mở đầu, kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phu lục, Bồ cục chính của luận văn gôm 3 chương. MOT SO VAN DE LY LUAN VA THUC TIEN VE LE HOI TAY THIEN, DU LICH CONG DONG 1. Một số van dé lý luận 1. Lý luận chung về lễ hội Lễ hội là một phần không thê thiếu trong văn hóa Việt Nam.
Bởi lễ hội phản ánh rõ nét cuộc sống sinh hoạt, lao động sản xuất, truyền thống văn hóa, lịch sử của quần chúng nhân dân, ví như lễ hội là dịp tưởng nhớ các sự kiện lịch sử của người dân hằng ngày. Đồng thời, lễ hội cũng là nơi thé hiện lòng thành kính, tưởng nhớ công ơn của các thế hệ quần chúng nhân dân với những người có công giúp dân làng, với quê hương, với đất nước chống giặc ngoại xâm hay có công trong việc dạy dân trồng trọt, chăn nuôi. Vì vậy, lễ hội giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần, xã hội góp phần phản ánh nhiều mặt của đời sống như: kinh tế- xã hội, văn hóa, tâm lý và tôn giáo tín ngưỡng tộc người. Theo thống kê của các nhà nghiêm cứu văn hóa dân gian, Việt Nam có hàng trăm lễ hội truyền thống lớn, nhỏ trải khắp đất nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.
Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ngày hội diễn ra sôi động bằng những sự tích, công trang, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tô tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương, đất nước của mình. Đặc biệt, lễ hội nước ta gan bó với làng, xã, địa danh, vùng đất như một thành tố không thể thiếu văng trong đời sống cộng đồng nhân dân. Ở đó, người dân tham gia lễ hội không phân biệt tần lớp xã hội, địa vị, tôn giáo cùng hòa chung vào không khí náo nhiệt của lễ hội. Khái niệm lễ hội được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu.
Khái niệm LỄ hội có thé được dựa trên sự phân tích hai khái niệm: + “LỄ”: “Lễ” theo tiếng việt là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó. Trong thực tế “lễ” có nhiều ý nghĩa và một lịch sử hình thành khá phức tap. Chữ “lễ” được hình thành và biết tới từ thời kỳ Chu (thế kỷ 12 trước công nguyên), lúc đầu chữ “lễ” được hiểu là lễ vật của các gia đình quý tộc, nhà Chu cúng tế thần tô tông gọi là tế lễ. Dần dần, chữ “lễ” được mở rộng nghĩa là hình thức, phép tắc đề phân biệt trên, dưới, sang, hèn, thứ bậc lớn, nhỏ, thân, sơ trong xã hội khi đã phân hoá thành dang cấp.
Cuối cùng khi xã hội đã phát triển thì ý nghĩa của “lễ” càng được mở rộng như lễ Thành hoàng, lễ Gia tiên, lễ cầu an, lễ cầu mưa. lễ hội không đơn lẻ mà có sự gắn kết. Do ngày càng mở rộng phạm vi nên đến đây “lễ” đã mang ý nghĩa bao quát mọi nghi thức ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: "Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện” "[Xem chú thích Phan Nhat Dũng 31, tr674].
+ “Hội”: “Hội là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sông, từ sự ton tại và phát triển của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng, mà từ bao đời nay quy tụ niềm ước mơ chung vào bốn chữ "nhân khang, vật thịnh”. Nếu như “Lễ” là những nghi thức mang tính trang nghiêm, thì “Hội” là dé vui chơi, chơi thỏa thích, thoải mái. Nó không bị ràng buộc bởi nghỉ lễ, đăng cấp, tuổi tác. Với người Việt trong các làng xã, sau những tháng ngày làm ăn lam lũ, dân làng chờ đón ngày hội như chờ đón một niêm tin vui cộng đồng.
Họ đến với hội trong tinh thần cộng cảm, hồ hởi, sảng khoái và hoàn toàn tự nguyện. Vì thế nên các lễ hội của người Việt thường diễn ra vào các dịp nông nhàn, khi người nông dân rảnh rỗi hơn. + Lễ hội: Lễ hội là hoạt động của một tập thé người, liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo. Trong cuốn Van hóa Việt Nam hỏi và đáp các tác giả đưa ra quan điểm: "Lễ hội (hay hội lễ) là một sinh hoạt văn hóa dân gian nguyên hợp mang tính cộng đồng cao của nông dân hay thị dân, diễn ra trong những chu kỳ không gian, thời gian nhất định để làm những nghi thức về nhân vật được sùng bái, dé tỏ rõ những ước vọng, dé vui chơi trong tinh thần cộng mệnh và cộng cam" [Xem TLTK PND 47, tr.197] Mối quan hệ giữa “LỄ” và “Hội”: Lễ - Hội tưởng chừng như hai mặt đối lập nhau, quan hệ giữa lễ và hội có lúc tách rời nhau đến dễ thấy: Một bên là thiêng, một bên là tục; mỗi bên tưởng như có vai trò riêng của mình.
Nhưng hai mặt đó lại kết hợp với nhau mà không hề mâu thuẫn, tạo nên một sự kiện thống nhất là Lễ hội. Trong quá trình vận động, hai yếu tố lễ và hội đã thâm nhập vào nhau một cách chặt chẽ, thiết tưởng rằng gọi là Lễ cũng đúng mà gọi là Hội cũng không sai. Có thể lay đám rước làm vi dụ, ở đây phần nghi lễ rất nhiều mà phần tham gia biển diễn của đám đông cũng không phải là ít. Quan hệ giữa Lễ và Hội rất chặt chẽ, có lúc không thé tách bóc, ngay trong Lễ đã có Hội và ngay trong Hội đã có Lễ.
Lễ và Hội là hai yếu tố chính tạo lên hội làng. Sự đậm, nhạt giữa chúng là tùy thuộc vào đặc điểm từng nơi và tính chất từng lễ hội. Trong lễ hội, tính cộng đồng được thé hiện rõ nét nhất: lễ hội không được tạo nên từ cá nhân riêng lẻ, mà nhắc đến lễ hội là nhắc đến cộng đồng: “Từ xa xưa, con người sinh ra đã có tính cộng đồng. Tính cộng đồng ngày càng cao phù hợp với sự phát triển của các hình thái.
Lý luận chung về du lịch cộng đồng + Khái niệm du lịch cộng đồng: Khái niệm về du lịch: Là một hoạt động nôi bật của con người trong xã hội hiện đại, du lịch mang tính chất liên vùng, liên quốc gia với rất nhiều hoạt động và mục đích khác nhau đo vậy có nhiều quan điểm tiếp cận khác nhau. Có thê nói rằng, mỗi cách tiếp cận lại đưa ra một khái niệm khác nhau. Du lịch theo nghĩa hành động được định nghĩa là “một hoạt động với mục đích giải trí, tiêu khiển và việc tổ chức các dịch vụ xung quanh hoạt động này. Người đi du lịch là người đi ra khỏi nơi mình cư trú một quãng đường tối thiểu là 80km trong khoảng thời gian 24 giờ với mục đích giải trí, tiêu khiển” đó là định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO).
- Theo Từ điển tiếng Việt: “Du lịch: đi xa cho biết xứ lạ khác với nơi mình ở” [1, tr. 264] - Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Du lich: đi đến những nơi xa lạ dé hiểu thêm về đất nước, con người, cuộc sống [2. 551] Theo trang tailieudulich.nét hiệu đính ngày 3/3/2016, cho biết: Vào năm 1941, hai ông W. Hunziker và Kraff (Thụy Sỹ) đưa ra định nghĩa “Du lịch là tổng hợp những và những hiện tượng và các mối quan hệ nảy sinh từ việc di chuyển và dừng lại của con người tại nơi không phải là nơi cư trú thường xuyên của họ; hơn nữa, họ không ở lại đó vĩnh viễn và không có bất kì hoạt động nao để có thu nhập nơi họ tới.
- Theo định nghĩa của tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO): “Du lịch được hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình va lưu trú của cá nhân hay tập thé bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình. Nơi họ tới không phải nơi làm việc của họ” Tại Việt Nam, du lịch là một lĩnh vực khá mới mẻ nhưng các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đưa ra những khái niệm xét trên nhiêu góc độ 10 nghiên cứu khác nhau. Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, du lịch được hiéu trên hai khía cạnh: 1. Thứ nhất: “Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoai nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắm cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật.
Theo nghĩa này du lịch được xem xét ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch. Thứ hai: “Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu qua cao về nhiều mặt: nâng cao hiệu quả về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu quê hương đất nước, đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thé coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ. Theo định nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế”, Luật Du lịch Việt Nam số 09/2017/QH14 được Quốc hội thông qua 19/06/2017 đã nêu rõ khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động liên quan tới chuyến đi của con người ngoài nơi cư chú thường xuyên trong thời gian không gian quá một năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu thăm quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác. Khái niệm về cộng đồng Cộng đồng là một khái niệm khá phổ biến trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn.
Trong bài viết “Nghiên cứu về cộng đồng: khái niệm, cách tiếp cận và phân loại”, PGS. Phạm Hồng Tung đã chỉ ra nguồn gốc của khái niệm này: “Thuật ngữ “cộng đồng” vốn bắt nguồn từ gốc tiếng Latin là “cummunitas”, với nghĩa là toàn bộ tín đồ của một tôn giáo hay toàn bộ những người đi theo một thủ lĩnh nào đó.