Tổng quan về luận án

Quá trình chuyển dịch không gian kiến trúc nông thôn truyền thống dưới tác động của công nghiệp hóa và đô thị hóa (CNH-ĐHD) nhanh chóng đang là thách thức nghiêm trọng đối với di sản văn hóa định cư tại Việt Nam. Luận án tiến sĩ kiến trúc với đề tài "Chuyển đổi không gian kiến trúc làng cổ vùng Đông Nam Bộ" (Mã số: 9.58.01.01) do Nghiên cứu sinh Nguyễn Thành Công thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Thị Bích Thuận và TS. Trần Mai Anh tại Viện Kiến trúc Quốc gia (Bộ Xây dựng, 2023), đặt nền móng nghiên cứu toàn diện và có hệ thống đầu tiên về quy luật biến đổi hình thái không gian làng cổ tại khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam.

Khoảng trống học thuật cốt lõi (research gap) xuất phát từ việc các nghiên cứu di sản nông thôn trước đây chủ yếu tập trung vào không gian làng cổ thuần nông khép kín vùng đồng bằng Bắc Bộ (như Đường Lâm) hoặc làng vườn truyền thống miền Trung (như Phước Tích), trong khi hình thái định cư mở mang tính dung nạp sinh thái đặc thù của vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) gần như bị bỏ ngỏ hoặc chỉ khảo cứu phân tán ở góc độ lịch sử - văn hóa học thuần túy.

Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu trọng tâm (Research Questions - RQ):

  • RQ1: Các nhân tố tự nhiên, lịch sử di dân, kinh tế - xã hội và quy hoạch tác động như thế nào đến sự hình thái hóa và chuyển đổi cấu trúc không gian kiến trúc làng cổ vùng ĐNB từ năm 1975 đến 2023?
  • RQ2: Quy luật và xu hướng chuyển đổi không gian cảnh quan và công trình kiến trúc (từ nhà ở dân gian đến công trình tín ngưỡng, tôn giáo) diễn ra theo những phân cấp và tiêu chí lượng hóa nào?
  • RQ3: Mô hình tổ chức không gian và khung giải pháp quy hoạch - bảo tồn thích ứng nào khả thi để vừa duy trì tính liên tục của cấu trúc di sản, vừa đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa nông thôn mới tại các làng cổ ĐNB?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu (Hypotheses - H) tương ứng gồm:

  • H1: Không gian kiến trúc làng cổ ĐNB bản chất là một cấu trúc mở linh hoạt thích ứng sinh thái - nhân văn, chịu sự chi phối mạnh mẽ của mạng lưới thủy - bộ và tập quán khai phá đất đai của lưu dân Ngũ Quảng từ cuối thế kỷ 16.
  • H2: Sự chuyển đổi không gian làng cổ ĐNB không diễn ra đồng nhất mà phân hóa thành 3 cấp độ (gần như nguyên trạng, biến đổi một phần, biến đổi hoàn toàn) tỷ lệ thuận với khoảng cách đến các hành lang kinh tế, khu công nghiệp và tốc độ đô thị hóa tự phát.
  • H3: Một khung cấu trúc không gian thích ứng tích hợp giữa bảo tồn di sản vật thể/phi vật thể với tái cấu trúc hạ tầng kỹ thuật và không gian công cộng sẽ ngăn chặn đứt gãy hình thái học nông thôn.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 6 tỉnh, thành phố vùng Đông Nam Bộ (TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh, Bình Phước) với tổng diện tích tự nhiên 23.605 km² (chiếm 7,1% diện tích cả nước), tập trung khảo sát thực chứng trên 14 làng cổ đại diện có niên đại từ 100 đến trên 300 năm, lấy làng cổ Phú Hội (huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai) làm địa bàn nghiên cứu điển hình (case study) chuyên sâu. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp cơ sở khoa học để cứu vãn quỹ di sản nhà cổ đang đứng trước nguy cơ triệt tiêu hoàn toàn, định hình tiêu chuẩn quy hoạch nông thôn mới nâng cao tại các vùng cận đô thị hóa.

Literature Review và Positioning

Khảo cứu lịch sử và lý thuyết quy hoạch cho thấy các luồng học thuật nghiên cứu không gian nông thôn truyền thống phân thành ba nhánh chính:

  1. Hình thái học đô thị và cấu trúc định cư nông thôn: Đại diện tiêu biểu bởi M.R.G. Conzen (1960) với lý thuyết phân tích chu kỳ hình thái (morphogenetic approach) và Amos Rapoport (1969) về mối quan hệ giữa văn hóa và hình thái nhà ở dân gian (House Form and Culture).
  2. Lý thuyết sản xuất không gian và biến đổi nông thôn: Khởi xướng bởi Henri Lefebvre (1991) với luận điểm không gian xã hội là sản phẩm của phương thức sản xuất và xung đột giai tầng, kết hợp với trường phái sinh thái nhân văn của Carl Sauer (1925) về cảnh quan văn hóa (cultural landscape).
  3. Bảo tồn thích ứng di sản định cư (Adaptive Heritage Conservation): Phát triển bởi Bernard Feilden (2003) và Jokilehto (1999), nhấn mạnh tính toàn vẹn (integrity) và tính xác thực (authenticity) của di sản sống.

Trong nước, các nghiên cứu của Nguyễn Khởi (1997), Trần Ngọc Thêm (2000), Tôn Nữ Quỳnh Trân (2003) và Nguyễn Hồng Thục (2012) đã khái quát đặc trưng làng xã Nam Bộ. Tuy nhiên, các học giả tồn tại nhiều tranh luận đối nghịch (opposing views): Nhóm thứ nhất (theo quan điểm bảo tồn tĩnh) cho rằng mọi sự thâm nhập của vật liệu bê tông và chia lô mặt phố đều phá nát tính xác thực của làng cổ; nhóm thứ hai (theo quan điểm kinh tế phát triển) lại nhìn nhận sự chuyển đổi nhà ở là quy luật thị trường tự nhiên không thể can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính.

Luận án của NCS. Nguyễn Thành Công định vị chính xác vào khoảng trống trung dung (integrative positioning): xem sự biến đổi không gian kiến trúc là "tiến trình tất yếu nhằm thích ứng với sự thay đổi của tình hình quản lý, của định hướng phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa, của nhu cầu đời sống đương đại" (trích dẫn nguồn gốc luận án).

So sánh quốc tế, nghiên cứu đối sánh trực tiếp với mô hình bảo tồn làng di sản Český Krumlov (Cộng hòa Séc) về quản lý vùng đệm di sản cảnh quan sông nước; làng cổ Shirakawa-go (tỉnh Gifu, Nhật Bản) về cơ chế tham gia cộng đồng (Yui) bảo tồn mái dốc truyền thống; và đặc biệt là kinh nghiệm chuyển đổi cấu trúc làng Bang Namphueng tại huyện Phrapradaeng (Thái Lan) thuộc châu thổ sông Chao Phraya – nơi bảo lưu cấu trúc kênh rạch tự nhiên kết hợp xen cấy công trình công cộng mới mà không phá vỡ mô thức quần cư sinh thái bản địa.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án đã mở rộng và bổ sung lý thuyết hình thái học nông thôn cận đô thị thông qua 4 luận điểm khoa học có tính đột phá:

  • Tái định nghĩa cấu trúc không gian làng cổ ĐNB: Không tuân theo mô hình làng "đóng" với lũy tre, cổng làng, hào nước như làng Bắc Bộ, mà xác lập cấu trúc "mở" tuyến tính dọc triền sông, kênh rạch và mạng lưới giao thông liên vùng, phản ánh bản chất dung hợp, phóng khoáng của lưu dân khai hoang.
  • Mô hình hóa 7 cấu trúc không gian cảnh quan định cư đặc trưng vùng ĐNB: Bao gồm (1) Cấu trúc làng ven bìa rừng (làng lâm phần vùng Tây Ninh, Bình Phước); (2) Cấu trúc làng dạng nhà vườn; (3) Cấu trúc làng trên cù lao (như Cù lao Phố, Tân Triều); (4) Cấu trúc làng dọc sông rạch (như Phú Hội, Hiệp Phước, Lái Thiêu); (5) Cấu trúc làng ven biển (như Long Hải, Phước Hải); (6) Cấu trúc làng trên giồng, đồi, gò; (7) Cấu trúc làng quanh các bàu suối.
  • Nhận diện và phân loại chuẩn hóa 5 kiểu thức kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống ĐNB: (1) Nhà chữ Đinh ($J_1$); (2) Nhà chữ Nhị ($J_2$); (3) Nhà ba gian ($J_3$); (4) Nhà ba gian hai chái kết cấu "bát dần/tám đấm tám quyết" với hệ mái xế đặc trưng ($J_4$); (5) Nhà ba gian song song ($J_5$).
  • Lý thuyết thích ứng không gian chuyển tiếp: Luận chứng tính tương tác biện chứng giữa sự xói mòn cấu trúc gỗ truyền thống và sự thâm nhập của công nghệ xây dựng hiện đại dưới tác động của chính sách quy hoạch Nông thôn mới và quy hoạch khu công nghiệp tập trung.
       [Nhân tố Tự nhiên & Lịch sử] + [Kinh tế - Đô thị hóa] + [Thể chế Quy hoạch]
             [KHUNG ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ CHUYỂN ĐỔI KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC]
 [Cấp độ 1: Gần nguyên trạng]   [Cấp độ 2: Biến đổi 1 phần]   [Cấp độ 3: Biến đổi hoàn toàn]
  (Bảo tồn - Phát huy)           (Cải tạo - Chỉnh trang)       (Tái thiết - Tái cấu trúc)

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp ba trụ cột lý thuyết: Lý thuyết hình thái học không gian (Conzenian morphology), Lý thuyết cảnh quan sinh thái văn hóa (Cultural landscape ecology) và Lý thuyết quản trị thích ứng (Adaptive governance).

Phương pháp tiếp cận dựa trên hệ chỉ tiêu ma trận đa chiều, phân tách cấu trúc làng thành 3 lớp thành phần chính: Lớp cấu trúc hình thái tổng thể (mạng lưới giao thông thủy/bộ, ranh giới làng, quỹ đất canh tác); Lớp không gian cảnh quan - công cộng (cây xanh, mặt nước, đình, chùa, miếu, nhà thờ); Lớp công trình kiến trúc vi mô (nhà ở truyền thống, nhà ở xây mới, vật liệu bao che).

Điều kiện biên (boundary conditions) của khung lý thuyết được xác lập chặt chẽ: áp dụng cho các điểm cư trú nông thôn truyền thống có lịch sử thành lập từ thời chúa Nguyễn (thế kỷ 17) đến trước năm 1975 thuộc 6 tỉnh, thành ĐNB, không áp dụng đối với các khu vực đô thị lõi lịch sử đã chuyển đổi hoàn toàn thành phường nội đô trước năm 1975.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án theo đuổi thế giới quan thực chứng kết hợp thực tại phản tư (critical realism), triển khai thiết kế nghiên cứu hỗn hợp đa cấp độ (multi-level mixed methods design). Thiết kế kết hợp giữa định tính chuyên sâu (khảo cứu sử liệu, điền dã thực địa, phỏng vấn bán cấu trúc) và định lượng hình thái (thống kê không gian, chồng lớp bản đồ GIS, phân tích cơ cấu sử dụng đất).

Cỡ mẫu khảo sát được xác lập chính xác: Tổng thể gồm khoảng 700 thôn, làng lịch sử hình thành trước năm 1975 trên địa bàn ĐNB (qua thống kê ghi nhận TP. Hồ Chí Minh có 297 đình làng có niên đại 1679-1820; Đồng Nai có 141 đình từ năm 1802; Bình Dương có 112 đình từ 1820; Bà Rịa - Vũng Tàu có 39 đình từ 1788-1889; Tây Ninh có 70 thôn làng từ 1859-1954; Bình Phước có 6 đình thần từ 1850-1962). Từ đó, chọn mẫu chủ đích (purposive sampling) 14 làng cổ đại diện cho 6 tỉnh, thành phố và các hình thái cư trú:

  • Đồng Nai: Làng cổ Phú Hội, Hiệp Phước, Tân Triều.
  • TP. Hồ Chí Minh: Làng cổ Bà Điểm (Hóc Môn), Phú Xuân (Nhà Bè).
  • Tây Ninh: Làng cổ Bình Tánh, Gia Lộc (Trảng Bàng).
  • Bình Phước: Làng Công Tra Lộc Thiện (Lộc Ninh).
  • Bình Dương: Làng gốm Lái Thiêu (Thuận An), Làng nhang Dĩ An (TP. Dĩ An).
  • Bà Rịa - Vũng Tàu: Làng cổ Long Điền (huyện Long Điền), Tân Thành (TX. Phú Mỹ), Thạnh Mỹ (Đất Đỏ), Long Hương (TP. Bà Rịa).
                             [QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU RIGOROUS]
[GIAI ĐOẠN 1: THỰC ĐỊA & GIS]     [GIAI ĐOẠN 2: LƯỢNG HÓA]          [GIAI ĐOẠN 3: ĐỀ XUẤT]
- 14 làng cổ / 6 tỉnh thành       - Ma trận tiêu chí 3 cấp độ       - Quy hoạch thích ứng
- Chồng lớp bản đồ đa thời gian   - Phân tích SPSS / GIS không gian - Thiết kế mẫu nhà ở
- Khảo sát 16 nhà cổ Phú Hội      - Đánh giá đứt gãy hình thái      - Thí điểm làng Phú Hội

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu trải qua 4 bước tam giác hóa (triangulation):

  • Tam giác hóa dữ liệu: Đối chiếu bản đồ cổ (như An Nam Đại Quốc Họa Đồ 1838, Bản đồ tỉnh Gia Định 1865) với ảnh hàng không thời kỳ chiến tranh, bản đồ quy hoạch chung các xã năm 2007 và ảnh vệ tinh độ phân giải cao Sentinel/Google Earth giai đoạn 2020-2023.
  • Phương pháp chồng lớp bản đồ (GIS Cartographic Overlay): Số hóa biến động mật độ xây dựng, mạng lưới giao thông và lớp phủ thực vật của 14 làng cổ qua 4 mốc thời gian (trước 1975, 1975-1995, 1996-2010, 2011-2023).
  • Điều tra xã hội học và phỏng vấn chuyên gia: Sử dụng phiếu điều tra cấu trúc phát trực tiếp đến các hộ dân cư ngụ trong nhà cổ, nhà xây mới và cán bộ quản lý địa phương; phỏng vấn sâu các chuyên gia thuộc Viện Kiến trúc Quốc gia, Sở Xây dựng, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch các tỉnh ĐNB.
  • Độ tin cậy và giá trị: Thước đo đánh giá hiện trạng kiến trúc công trình tôn giáo, nhà ở đạt độ đồng thuận chuyên gia cao (Inter-rater reliability Kappa > 0.85); hệ tiêu chí phân loại chuyển đổi được chuẩn hóa qua thử nghiệm lặp lại trên nhiều địa bàn.

Data và phân tích

Kết quả phân tích định lượng chỉ ra sự biến thiên rõ rệt giữa các vùng:

  • Tại làng Phú Hội (diện tích 4,13 km Bắc - Nam × 3,71 km Đông - Tây), tuyến tỉnh lộ 25A đã cắt đôi làng thành 2 vùng sinh thái - chức năng đối lập: Vùng bán sơn địa gò đồi có mật độ cư trú cao, tập trung 16 ngôi nhà cổ trên 100 năm tuổi (tiêu biểu như nhà cổ họ Đào - Hội đồng Liêu kiến trúc nhà rường xuyên trính, ngói vảy cá); và Vùng trũng thấp ven sông Đồng Môn chuyên canh lúa nước và nuôi trồng thủy sản.
  • Tại làng Hiệp Phước (huyện Nhơn Trạch), áp lực từ 4 khu công nghiệp bao quanh (KCN Nhơn Trạch 1, 2, 3, 6) đã nâng mật độ xây dựng từ dưới 15% (trước 1995) lên trên 65% (năm 2022), làm biến mất hoàn toàn ranh giới cảnh quan nông nghiệp nguyên bản.
  • Kỹ thuật chồng lớp bản đồ xác lập chính xác tốc độ bê tông hóa hạ tầng giao thông ngõ xóm đạt 90-95% tại các làng thuộc TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai; trong khi diện tích vườn cây ăn trái bình quân/hộ gia đình giảm từ 2.500 m² (giai đoạn trước 1975) xuống còn 400 - 600 m² (năm 2023) do phân chia thừa kế đất đai cho các thế hệ con cháu.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án công bố 5 phát hiện cốt lõi mang tính bước ngoặt:

  1. Quy luật hình thành không gian mở phân tán: Làng cổ ĐNB hình thành từ các điểm cư trú ven sông, rạch hoặc cù lao (Bàn Lân, Cù Lao Phố, Bến Gỗ, Bến Cá, Cù Lao Rùa, Tân Triều) không có cổng làng hay lũy tre phong kín, cấu trúc định cư gắn bó hữu cơ với tập quán đua ghe, vận tải đường thủy và kinh tế vườn cây ăn trái.
  2. Sự đứt gãy hình thái học kiến trúc tôn giáo: Hệ thống đình làng ĐNB mang mô thức "nhà tứ trụ" (bốn cột cái trung tâm, kèo đấm, kèo quyết tỏa ra bốn hướng tạo không gian thờ tự vuông vức) sử dụng đá ong già đặc thù làm nền và tán chân cột, chạm khắc tinh xảo bởi "trường phái thợ Thủ" (Bình Dương) và thợ mộc miền Trung ("thợ Huế"). Tuy nhiên, quá trình trùng tu tự phát giai đoạn 1950-1970 và từ năm 2000 đến nay sử dụng xi măng, gạch men ngoại lai đã làm suy thoái nghiêm trọng 70% chi tiết mỹ thuật nguyên gốc.
  3. Hiện tượng "phố hóa" nhà ở nông thôn (Rural Street-front Housing Proliferation): Xuất hiện tình trạng chia nhỏ các lô đất vườn 1-2 sào truyền thống thành các lô đất hình ống hẹp bám mặt đường liên xã, thay thế các ngôi nhà chữ Đinh, chữ Nhị 3 gian thoáng mát bằng nhà hộp bê tông nhiều tầng mái bằng hoặc mái dốc phi tỷ lệ, phá vỡ tính đồng nhất của vi khí hậu cảnh quan làng.
  4. Hệ thống tiêu chí lượng hóa 3 cấp độ chuyển đổi không gian kiến trúc:
    • Cấp độ I - Biến đổi ít/gần như nguyên trạng: Cấu trúc không gian tổng thể còn nguyên vẹn >80%, còn nhiều nhà cổ và di tích xếp hạng (Áp dụng giải pháp: Bảo tồn thích ứng, giữ nguyên vùng đệm cảnh quan tự nhiên).
    • Cấp độ II - Biến đổi một phần: Hạ tầng giao thông mở rộng, đan xen 30-50% nhà ở xây mới, nhà cổ bị hư hại (Áp dụng giải pháp: Cải tạo, chỉnh trang, khôi phục cấu trúc vườn và kiểm soát tầng cao).
    • Cấp độ III - Biến đổi hoàn toàn: Cấu trúc làng cũ bị chia cắt, mật độ xây dựng đô thị chiếm >70%, nhà cổ chỉ còn đơn lẻ (Áp dụng giải pháp: Tái thiết có chọn lọc, bảo tồn điểm di tích hạt nhân).
  5. Nghịch lý bảo tồn trong chương trình Nông thôn mới: Luận án chỉ ra "việc quy hoạch nông thôn mới thiếu các định hướng cơ sở về bảo tồn kiến trúc cảnh quan, các quy hoạch phát triển hệ thống giao thông và nâng cấp mở rộng cơ sở hạ tầng theo kiểu đô thị... đã phần nào làm phá vỡ các cấu trúc tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan làng cổ vùng ĐNB" (trích xuất trực tiếp từ luận án).
Tiêu chí so sánh Làng cổ Đồng bằng Bắc Bộ (Đường Lâm) Làng cổ Miền Trung (Phước Tích) Làng cổ Đông Nam Bộ (Phú Hội, Long Điền)
Cấu trúc ranh giới Khép kín (lũy tre, cổng làng, hào nước) Khép kín tương đối, bao bọc bởi sông Ô Lâu Không gian mở dọc sông rạch, tỉnh lộ, bìa rừng
Mô thức nhà ở Nhà ngang 3 gian 2 chái, sân gạch trước Nhà rường truyền thống, vườn chè tàu Nhà chữ Đinh, chữ Nhị, ba gian mái xế bát dần
Kỹ thuật khung gỗ Kèo kẻ chuyền, giá chiêng, gỗ xoan/lim Khung rường xuyên trính, gỗ kiền/gõ Khung rường tứ trụ, đá ong già, chạm thợ Thủ
Động lực biến đổi Du lịch hóa di sản, áp lực cơi nới dân số Biến đổi chậm, già hóa dân số Đô thị hóa cực nhanh, khu công nghiệp bao vây

Implications đa chiều

  • Về mặt lý thuyết: Bổ sung vào kho tàng lý luận kiến trúc Việt Nam một phân vùng di sản định cư hoàn chỉnh cho khu vực Nam Bộ; cung cấp luận cứ chứng minh tính năng động sinh thái nhân văn của kiến trúc bản địa trước biến đổi khí hậu (chống ngập úng mùa lũ sông Đồng Nai - Sài Gòn, chống bức xạ nhiệt gió mùa Tây Nam).
  • Về mặt phương pháp luận: Đóng góp bộ công cụ kết hợp giữa điều tra xã hội học vi mô và phân tích không gian GIS đa thời gian, có thể chuyển giao áp dụng cho nghiên cứu các vùng nông thôn châu thổ sông Cửu Long và ven biển Nam Trung Bộ.
  • Về thực tiễn thiết kế & quản lý: Đề xuất các mẫu tổ hợp kiến trúc nhà ở mới kế thừa ngôn ngữ truyền thống (dạng mặt bằng chữ Nhật, chữ Nhị cải tiến có khoảng lùi sân vườn, độ dốc mái ngói thích hợp) thay thế cho mô hình nhà lô phố tự phát; thiết lập quy chế quản lý quy hoạch chi tiết cho làng cổ Phú Hội và 13 làng cổ còn lại trong vùng.
  • Về chính sách công: Cung cấp cơ sở khoa học để UBND các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu phê duyệt Đề án công nhận di tích - di sản làng cổ (vốn bị đình trệ từ năm 2010 do thiếu tiêu chí phân loại), tích hợp chỉ tiêu bảo tồn cảnh quan vào đồ án Quy hoạch xây dựng vùng huyện và Đề án Xây dựng Nông thôn mới kiểu mẫu.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn chỉ rõ 3 giới hạn nghiên cứu chính:

  1. Dữ liệu lịch sử phân tán và thiếu đồng bộ: Do chiến tranh kéo dài và sự di dời hành chính qua nhiều thời kỳ, các hồ sơ địa bạ, bản đồ trắc đạc địa chính làng xã thời Nguyễn và thời Pháp thuộc của một số làng vùng sâu (Tây Ninh, Bình Phước) bị thất lạc, gây khó khăn cho việc phục dựng trọn vẹn ranh giới nguyên khởi.
  2. Mẫu khảo sát nhà cổ còn bị giới hạn bởi quyền sở hữu tư nhân: Nhiều ngôi nhà cổ thuộc sở hữu gia đình nhiều thế hệ không cho phép đo vẽ chi tiết kết cấu nội thất vì lý do tín ngưỡng thờ tự hoặc tranh chấp thừa kế.
  3. Chưa lượng hóa toàn diện tác động của biến đổi khí hậu dài hạn: Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào động lực kinh tế - xã hội, chưa mô phỏng kịch bản ngập lụt cực đoan và xâm nhập mặn kết hợp triều cường theo các kịch bản phát thải RCP của IPCC tác động đến vật liệu gỗ và đá ong.

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda) mở ra 4 hướng tiếp nối:

  • Ứng dụng công nghệ quét 3D Laser Scanning và mô hình thông tin công trình di sản (HBIM - Heritage Building Information Modeling) để số hóa toàn diện 14 làng cổ ĐNB.
  • Mở rộng phân tích kinh tế lượng không gian (Spatial Econometrics) đánh giá mối quan hệ giữa giá trị đất đai và mức độ suy thoái kiến trúc làng cổ.
  • Nghiên cứu cơ chế tài chính chi trả dịch vụ cảnh quan (PES) và chuyển nhượng quyền phát triển (TDR - Transfer of Development Rights) cho các chủ sở hữu nhà cổ.
  • Đánh giá khả năng chống chịu khí hậu (Climate Resilience) của các cấu trúc định cư làng cù lao và ven sông vùng hạ lưu sông Đồng Nai.

Tác động và ảnh hưởng

Công trình của NCS. Nguyễn Thành Công tạo ra những ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều bình diện:

  • Ảnh hưởng học thuật: Là tài liệu chuyên khảo chuẩn mực cho các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học chuyên ngành Kiến trúc, Quy hoạch vùng và đô thị, Quản lý di sản đô thị (như Đại học Kiến trúc Hà Nội, Đại học Kiến trúc TP.HCM, Viện Kiến trúc Quốc gia). Dự kiến tạo tiền đề cho hàng loạt công bố quốc tế về di sản nông thôn chuyển tiếp tại Đông Nam Á.
  • Tác động ngành xây dựng & kiến trúc: Chuyển đổi tư duy thiết kế từ "sao chép kiến trúc thành thị" sang "thiết kế kiến trúc thích ứng cảnh quan nông thôn", thúc đẩy thị trường phục dựng vật liệu địa phương (đá ong già, ngói âm dương, gỗ bản địa).
  • Tác động chính sách cấp vùng: Định hình khung pháp lý hướng dẫn bảo tồn di sản nông thôn trong Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) và Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn; giúp các địa phương quản lý hiệu quả nguồn vốn ngân sách đầu tư cho chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới.
  • Lợi ích xã hội và cộng đồng: Nâng cao nhận thức cộng đồng địa phương về giá trị kinh tế của di sản thông qua mô hình du lịch sinh thái nông nghiệp (như Làng bưởi Tân Triều, Làng trà Phú Hội, Làng gốm Lái Thiêu), tạo sinh kế bền vững tại chỗ và ngăn chặn tình trạng "chảy máu di sản" (bán nhà cổ cho các khu nghỉ dưỡng thương mại).

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận cơ sở dữ liệu định lượng và bản đồ hình thái chuẩn xác của 14 làng cổ ĐNB; kế thừa khung phân tích và ma trận tiêu chí phân loại mức độ chuyển đổi không gian.
  • Cơ quan Quản lý Nhà nước (Bộ Xây dựng, Bộ VHTTDL, UBND các tỉnh ĐNB): Sở hữu công cụ khoa học có độ tin cậy cao để ban hành Quy chế quản lý kiến trúc nông thôn, thẩm định các dự án quy hoạch xây dựng vùng huyện và đề án bảo tồn di tích cấp tỉnh/quốc gia.
  • Chuyên gia Quy hoạch và Kiến trúc sư: Khai thác hệ thống giải pháp tổ chức không gian mẫu và các chi tiết kết cấu nhà ở thích ứng để áp dụng trực tiếp vào các đồ án quy hoạch nông thôn mới và thiết kế công trình công cộng xã.
  • Cộng đồng cư dân bản địa tại các làng cổ: Được hưởng lợi trực tiếp từ việc cải thiện chất lượng môi trường sống, hạ tầng kỹ thuật văn minh nhưng vẫn giữ được hồn cốt không gian truyền thống, gia tăng thu nhập từ kinh tế di sản.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào? Trả lời: Đóng góp độc đáo nhất là việc xác lập "Lý thuyết hình thái không gian mở thích ứng sinh thái - nhân văn" đặc thù cho làng cổ vùng Đông Nam Bộ. Luận án đã mở rộng Lý thuyết Sản xuất Không gian của Henri Lefebvre và Lý thuyết Hình thái học đô thị của M.R.G. Conzen vào bối cảnh nông thôn cận đô thị thuộc nền văn minh sông nước phương Nam, bác bỏ quan niệm áp đặt mô hình "làng khép kín Bắc Bộ" cho toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.

2. Điểm đổi mới về phương pháp luận so với ít nhất hai nghiên cứu tiền nhiệm? Trả lời: So với nghiên cứu của Nguyễn Khởi (1997) vốn thuần túy khảo tả định tính kiến trúc dân gian và nghiên cứu của Tôn Nữ Quỳnh Trân (2003) chủ yếu đứng trên góc độ xã hội học lịch sử, luận án của Nguyễn Thành Công đã tạo bước đột phá phương pháp luận khi tích hợp công nghệ chồng lớp bản đồ GIS đa thời kỳ (1838 - 2023) với ma trận lượng hóa mức độ chuyển đổi hình thái gồm 3 cấp độ rõ ràng, kết hợp điều tra cấu trúc hạ tầng - nhà ở trên diện rộng 14 làng cổ thuộc 6 tỉnh thành.

3. Phát hiện gây bất ngờ nhất được chứng minh bằng dữ liệu là gì? Trả lời: Phát hiện bất ngờ nhất là chính các chương trình hiện đại hóa hạ tầng giao thông và chỉ tiêu xây dựng công trình công cộng của Chương trình Nông thôn mới cùng với quá trình tự trùng tu của người dân lại là nguyên nhân trực tiếp làm xói mòn cấu trúc di sản nhanh hơn cả tác động tự nhiên. Dữ liệu thực chứng cho thấy trên 70% di tích đình, chùa cổ bị suy thoái mỹ thuật do sử dụng xi măng, sơn công nghiệp và 90% nhà cổ bị biến đổi hoặc tháo dỡ để thay thế bằng nhà lô phố bê tông do thiếu quy chuẩn thiết kế nhà ở nông thôn thích ứng.

4. Luận án có cung cấp quy trình nhân bản (Replication Protocol) không? Trả lời: Có. Luận án cung cấp trọn vẹn quy trình 4 bước kèm theo: (1) Bộ mẫu phiếu điều tra xã hội học và bảng kiểm khảo sát kiến trúc - hạ tầng; (2) Bộ tiêu chí đánh giá mức độ chuyển đổi với trọng số rõ ràng; (3) Hướng dẫn kỹ thuật số hóa chồng lớp bản đồ GIS; (4) Khung giải pháp tổ chức không gian điển hình được kiểm chứng chi tiết qua đồ án quy hoạch thực nghiệm tại làng cổ Phú Hội (Nhơn Trạch, Đồng Nai).

5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình như thế nào? Trả lời: Lộ trình 10 năm (2024-2034) gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (2024-2026) số hóa HBIM và xây dựng cơ sở dữ liệu số (Digital Twin) cho toàn bộ 14 làng cổ ĐNB; Giai đoạn 2 (2027-2029) hoàn thiện chính sách chuyển nhượng quyền phát triển (TDR) và thử nghiệm vật liệu xây dựng sinh thái bản địa thích ứng biến đổi khí hậu; Giai đoạn 3 (2030-2034) xây dựng mạng lưới các làng di sản thông minh (Smart Heritage Villages) kết nối liên kết vùng Đông Nam Bộ và châu thổ sông Mê Kông.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của NCS. Nguyễn Thành Công là một công trình khoa học công phu, mẫu mực và xuất sắc về chuyên ngành Kiến trúc, mang lại 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:

  1. Xác lập hệ thống cơ sở lý luận khoa học hoàn chỉnh đầu tiên về hình thái học không gian kiến trúc làng cổ vùng Đông Nam Bộ với tính chất cấu trúc mở thích ứng sông nước và kinh tế vườn.
  2. Nhận diện và lập danh mục phân loại chuẩn xác 14 làng cổ đại diện trên địa bàn 6 tỉnh, thành phố Đông Nam Bộ hình thành trong giai đoạn 1698 - 1975.
  3. Xây dựng thành công hệ tiêu chí ma trận định lượng để phân cấp 3 mức độ chuyển đổi không gian kiến trúc (nguyên trạng, biến đổi một phần, biến đổi hoàn toàn), giải quyết khoảng trống trong công tác kiểm kê di sản.
  4. Đề xuất hệ thống mô hình định hướng quy hoạch không gian cảnh quan và thiết kế mẫu kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống cải tiến phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội đương đại.
  5. Ứng dụng thực nghiệm thành công các giải pháp quy hoạch bảo tồn và phát triển thích ứng cho case study làng cổ Phú Hội (Đồng Nai), mở đường cho việc nhân rộng mô hình ra toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Công trình không chỉ tạo bước chuyển biến căn bản về mặt nhận thức học thuật đối với di sản nông thôn phương Nam mà còn là bản thiết kế hành động cấp thiết để cứu vãn bản sắc kiến trúc cảnh quan Việt Nam trong cơn lốc đô thị hóa toàn cầu.