định về mặt nhân cách của Đào Tấn như một vị quan thanh liêm, cương trực, được giới sĩ phu trọng nể và nhân dân yêu quí. Chúng tôi xin điểm lại những nét chính về bước hoạn lộ của Đào Tấn, bổ sung thêm một số ý kiến để thấy rõ hơn con người ông.
Trong suốt quãng đời sau khi thi đậu rồi làm quan, Đào Tấn đã chứng kiến và trải qua nhiều biến cố lớn của lịch sử cũng như của bản thân: - Năm 1867 là năm Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực chống Pháp oanh liệt, sau vì bảo toàn lực lượng và cứu mẹ bị bắt làm con tin mà Nguyễn Trung Trực phải nộp mình (1868); 13 - Năm 1873 thực dân Pháp đánh thành Hà Nội, tổng đốc Nguyễn Tri Phương tuẫn tiết. Triều đình Huế khuất phục trước sức mạnh ngoại xâm, vua Tự Đức kí hoà ước Giáp Tuất (1874) cắt toàn bộ miền Nam cho thực dân Pháp; - Năm 1882 thực dân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai, tổng đốc Hoàng Diệu tự vẫn, thực dân Pháp gây áp lực buộc triều đình kí hiệp ước Harman (1883) và hàng ước Paternôtre (1884). Trang sử mất nước gắn với sự đầu hàng của vua quan nhà Nguyễn; - Vua Tự Đức mất (1883), đất nước rơi vào cảnh hỗn loạn “bốn tháng ba vua” (Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc), quyền bính rơi vào tay hai quyền thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường.
Đào Tấn bỏ quan về quê dưới thời Kiến Phúc, bị triều đình nghị tội giáng 4 cấp; - Vua Hàm Nghi lên ngôi, năm 1885 bỏ kinh thành, ban hịch Cần Vương kháng Pháp, đông đảo sĩ phu hưởng ứng ở các địa phương miền Bắc và miền Trung. Đào Tấn vì đang chịu tang cha không tham gia. Khi vua Đồng Khánh lên ngôi lại triệu hồi Đào Tấn về kinh làm quan (1886); - Từ 1886 - 1904 là khoảng thời gian Đào Tấn liên tục vinh thăng các phẩm hàm cũng như quan tước. Làm Phủ doãn Thừa Thiên, kiêm Giảng quan tại Kinh diên (dạy vua học) dưới thời Đồng Khánh.
Đồng Khánh băng, lại vâng chỉ lưỡng cung đón hoàng tử Bửu Lân đang bị an trí lên ngôi vua. Đào Tấn từng làm Thượng thư ba Bộ: Bộ Công, Bộ Binh, Bộ Hình; rời kinh làm Tổng đốc An Tĩnh 2 lần, Tổng đốc Nam Ngãi. Thành Thái tin tưởng giao chức Cơ Mật viện đại thần, hưởng phẩm hàm lên đến bậc nhất phẩm, lại được phong Hiệp biện đại học sĩ, tước Vinh quang tử. Làm quan trong một thời mà kẻ sĩ bị phân hoá thành nhiều khuynh hướng khác nhau, nhưng Đào Tấn vẫn được triều đình cất nhắc vào những trọng trách, thăng quan tiến chức.
Điều này làm cho việc đánh giá Đào Tấn thời đó và sau này không tránh khỏi có những điểm chưa thống nhất, hiểu lầm, hiểu sai về Đào Tấn.Nhưng Đào Tấn dù làm quan nhưng chưa bao giờ mang tiếng phản lại sĩ lâm, làm trái lương tâm kẻ sĩ. Vua Tự Đức nổi tiếng khắt khe tôn sùng Tống Nho quá mức còn nể trọng tinh thần “không sợ oai vua” (bất úy cường ngự) của Đào Tấn. Nhiều văn nhân danh sĩ Cần Vương từng phê phán, thậm chí truy bắt Đào 14 Tấn trong phong trào Cần Vương sau lại thành bạn tâm giao của ông. Trong chức trách của mình, ông Đào còn làm cho các tên Tây thực dân không dám hống hách ngang tàng mà phải nể vì.
Đào Tấn sống trong thời đại phong kiến suy tàn khiến ông có những mâu thuẫn lớn, giằng xé trong tư tưởng: lúc làm quan, bỏ quan, đi tu, rồi lại ra làm quan, hưởng ân sủng vinh thăng của triều Nguyễn mà thực chất là bị ràng buộc kiểm soát bởi thực dân Pháp. Nhưng ông Đào cũng lại là người ngầm giúp đỡ Phan Bội Châu trong những hoạt động cứu nước, ông còn hay lui tới với Triêu dương thương quán của Đặng Nguyên Cẩn ở Nghệ An, một tổ chức yêu nước gắn với phong trào Đông du của Phan Bội Châu! Rõ ràng, Đào Tấn đã phải chịu những áp lực tư tưởng từ nhiều phía, không dễ gì xác định một thái độ ứng xử để thực hiện những hoài bão của mình. Đào Tấn luôn giữ nhân cách của một kẻ sĩ tiết tháo trong mọi suy nghĩ, hành động và các mối quan hệ ứng xử, trong thế nước đảo điên ông phải chọn cách quyền biến của riêng mình. Sau này, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn, năm 1994, có bài viết Đào Tấn, nghệ sĩ lớn của nền kịch hát Việt Nam khẳng định “Tuy tấm thân đang ở chốn quan trường, nhưng dưới con mắt ông Đào nơi đây toàn là sâu mọt, là trò hề, là nơi bụi bặm, vì vậy mà ông chán cỗ xe quan lao vào gió bụi” [16, 11].
Trong sách Mai Viên cố sự, nhà nghiên cứu Đặng Quí Địch cũng cho rằng “Cái làm nên danh giá nơi cụ Đào Vinh Thạnh không phải chỉ ở một dọc dài quan hàm tước vị kể trên mà chính là ở đức độ của cụ. Trong suốt thời kì tham chánh cụ từng nổi tiếng là một ông quan nhân từ, thanh liêm, chính trực. Nhưng nếu chỉ có thế thì cụ cũng dễ lẫn lộn với các vị tuần lương tuy hiếm nhưng vẫn có trong thời ông. Cái khiến cho tên tuổi cụ trở nên bất hủ chính là ở sự nghiệp dạy hát Bội và soạn tuồng hát Bội mà cụ không ngừng theo đuổi từ năm 19 tuổi cho tới lìa đời” [4, 16].
Các ý kiến đánh giá về con người Đào Tấn đã thật sự thống nhất và một lần nữa được khẳng định nhân kỉ niệm 100 năm ngày sinh của ông Đào (2007). Chúng tôi xin trích dẫn ý kiến của nhà nghiên cứu hát bội lão thành Mịch Quang để thấy rõ hơn về con người Đào Tấn: “Có thể thấy cuộc đời làm quan của Đào Tấn, nhất là dưới triều Thành Thái, khi ông được giao những trọng trách như tổng đốc Nam Ngãi, tổng đốc An Tĩnh, thượng thư các bộ Công, Binh, Hình là một lựa chọn chủ động, đầy hy sinh vì nước vì dân của ông. Thấu hiểu những ê chề cay đắng 15 của kiếp làm quan ở một thời vua không ra vua quan không ra quan, thời lộng hành của bọn xâm lược, của lũ sâu dân, mọt nước, thời của những đọa lạc, những phản bội ghê gớm, nhưng Đào Tấn, con người luôn “Thậm cảm hưng vong chuyện nước nhà”1 vẫn ở lại làm quan giúp vua Thành Thái là vì trách nhiệm của một sĩ phu khi đất nước suy vong, và vì ông tin rằng mình sẽ góp phần làm cho sự liêm chính và lòng trung nghĩa không chết, ngọn đèn cứu nước không tắt và tạo điều kiện cho những anh hùng cứu nước đã và sẽ xuất hiện. Có nhiều bằng chứng cho thấy, tinh thần dân tộc bất khuất, ý chí tự cường mạnh mẽ của vị vua trẻ Thành Thái có ảnh hưởng lớn của Đào Tấn, vị cận thần thân tín của ông.
Không phải ngẫu nhiên mà người đương thời đã gọi Đào Tấn là “Kẻ ở ẩn tại triều”. Nhận định này của Mịch Quang cũng cho thấy chủ trương quyền biến của Đào Tấn khác với triều thần đương thời “quyền biến giả, đầu hàng thật”, bản thân ông còn mang theo chút ảo tưởng về vai trò kẻ sĩ trong thời loạn lạc, hy vọng xoay chuyển tình thế.