Tổng quan luận án

Lễ hội cổ truyền tại Việt Nam là loại hình sinh hoạt văn hóa và sản phẩm tinh thần của cộng đồng, được hình thành và phát triển qua tiến trình lịch sử lâu dài. Theo thống kê, cả nước có trên 8.000 lễ hội phân bố trên khắp ba miền. Trong hơn hai thập kỷ qua, các hoạt động thực hành tôn giáo, tín ngưỡng trỗi dậy mạnh mẽ; quy mô tổ chức lễ hội được mở rộng cùng với sự biến đổi trong phương thức tham gia của cả Nhà nước và cộng đồng. Lễ hội không chỉ thuần túy là không gian sinh hoạt tâm linh của người dân làng xã mà còn trở thành môi trường củng cố thẩm quyền quản lý của bộ máy chính quyền, thiết lập các mối quan hệ xã hội, phát triển hoạt động kinh tế thương mại và thỏa mãn nhu cầu của nhiều nhóm xã hội khác nhau. Vấn đề đặt ra là việc tham gia và tổ chức lễ hội mang lại những nguồn lực và lợi ích cụ thể nào cho các bên liên quan.

Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình trước đây về lễ hội Đền Và chủ yếu tiếp cận dưới góc độ văn học hoặc văn hóa học truyền thống, tập trung miêu tả thời gian, không gian, diễn trình nghi lễ, thần tích và nhiệm vụ của các thành viên. Rất ít công trình đi sâu làm rõ cơ sở hình thành, phương thức biểu hiện và sự chuyển hóa lợi ích từ nguồn vốn xã hội (VXH) trong thực hành tín ngưỡng và quản lý lễ hội Đền Và. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số 9229040) của nghiên cứu sinh Nguyễn Thùy Linh, bảo vệ năm 2022 tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Bùi Hoài Sơn và PGS.TS. Dương Văn Sáu, được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ cơ sở hình thành, biểu hiện và lợi ích của vốn xã hội trong lễ hội Đền Và từ quá khứ đến hiện tại.

Luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa và phân tích khái niệm vốn xã hội cùng các khái niệm liên quan; mô tả dân tộc học về thời gian, không gian, diễn trình lễ hội cũng như sự hình thành và các lớp ý nghĩa văn hóa của hình tượng Đức Thánh Tản.
  2. Phân tích và lý giải các đặc trưng nổi bật của vốn xã hội của Nhà nước và cộng đồng (cơ sở hình thành, biểu hiện và lợi ích) trong môi trường tín ngưỡng và lễ hội Đền Và.
  3. Nhận diện và phân tích một số vấn đề đặt ra từ vốn xã hội trong lễ hội Đền Và cũng như các xu hướng biến đổi và phát triển của nguồn vốn này trong tương lai.

Ba câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm:

  1. Thông qua tín ngưỡng và lễ hội, vốn xã hội dưới góc độ Nhà nước đã được hình thành, biểu hiện và đem lại những lợi ích như thế nào?
  2. Thông qua tín ngưỡng và lễ hội, vốn xã hội dưới góc độ cộng đồng đã được hình thành, biểu hiện và đem lại những lợi ích như thế nào?
  3. Mối quan hệ hai chiều giữa Nhà nước và cộng đồng trong việc tạo lập và sử dụng nguồn vốn xã hội là gì? Xu hướng vận động và biến đổi của vốn xã hội trong lễ hội Đền Và hiện nay là gì?

Ba giả thuyết nghiên cứu tương ứng:

  1. Giả thuyết thứ nhất: Vốn xã hội được hình thành, biểu hiện và đem lại lợi ích thông qua quá trình Nhà nước quản lý tín ngưỡng và củng cố hệ tư tưởng chính trị. Sự lan tỏa giá trị xã hội của hình tượng Đức Thánh Tản vừa là sự vận động tự thân, vừa chịu tác động từ yếu tố chính trị khi tuyển chọn các giá trị phù hợp với lợi ích quốc gia để phổ biến trong đời sống. Từ đó, Nhà nước chính thống hóa vai trò tổ chức, mở rộng quan hệ xã hội, thực hiện quá trình "sáng tạo truyền thống" và bảo đảm phân công xã hội.
  2. Giả thuyết thứ hai: Vốn xã hội dưới góc độ cộng đồng được hình thành, biểu hiện và mang lại lợi ích trên ba phương diện kinh tế, văn hóa và biểu tượng. Nền kinh tế nông nghiệp xứ Đoài tạo tiền đề địa danh hóa Đức Thánh Tản và sản phẩm đặc trưng; quá trình thiêng hóa nhân vật phụng thờ và gìn giữ niềm tin củng cố ý thức cộng đồng; hệ thống biểu tượng và nghi thức quy định hành vi và cố kết xã hội.
  3. Giả thuyết thứ ba: Mối quan hệ giữa Nhà nước, cộng đồng và vốn xã hội biểu hiện trên các phương diện định chế xã hội, phân công xã hội, sáng tạo truyền thống, cái thiêng và biểu tượng hóa. Hiện nay, vốn xã hội trong lễ hội Đền Và đang vận động theo các xu hướng quyền lực hóa, kinh tế hóa và văn hóa hóa.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là niềm tin, chuẩn mực xã hội, quan hệ xã hội và lợi ích xã hội của Nhà nước và cộng đồng trong lễ hội Đền Và. Đối tượng khảo sát chính là lễ hội Đền Và diễn ra định kỳ 1 năm 2 lần (tháng Giêng và tháng Chín).

Phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:

  • Về nội dung: Tập trung vào cơ chế hình thành, biểu hiện và lợi ích của vốn xã hội đối với các chủ thể Nhà nước và cộng đồng.
  • Về không gian: Không gian di tích Đền Và tại phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội và không gian thực hành nghi lễ liên quan tại đền Ngự Dội (xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc).
  • Về thời gian: Khảo sát quá trình tạo lập và biến đổi vốn xã hội trong khoảng 20 năm trở lại đây, từ khi lễ hội Đền Và được khôi phục trở lại và nâng tầm thành lễ hội cấp vùng (năm 1999) đến thời điểm điền dã nghiên cứu (2017–2019).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận có hệ thống ba nhóm tài liệu nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài:

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về lý thuyết vốn xã hội trên thế giới và ở Việt Nam. Khái niệm vốn xã hội được L.J. Hanifan đề cập từ năm 1916, sau đó được Jane Jacobs (1961) và Pierre Bourdieu (từ đầu thập niên 1970 và ấn phẩm năm 1986) phát triển thành khung lý thuyết quan trọng về mạng lưới xã hội và sự chuyển hóa giữa vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn xã hội. James Coleman (1988) phân tích vốn xã hội trong gia đình, cộng đồng và mối liên hệ tạo ra vốn con người. Robert Putnam (1995) qua tác phẩm "Bowling Alone" cảnh báo sự suy giảm vốn xã hội và gắn kết công dân tại Mỹ. Francis Fukuyama (1995, 2000) nhấn mạnh vai trò của vốn xã hội như các chuẩn mực phi chính thức thúc đẩy hợp tác và giảm chi phí giao dịch. Các nghiên cứu kinh tế vi mô và phát triển của Christiaan Grootaert (Indonesia), L. Guiso, Michael Woolcock và Deepa Narayan chứng minh ảnh hưởng của vốn xã hội đến giảm nghèo và tiếp cận tài chính. Tại Việt Nam, Trần Hữu Quang khảo cứu sâu về lòng tin, chuẩn mực đạo đức, so sánh định chế xã hội cổ truyền với hiện đại và định chế phi chính thức ở Tây Nguyên; Trần Hữu Dũng nhìn nhận vốn xã hội dưới góc độ tài sản kinh tế và chi phí giao dịch; Nguyễn Duy Thắng nghiên cứu chiến lược sinh kế nông dân ven đô Hà Nội; Fleur Thomése và Nguyễn Tuấn Anh khảo sát quan hệ họ hàng trong dồn điền đổi thửa ở Bắc Trung Bộ; Lê Ngọc Hùng tổng hợp mô hình mạng lưới xã hội; Nguyễn Quý Thanh đo lường tam giác mạng lưới - lòng tin - sự tham gia và so sánh gia đình Việt - Hàn; Lương Văn Hy (2010) phân tích dòng quà tặng và vốn xã hội tại Hoài Thị (Bắc Ninh) và Khánh Hậu (Long An); Nguyễn Anh Tuấn (2011) nghiên cứu "sổ nợ đời"; Mai Thị Hạnh (2014) khảo sát việc tạo lập vốn xã hội trong bản hội Đạo Mẫu; Lê Minh Tiến giới thiệu phương pháp phân tích mạng lưới và lý thuyết sức mạnh quan hệ yếu của Mark Granovetter (1973).

Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu về vai trò và mối quan hệ giữa Nhà nước và cộng đồng trong quản lý lễ hội. Ngô Đức Thịnh phân tích hiện tượng đền Bà Chúa Kho như sự tâm linh hóa chủ nghĩa yêu nước gắn với chính sách đổi mới; Choi Horim chỉ ra chính trị văn hóa trong việc chuẩn hóa nghi lễ làng xã tại Hà Nội; Daniel Fabre nghiên cứu sự quy đổi thực hành lễ hội thành biểu tượng bản sắc sau khi được công nhận di sản; Lê Thị Minh Lý, Phan Phương Anh, Bùi Hoài Sơn, Từ Thị Loan, Lê Hồng Lý và cộng sự phân tích các chiều cạnh di sản hóa, hành chính hóa, tính thiêng và sự tác động của Nhà nước đối với quyền tự quản của cộng đồng tại hội Gióng, đền Hùng, chùa Hương và đền Hát Môn (Trần Thị Lan).

Nhóm thứ ba gồm các nghiên cứu về lễ hội Đền Và và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Tản. Dưới góc độ văn học, Nguyễn Xuân Diễn khảo cứu văn bản hóa truyền thuyết; Lê Thị Hiền thống kê 4 nhóm đề tài truyện kể Sơn Tinh (chống lũ lụt chiếm 37%, khai sáng văn hóa 21%, chiến tranh 21%, chống hạn 16%); Ngô Đức Thịnh và Vũ Ngọc Khánh khảo cứu tư liệu sử sách thời Hồng Đức (1470) và vị trí Đệ nhất Tứ bất tử. Dưới góc độ văn hóa học, Nguyễn Xuân Diễn, Trần Quốc Vượng, Lâm Bá Nam, Đinh Gia Khánh phân tích không gian văn hóa Việt - Mường cổ Ba Vì, các lớp văn hóa đan cài và quá trình nhân thần hóa từ nhiên thần Sơn Tinh.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Hầu hết các công trình trước đây chỉ tiếp cận lễ hội Đền Và theo cấu trúc hình thức hoặc tiếp cận vốn xã hội thuần túy từ kinh tế học, xã hội học. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống về việc vận dụng lý thuyết vốn xã hội dưới góc nhìn văn hóa học để phân tích cơ chế hình thành, biểu hiện và sự tương tác lợi ích giữa Nhà nước và cộng đồng trong sinh hoạt tín ngưỡng Đền Và.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên sự kế thừa quan điểm của các học giả:

  • Luận điểm của Pierre Bourdieu về cơ chế hình thành vốn xã hội thông qua mạng lưới quan hệ xã hội bền vững được thể chế hóa, cùng quy luật chuyển hóa qua lại giữa vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn xã hội (trong đó vốn kinh tế giữ vai trò nền tảng).
  • Luận điểm của Francis Fukuyama về các chuẩn mực xã hội, giá trị đạo đức và lòng tin xã hội là thành tố cấu thành vốn xã hội.
  • Phân tích của Trần Hữu Quang về hai môi trường tạo lập vốn xã hội: xã hội cổ truyền (cấu trúc phân mảnh, khép kín, dựa trên phong tục và quan hệ trực diện) và xã hội hiện đại (dựa trên luật pháp, tính duy lý và các định chế trung gian).
  • Cách tiếp cận ba cấp độ đo lường vốn xã hội do Lê Minh Tiến tổng kết: cấp độ vi mô (hành động tập thể và động cơ hợp tác), cấp độ trung mô (tính công cụ của mạng lưới quan hệ xã hội), cấp độ vĩ mô (chuẩn mực văn hóa và sự cố kết xã hội).

Khung phân tích của luận án kết nối Chuẩn mực xã hội, Niềm tin cộng đồng và Quan hệ các bên liên quan thông qua ba dạng vốn chuyển hóa gồm Vốn văn hóa (tín ngưỡng Đức Thánh Tản, hệ tư tưởng), Vốn biểu tượng (uy tín, sự công nhận, nghi thức biểu đạt) và Vốn kinh tế (kinh tế nông nghiệp, tiêu thụ sản phẩm lễ hội), từ đó tạo ra lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội cho Nhà nước và cộng đồng.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng cách tiếp cận liên ngành văn hóa học kết hợp xã hội học (xem lễ hội là tổng hòa các quan hệ và lợi ích xã hội) và nhân học (tiếp cận từ quan điểm của người trong cuộc). Các phương pháp thu thập dữ liệu cụ thể gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Phân tích các nguồn thư tịch Hán Nôm, thần tích, ngọc phả, văn bia tại Đền Và (bia Vân Gia Đông thần cung), các văn bản quản lý nhà nước và công trình nghiên cứu đã xuất bản.
  • Phương pháp quan sát tham dự: Tiến hành điền dã trực tiếp tại lễ hội Đền Và trong các năm 2017, 2018, 2019 (cả lễ hội rằm tháng Giêng và lễ hội Đả Ngư rằm tháng Chín); theo dõi các nghi lễ rước kiệu, tế lễ, hoạt động chuẩn bị cỗ lộc Thánh của các làng; khảo sát không gian đền Ngự Dội (Vĩnh Phúc). Nghiên cứu sinh lưu trú tại nhà người dân làng Phù Sa và làng Vân Gia để thâm nhập đời sống sinh hoạt địa phương.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm: Phỏng vấn cán bộ quản lý (đại diện chính quyền thị xã Sơn Tây, phường Trung Hưng, cán bộ Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, cán bộ quản lý văn hóa các cấp) và đại diện cộng đồng (Ban quản lý di tích, người trông coi đền, các cụ trong đội tế, đội rước kiệu, người dân hành lễ, nhóm thanh niên kiệu Văn - kiệu Lãng Mũ, phụ nữ rước kiệu Quả làng Phù Sa, người phục vụ cỗ lộc làng Phù Sa và Duy Bình).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về lễ hội Đền Và

Chương này trình bày tổng quan tư liệu, xác lập khung lý thuyết vốn xã hội và phân tích nguồn gốc, các lớp văn hóa cấu thành hình tượng Đức Thánh Tản cùng di tích Đền Và:

  • Lớp văn hóa tín ngưỡng Việt - Mường: Thờ thần núi Ba Vì tự nhiên (Sơn thần) mang triết lý Âm - Dương, phản ánh cuộc đấu tranh trị thủy và quá trình chuyển cư từ miền núi Ba Vì xuống đồng bằng sông Hồng của cư dân Việt - Mường cổ.
  • Lớp văn hóa Đạo giáo: Phản ánh qua truyện tích Sơn Tinh đắc đạo, hóa sinh bất tử, mang phép thuật thần tiên; có sự tích hợp yếu tố văn hóa Việt - Mường - Dao (hình tượng thần Thái Bạch Kim Tinh tích hợp tại đền Trung).
  • Lớp văn hóa Nho giáo: Quá trình lịch sử hóa và văn bản hóa thần tích từ thời Lê Thánh Tông (Hồng Đức thứ 10 - 1470), biến nhân vật thần thoại thành vị Đệ nhất Phúc thần nước Nam đứng đầu Tứ bất tử, khuyên Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Phán để tránh nội chiến.
  • Lớp tín ngưỡng Bách nghệ tổ sư: Thờ phụng Đức Thánh Tản như ông tổ truyền dạy nông nghiệp, nghề đan lát bằng mây tre, làm liềm sắt cắt cỏ và nghề kéo vó đánh cá trên sông Tích.
  • Lớp tín ngưỡng Thành hoàng làng: Sự dung hợp giữa Nhiên thần và Nhân thần, trở thành vị thần bảo hộ chung cho các làng xã vùng Sơn Tây.
  • Khái quát di tích Đền Và (Đông Cung): Thuộc thôn Vân Gia, phường Trung Hưng, thị xã Sơn Tây. Đền tọa lạc trên đồi Và diện tích 17.500 m², khuôn viên đền rộng 2.000 m², bao quanh bằng tường đá ong cao 2,15 m, kiến trúc nội công ngoại quốc. Lịch sử xây dựng và tu sửa lớn gắn với việc dời tỉnh lỵ về thành Sơn Tây (năm 1822) và đợt trùng tu năm 1883–1884 ghi trên bia Vân Gia Đông thần cung (kinh phí 2.500 quan, 4 đồng tiền vàng, 2 lượng vàng, 52 cây gỗ lớn, 3.000 phiến đá ong do quan lại và phú hộ đóng góp).
Lớp văn hóa / Tín ngưỡng Nguồn gốc và biểu hiện thực hành Ý nghĩa biểu tượng và chức năng xã hội
Tín ngưỡng Việt - Mường Thờ Sơn thần Ba Vì, huyền thoại Sơn Tinh - Thủy Tinh Phản ánh công cuộc trị thủy, ký ức cội nguồn cư dân Việt - Mường cổ
Văn hóa Đạo giáo Tích Sơn Tinh hóa sinh bất tử, tiếp xúc văn hóa Việt - Mường - Dao Thiêng hóa nhân vật, củng cố quyền uy tâm linh và niềm tin tôn giáo
Văn hóa Nho giáo Lịch sử hóa thần tích thời Hậu Lê (1470), sắc phong thần Hợp thức hóa trật tự chính trị, đề cao lòng trung hiếu và tinh thần bảo vệ đất nước
Bách nghệ tổ sư Dạy dân rèn liềm, đan lát, kéo vó đánh cá sông Tích Biểu trưng cho sản xuất nông - ngư - thủ công nghiệp truyền thống
Thành hoàng làng Dung hợp Nhiên thần và Nhân thần tại các làng xứ Đoài Vị thần bảo hộ cộng đồng làng xã, cố kết mạng lưới liên làng

Chương 2: Vốn xã hội dưới góc độ Quản lý Nhà nước trong lễ hội Đền Và

Chương 2 luận giải các phương thức Nhà nước kiến tạo và khai thác vốn xã hội qua ba nội dung:

  • Quản lý tín ngưỡng và củng cố hệ tư tưởng chính trị: Nhà nước định hướng, chuẩn hóa các giá trị của hình tượng Đức Thánh Tản phù hợp với hệ tư tưởng chính thống, biến lễ hội thành công cụ giáo dục truyền thống yêu nước và củng cố quyền lực chính trị.
  • Chính thống hóa vai trò tổ chức và mở rộng quan hệ xã hội: Thông qua việc thành lập Ban tổ chức lễ hội cấp thị xã, chính quyền xác lập cơ chế phối hợp giữa các ban ngành (UBND, Mặt trận Tổ quốc, Công an, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên) và mở rộng quan hệ liên tỉnh giữa Hà Nội và Vĩnh Phúc trong việc tổ chức rước kiệu qua sông Hồng.
  • "Sáng tạo truyền thống" và phân công xã hội: Nhà nước thiết lập kịch bản lễ hội, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ chức, điều chỉnh các tập tục nhằm bảo đảm an ninh trật tự, vệ sinh môi trường và nếp sống văn minh.

Chương 3: Vốn xã hội dưới góc độ cộng đồng trong lễ hội Đền Và

Chương 3 phân tích cách thức cộng đồng tạo lập, tích lũy và chuyển hóa vốn xã hội trên ba phương diện:

  • Phương diện kinh tế: Tín ngưỡng gắn liền với nền kinh tế nông nghiệp xứ Đoài; việc địa danh hóa Đức Thánh Tản hỗ trợ quảng bá sản phẩm đặc sản địa phương; cộng đồng chuyển hóa mạng lưới quan hệ thành nguồn lực kinh tế thông qua đóng góp công đức, tiền bạc, ngày công và phát triển dịch vụ kinh tế lễ hội.
  • Phương diện văn hóa: Quá trình gìn giữ niềm tin thiêng liêng và thực hành nghi lễ giúp củng cố ý thức cố kết cộng đồng; liên kết mạng lưới 8 làng thuộc Sơn Tây và Vĩnh Tường qua việc luân phiên gánh vác các phần việc lễ hội (rước kiệu, làm cỗ lộc).
  • Phương diện biểu tượng: Hệ thống biểu tượng (Đức Thánh Tản, kiệu rước, nước thiêng, cá thờ Đả Ngư) tạo ra nguồn vốn biểu tượng quy định hành vi chuẩn mực, tạo lập niềm tự hào và bản sắc văn hóa của cư dân địa phương.

Chương 4: Một số vấn đề bàn luận về vốn xã hội trong lễ hội Đền Và

Chương 4 tập trung thảo luận hai vấn đề trọng tâm:

  • Tam giác quan hệ Nhà nước, cộng đồng và vốn xã hội: Luận giải cơ chế tương tác đa chiều giữa định chế chính thức (Nhà nước) và định chế phi chính thức (cộng đồng làng xã) trong việc đồng kiến tạo vốn xã hội, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn và xung đột lợi ích giữa yêu cầu quản lý hành chính với nhu cầu sinh hoạt tâm linh tự quản.
  • Những xu hướng biến đổi của vốn xã hội hiện nay:
    • Quyền lực hóa vốn xã hội: Việc tham gia Ban tổ chức hoặc nắm giữ các vị trí thực hành nghi lễ trở thành phương tiện khẳng định vị thế xã hội và uy tín cá nhân/nhóm.
    • Kinh tế hóa vốn xã hội: Sự gia tăng tính chất thương mại và dịch vụ kinh tế du lịch tâm linh xung quanh lễ hội.
    • Văn hóa hóa vốn xã hội: Xu hướng biến đổi các thực hành nghi lễ dân gian để thích ứng với quy chuẩn di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và bối cảnh xã hội hiện đại.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án chỉ ra các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận: Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống về lễ hội Đền Và từ khung lý thuyết vốn xã hội thuộc chuyên ngành Văn hóa học. Luận án bổ sung hướng tiếp cận phân tích mối quan hệ tương tác và sự chuyển hóa qua lại giữa các dạng vốn: vốn xã hội, vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn biểu tượng trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian.
  • Về mặt thực tiễn: Làm rõ cơ chế hình thành, biểu hiện và lợi ích từ vốn xã hội của cả hai chủ thể Nhà nước và cộng đồng trong lễ hội Đền Và; cung cấp nguồn tư liệu điền dã dân tộc học cập nhật (giai đoạn 2017–2019) về diễn trình lễ hội cấp vùng; gợi mở giải pháp chính sách cho các cơ quan quản lý văn hóa nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa quản lý nhà nước và năng lực tự quản di sản của cộng đồng địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Do nguồn tư liệu lịch sử lưu trữ còn hạn chế, luận án chủ yếu khảo sát quá trình tạo lập và biến đổi vốn xã hội trong khoảng 20 năm trở lại đây (từ năm 1999 khi lễ hội Đền Và được phục dựng ở quy mô cấp vùng). Đồng thời, nghiên cứu giới hạn khảo sát tại trường hợp Đền Và mà chưa mở rộng so sánh đối chiếu với các lễ hội thờ Tản Viên Sơn Thánh khác trong vùng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh liên vùng về vốn xã hội tại các điểm di tích thuộc hệ thống Tứ cung xứ Đoài; nghiên cứu sâu hơn về tác động của quá trình đô thị hóa và truyền thông số đối với sự biến đổi mạng lưới vốn xã hội trong lễ hội truyền thống.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu và giảng dạy: Luận án là tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên ngành Văn hóa học, Nhân học, Xã hội học và Quản lý văn hóa trong việc vận dụng lý thuyết vốn xã hội và phương pháp nghiên cứu liên ngành vào phân tích di sản văn hóa phi vật thể.
  • Đối với công tác quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho các cơ quan quản lý văn hóa tại thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội và các địa phương có lễ hội lớn trong việc xây dựng quy chế quản lý di tích, phân bổ nguồn lực công đức và phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng cư dân bản địa.

Câu hỏi thường gặp

  1. Hình tượng Đức Thánh Tản tại Đền Và được cấu thành từ những lớp văn hóa - tín ngưỡng nào? Hình tượng Đức Thánh Tản là sự dung hợp của 5 lớp văn hóa và tín ngưỡng: lớp văn hóa tín ngưỡng Việt - Mường (thần núi tự nhiên, trị thủy), lớp văn hóa Đạo giáo (thần tiên bất tử, phép thuật), lớp văn hóa Nho giáo (lịch sử hóa thần tích, vị thần hộ quốc trung hiếu), lớp tín ngưỡng Bách nghệ tổ sư (ông tổ dạy nghề nông, ngư, đan lát) và lớp tín ngưỡng Thành hoàng làng (thần bảo hộ làng xã).

  2. Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính cụ thể nào để thu thập dữ liệu? Tác giả sử dụng phương pháp điền dã dân tộc học gồm quan sát tham dự trực tiếp tại Đền Và và đền Ngự Dội trong các mùa lễ hội từ 2017 đến 2019 (lễ hội tháng Giêng và tháng Chín); phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với hai nhóm đối tượng chính: cán bộ quản lý các cấp (thị xã, phường, đoàn thể) và các nhóm cộng đồng cư dân (Ban quản lý di tích, đội tế, đội rước kiệu làng Vân Gia, Phù Sa, Duy Bình, người phục vụ cỗ lộc và người đi lễ).

  3. Vốn xã hội dưới góc độ quản lý Nhà nước trong lễ hội Đền Và mang lại những lợi ích gì? Nhà nước củng cố hệ tư tưởng chính trị, chính thống hóa vai trò quản lý của bộ máy chính quyền, mở rộng mạng lưới liên kết xã hội liên địa phương (Hà Nội - Vĩnh Phúc) và thực hiện phân công xã hội thông qua việc chuẩn hóa kịch bản, quy chế tổ chức lễ hội.

  4. Vốn xã hội dưới góc độ cộng đồng được biểu hiện trên những phương diện nào? Được biểu hiện trên ba phương diện: kinh tế (quảng bá nông sản đặc trưng, tạo nguồn thu dịch vụ lễ hội, đóng góp ngày công và công đức), văn hóa (củng cố niềm tin tâm linh, cố kết mạng lưới liên làng qua nghi lễ rước kiệu chung) và biểu tượng (quy định hành vi chuẩn mực, tạo dựng niềm tự hào bản sắc địa phương qua hình tượng Đức Thánh Tản).

  5. Những xu hướng biến đổi chính của vốn xã hội trong lễ hội Đền Và hiện nay là gì? Luận án chỉ ra ba xu hướng vận động chính gồm: quyền lực hóa vốn xã hội (xác lập vị thế và uy tín xã hội), kinh tế hóa vốn xã hội (gia tăng tính chất dịch vụ thương mại du lịch) và văn hóa hóa vốn xã hội (điều chỉnh nghi thức truyền thống thích ứng với quy chuẩn quản lý di sản hiện đại).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thùy Linh đã làm rõ cơ sở hình thành, phương thức biểu hiện và sự chuyển hóa lợi ích của vốn xã hội trong lễ hội Đền Và dưới góc nhìn văn hóa học liên ngành. Công trình phân tích chi tiết sự tương tác giữa hai chủ thể Nhà nước và cộng đồng trong quá trình kiến tạo, quản lý và sử dụng các nguồn vốn kinh tế, văn hóa và biểu tượng. Đây là tài liệu khoa học đóng góp dữ liệu thực chứng và khung phân tích hữu ích cho công tác nghiên cứu học thuật cũng như thực tiễn quản lý lễ hội cổ truyền tại Việt Nam.