Tổng quan luận án
Công trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng từ năm 1996 đến năm 2015 do nghiên cứu sinh Hoàng Văn Vân thực hiện là luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Luận án xuất phát từ vị trí của di tích lịch sử cách mạng (DTLSCM) với tư cách là một bộ phận cấu thành hệ thống di sản văn hóa, minh chứng cho lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời là nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội và là phương tiện đấu tranh trên mặt trận tư tưởng - lý luận chống lại các luận điệu xuyên tạc lịch sử. Trước năm 1996, tỉnh Nghệ An có 28 DTLSCM cấp quốc gia. Tuy nhiên, nhiều di tích bị xuống cấp nghiêm trọng do thiên tai, biến cố lịch sử và sự tác động của con người; công tác tu bổ có thời điểm làm sai lệch di tích gốc; tình trạng lấn chiếm, mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo tồn nguyên trạng diễn ra phức tạp. Khoảng trống nghiên cứu được xác định là: chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống về quá trình bảo tồn và phát huy giá trị DTLSCM dưới sự lãnh đạo của một đảng bộ địa phương theo chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM từ năm 1996 đến năm 2015; đúc rút các kinh nghiệm lịch sử phục vụ việc tham khảo, vận dụng vào thực tiễn hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trình bày, luận giải những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM giai đoạn 1996 - 2015.
- Hệ thống hóa và phân tích làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM từ năm 1996 đến năm 2015.
- Nhận xét, đúc rút những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DTLSCM giai đoạn 1996 - 2015.
Đối tượng nghiên cứu:
Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM.
Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An đối với các DTLSCM cấp quốc gia; không nghiên cứu các di tích quốc gia đặc biệt. Khảo sát tập trung tại các di tích quốc gia trọng điểm như: Khu lưu niệm Phan Bội Châu, hệ thống di tích Xô viết Nghệ Tĩnh, Khu lưu niệm Lê Hồng Phong, Mộ và nhà thờ Hồ Tùng Mậu, Khu lưu niệm Phùng Chí Kiên, Nhà lưu niệm Phan Đăng Lưu, di tích Truông Bồn, di tích Tràng Kè, đình Võ Liệt.
- Không gian: Địa bàn tỉnh Nghệ An.
- Thời gian: Giai đoạn 1996 - 2015 (có mở rộng khảo sát giai đoạn trước năm 1996 và sau năm 2015). Mốc mở đầu năm 1996 gắn với Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIV. Phân kỳ nghiên cứu gồm hai giai đoạn: 1996 - 2005 (khắc phục xuống cấp, chuẩn bị cho Năm Du lịch Nghệ An 2005) và 2006 - 2015 (thực hiện Nghị quyết Đại hội XVI và XVII, kết thúc trước thềm Đại hội XVIII).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đã công bố theo ba nhóm chính:
Nhóm nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa (DTLSVH):
- Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh Đức (1993), Bảo tồn di tích lịch sử - văn hoá, phân tích vị trí di sản và giải pháp bảo tồn cho các di tích tiêu biểu như Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Phủ Chủ tịch.
- Đặng Việt Thủy chủ biên (1996), Di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng ở Việt Nam, giới thiệu khái niệm, phân loại di tích, trong đó có cụm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh và Khu lưu niệm Phan Bội Châu tại Nghệ An.
- Hoàng Thanh Hải (1999), Sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở, xác định phương pháp khai thác di tích vào giáo dục phổ thông.
- Từ Mạnh Lương (2003), nghiên cứu về chính sách kinh tế - xã hội trong bảo tồn, tôn tạo và khai thác di tích.
- Đinh Trung Kiên (2003) và Nguyễn Văn Đức (2013), nghiên cứu việc khai thác tài nguyên di tích phục vụ phát triển du lịch bền vững.
- Khoa Thị Khánh Chi (2010), Quốc Hiệp và Thu Hằng (2013), phân tích thực trạng vi phạm trong hoạt động tu bổ, quản lý di tích và đề xuất giải pháp xử lý.
- Nguyễn Thịnh (2012, 2014), Nguyễn Đình Thanh và Lê Thị Minh Lý (2008), Nguyễn Thu Trang (2013), nghiên cứu lý luận quản lý di sản và phương pháp "bảo tàng hóa di tích".
- Ngô Thị Ngà (2013) và Trần Bá Đồng (2015), nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên (2001 - 2010) và Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh (1998 - 2013) đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị DTLSVH.
- Nguyễn Quốc Hùng (2015), nghiên cứu vai trò của cộng đồng trong bảo vệ di sản.
Nhóm nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị DTLSCM trên phạm vi cả nước:
- Trần Tiến Dũng chủ biên (1976), Di tích cách mạng Việt Nam (1930 - 1945) và Phạm Hồng Châu (2013), Di tích lịch sử cách mạng Việt Nam, giới thiệu hệ thống di tích Xô viết Nghệ Tĩnh (Tràng Kè, đình Võ Liệt, đền Thuận Đức).
- Đỗ Hồng Thái (1996), nghiên cứu sử dụng di tích Tân Trào trong giảng dạy.
- Nguyễn Thanh Minh (2004), khảo sát 47 điểm di tích về Hồ Chí Minh tại An toàn khu Định Hóa (Thái Nguyên) và đề xuất quan điểm quy hoạch liên hoàn.
- Đỗ Hữu Hà chủ biên (2006) và Cao Huy Hùng chủ biên (2014), khảo sát 53 di tích cách mạng tại Thừa Thiên Huế (Khu di tích Chín Hầm, Chiến khu Dương Hòa, Địa đạo Khu ủy Trị Thiên Huế).
- Trần Đức Nguyên (2010, 2014), nghiên cứu đặc thù DTLSCM kháng chiến tại Hà Nội và Bắc Ninh.
- Nguyễn Quốc Hùng (2012), Di tích cách mạng - bằng chứng của sự đổi thay, phân tích khái niệm và đặc thù không gian, thời gian của DTLSCM.
- Sông Lam, Bình Minh, Minh Khánh (2012), Địa chỉ đỏ của tuổi trẻ Việt Nam, giới thiệu các di tích Ngã ba Đồng Lộc, Côn Đảo, Thành cổ Quảng Trị, Truông Bồn.
- Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Nông (2013), nghiên cứu di tích Nhà ngục Đắk Mil (1942 - 1943).
- Lưu Đức Thọ, Nguyễn Thị Triều (2013), nghiên cứu di tích Quảng Trị; Phạm Xuân Thăng (2014), nghiên cứu 116 di tích cách mạng tại Hải Dương; Nguyễn Doãn Tuân (2013), nghiên cứu di tích kháng chiến Hà Nội.
Nhóm nghiên cứu về di tích lịch sử cách mạng tại Nghệ An:
- Đoàn Minh Duệ (2004), nghiên cứu giải pháp giáo dục truyền thống cho thanh thiếu niên qua di tích.
- Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An (2005), Nghệ An di tích danh thắng, thống kê các địa danh tiêu biểu (Khu di tích Phan Bội Châu, Lê Hồng Phong, Phan Đăng Lưu, Phùng Chí Kiên, Truông Bồn, Hang Hỏa Tiễn, Cột mốc số 0 đường Hồ Chí Minh).
- Nguyễn Đức Cường, Phạm Hương Lan, Anh Minh (2008) và Ban tổ chức kỷ niệm 40 năm chiến thắng Truông Bồn (2008), viết về di tích Truông Bồn.
- Nguyễn Xuân Thủy (2010), Di tích Bác Hồ ở Kim Liên, trình bày về 13 điểm di tích gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Trọng Đệ (2011), nghiên cứu danh nhân xứ Nghệ.
- Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Nghệ An (2012), Lịch sử Nghệ An (tập 2), trình bày tổng quát sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trên lĩnh vực văn hóa và quản lý di tích từ năm 1991 đến 2012.
- Phạm Xuân Thành (2015), nghiên cứu 62 ngôi đình làng tại Nghệ An gắn với cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931 (đình Võ Liệt, đình Hậu, đình Tám Mái, đình Mõ).
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Các công trình trước đây tiếp cận di tích chủ yếu từ góc độ lịch sử, văn hóa học, bảo tàng học, du lịch hoặc nghiên cứu diện rộng về DTLSVH nói chung. Chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống dưới góc độ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam về sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM cấp quốc gia trong giai đoạn 1996 - 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Luận án dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, chủ trương, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nền văn hóa và bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, DTLSVH và DTLSCM.
- Cơ sở thực tiễn và nguồn tư liệu: Thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An từ năm 1996 đến 2015. Nguồn tư liệu văn kiện gồm các văn bản của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Nghệ An lưu trữ tại Phòng Lưu trữ Tỉnh ủy Nghệ An và Kho Văn thư - Lưu trữ UBND tỉnh Nghệ An; các báo cáo định kỳ, tổng kết của Sở Văn hóa Thông tin (nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nghệ An), Ban Quản lý di tích và danh thắng Nghệ An, Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic làm chủ đạo. Đồng thời, kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành: phương pháp phân kỳ lịch sử, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp khảo sát thực tiễn tại các điểm di tích và phương pháp chuyên gia.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài theo ba nhóm công trình: nghiên cứu về DTLSVH, nghiên cứu về DTLSCM trên toàn quốc và nghiên cứu về DTLSCM tại Nghệ An. Tác giả chỉ rõ các kết quả đã đạt được, đồng thời xác định bốn nội dung khoa học cần tập trung giải quyết: (1) Làm rõ các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội, văn hóa và văn bản chỉ đạo tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh; (2) Phân tích hệ thống chủ trương và biện pháp chỉ đạo thực tế của Đảng bộ tỉnh giai đoạn 1996 - 2015; (3) Nhận xét ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân; (4) Rút ra các bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn.
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử cách mạng (1996 - 2005)
Chương 2 phân tích bối cảnh và các yếu tố tác động:
- Điều kiện tự nhiên: Tỉnh có diện tích tự nhiên 16.490 km², nằm ở trung tâm Bắc Trung Bộ, địa hình nghiêng Tây Bắc - Đông Nam, đồi núi chiếm 83% diện tích lãnh thổ, bị chia cắt mạnh khiến giao thông đến các di tích vùng trung du, miền núi (Tân Kỳ, Con Cuông, Anh Sơn) gặp khó khăn. Khí hậu nhiệt đới gió mùa khắc nghiệt: mùa hạ chịu gió phơn Tây Nam với nhiệt độ cao nhất đạt 42,7°C gây rạn nứt vật liệu; mùa mưa bão (2 - 3 cơn bão/năm, lượng mưa 1.200 - 2.000 mm) gây ngập úng, ẩm mốc, xói mòn công trình.
- Điều kiện kinh tế - xã hội: Giai đoạn 1991 - 1995, GDP tỉnh tăng bình quân 8,9%/năm (nông nghiệp tăng 5,9%, công nghiệp tăng 10,25%, dịch vụ tăng 14%), GDP bình quân đầu người tăng từ 153 USD (1990) lên 207 USD (1995). Tuy nhiên, kinh tế vẫn mang nặng tính nông nghiệp tự túc tự cấp, nguồn thu ngân sách hạn hẹp nên mức đầu tư cho văn hóa còn thấp.
- Thực trạng di tích trước năm 1996: Toàn tỉnh có 28 DTLSCM được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng cấp quốc gia.
Bảng tổng hợp: Phân loại 28 DTLSCM cấp quốc gia tại Nghệ An trước năm 1996
| Phân loại di tích |
Số lượng |
Danh mục di tích cụ thể |
| Địa điểm lịch sử cách mạng |
10 |
Ngã ba Bến Thủy, Tràng Kè, Mộ liệt sỹ 12/9 (Hưng Nguyên), Mộ liệt sỹ hy sinh 07/11/1930 (Diễn Châu), Cột mốc số 0 đường Hồ Chí Minh (Tân Kỳ), Truông Bồn (Đô Lương), Nhà cụ Vi Văn Khang (Con Cuông), Hiệu Yên Xuân (Anh Sơn), Cụm di tích Làng Đỏ (Hưng Dũng), Nhà ông Hoàng Viện (Hưng Nguyên) |
| Đình làng |
07 |
Đình Võ Liệt (Thanh Chương), Đình Long Ân (Diễn Châu), Đình Tám Mái, Đình làng Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu), Đình Liên Trì (Yên Thành), Đình Phú Nhuận, Đình Lương Sơn (Đô Lương) |
| Nhà thờ dòng họ |
06 |
Nhà thờ họ Nguyễn Duy (Thanh Chương), Nhà thờ họ Uông, Nhà thờ họ Hoàng (TP. Vinh), Nhà thờ họ Hoàng Văn (Cửa Lò), Nhà thờ họ Phạm (Hưng Nguyên), Nhà thờ họ Hoàng Trần (Đô Lương), Nhà thờ họ Phan Mạc (Yên Thành) |
| Di tích lưu niệm danh nhân |
03 |
Khu lưu niệm Phan Bội Châu (Nam Đàn), Di tích lưu niệm Lê Hồng Phong (Hưng Nguyên), Nhà lưu niệm Phan Đăng Lưu (Yên Thành) |
| Đền |
02 |
Đền Bạch Mã (Thanh Chương), Đền Trìa (TP. Vinh) |
| Tổng số |
28 |
Toàn tỉnh Nghệ An |
- Hạn chế giai đoạn trước 1996: Có 3/7 di tích đình làng (đình Tám Mái, đình Võ Liệt, đình Long Ân) xuống cấp nặng; một số nơi bị lấn chiếm đất đai làm bãi phơi nông sản, họp chợ (đình Võ Liệt, đình Chợ Xâm); công tác quản lý chồng chéo giữa Sở Văn hóa Thông tin và UBND cấp huyện đối với 06 di tích (di tích Lê Hồng Phong, Ngã ba Bến Thủy, đình Võ Liệt, Nghĩa trang liệt sỹ 12/9, cụm di tích Làng Đỏ, đền Bạch Mã).
- Chủ trương và chỉ đạo (1996 - 2005): Thể chế hóa các văn bản của Trung ương (Nghị quyết 05-NQ/TW năm 1987, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998, Pháp lệnh 1984, Luật Di sản văn hóa 2001, Quyết định 62/TTg năm 1994 về chương trình chống xuống cấp di tích với nguồn vốn nhà nước trên 100 tỷ đồng). Đảng bộ tỉnh ban hành nghị quyết Đại hội XIV (1996) và XV (2000), từng bước phân cấp quản lý di tích, đầu tư vốn chống xuống cấp có trọng tâm phục vụ Năm Du lịch Nghệ An 2005.
Chương 3: Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử cách mạng (2006 - 2015)
Chương 3 trình bày các yếu tố mới tác động: quá trình đô thị hóa gia tăng áp lực lên không gian di tích; yêu cầu đấu tranh tư tưởng chống xuyên tạc lịch sử; tác động của biến đổi khí hậu.
- Chủ trương: Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (2006) và lần thứ XVII (2010) xác định chuyển dịch phương thức quản lý di tích từ bảo quản tình thế sang lập dự án quy hoạch tổng thể; gắn bảo tồn di sản với chiến lược phát triển du lịch "về nguồn" và phát triển kinh tế - xã hội.
- Chỉ đạo thực hiện: Triển khai lập dự án bảo tồn, tôn tạo các di tích trọng điểm (Khu lưu niệm Phan Bội Châu, Khu lưu niệm Lê Hồng Phong, di tích Truông Bồn, di tích Xô viết Nghệ Tĩnh); thực hiện xã hội hóa huy động nguồn lực tài chính từ các tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân; phân định trách nhiệm quản lý nhà nước của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch với UBND cấp huyện/xã; đưa nội dung học tập, tham quan di tích vào chương trình giáo dục truyền thống cho học sinh, thanh thiếu niên.
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
Chương 4 tổng kết quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh từ năm 1996 đến 2015:
- Nhận xét ưu điểm: Hệ thống DTLSCM cấp quốc gia được khoanh vùng bảo vệ, chống xuống cấp; các di tích trọng điểm được phục hồi thông qua các dự án đầu tư đồng bộ; công tác giáo dục truyền thống cách mạng và kết nối di tích vào các tuyến du lịch đạt kết quả cụ thể; nhận thức của hệ thống chính trị và nhân dân được nâng lên.
- Nhận xét hạn chế và nguyên nhân: Nguồn lực đầu tư chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế; tình trạng xâm hại, tranh chấp đất đai vùng đệm di tích chưa chấm dứt triệt để; một số di tích vắng khách tham quan do trưng bày đơn điệu; năng lực chuyên môn của cán bộ quản lý cấp cơ sở còn bất cập. Nguyên nhân do điều kiện ngân sách địa phương hạn hẹp, khí hậu khắc nghiệt và sự phối hợp giữa các ngành, các cấp có thời điểm chưa chặt chẽ.
- Kinh nghiệm lịch sử: Đúc rút các bài học về việc nâng cao nhận thức của cấp ủy; bảo đảm nguyên tắc giữ gìn yếu tố gốc của di tích; kết hợp hài hòa giữa trách nhiệm chủ đạo của Nhà nước với huy động nguồn lực xã hội hóa; gắn công tác bảo tồn với phát triển kinh tế du lịch và quy hoạch không gian đô thị bền vững.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt khoa học và lý luận: Luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài tỉnh liên quan đến di tích lịch sử và DTLSCM; làm sáng tỏ các khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn về sự lãnh đạo của tổ chức Đảng cấp tỉnh đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản cách mạng.
- Về mặt tư liệu và thực tiễn: Khảo sát, phục dựng bức tranh toàn diện về hệ thống 28 DTLSCM cấp quốc gia tại Nghệ An trước năm 1996 và quá trình biến đổi qua hai giai đoạn 1996 - 2005 và 2006 - 2015; hệ thống hóa các chỉ thị, nghị quyết, đề án và quyết định phân cấp quản lý của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nghệ An.
- Đánh giá và tổng kết bài học: Đưa ra hệ thống nhận xét khách quan về ưu điểm, khuyết điểm, chỉ rõ nguyên nhân chủ quan và khách quan; đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị vận dụng cho công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An cũng như các đảng bộ địa phương khác trong công tác quản lý di sản văn hóa hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Luận án tập trung khảo sát hệ thống DTLSCM cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Nghệ An; không đi sâu nghiên cứu hệ thống di tích cấp tỉnh và các di tích quốc gia đặc biệt (như Khu di tích Kim Liên từ sau khi được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt vào tháng 5/2012). Phạm vi thời gian nghiên cứu kết thúc ở mốc năm 2015 theo giới hạn nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu toàn diện hệ thống DTLSCM cấp tỉnh; nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An đối với công tác bảo tồn di tích giai đoạn từ năm 2015 đến nay gắn với chuyển đổi số, bảo tàng số và phát triển công nghiệp văn hóa.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Công trình là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên, giảng viên chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Lịch sử Việt Nam, Quản lý văn hóa, Bảo tàng học và Du lịch. Đồng thời, luận án cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn cho cán bộ lãnh đạo, ban tuyên giáo các cấp, ngành văn hóa và ban quản lý di tích tại địa phương.
- Các nội dung đáng tham khảo:
- Phần tổng quan tài liệu khoa học và khung lý thuyết ở Chương 1.
- Số liệu thống kê, phân loại và hiện trạng quản lý 28 DTLSCM cấp quốc gia tại Nghệ An ở Chương 2.
- Các bài học kinh nghiệm về xử lý mối quan hệ giữa bảo tồn nguyên gốc di tích với phát triển kinh tế du lịch và xã hội hóa di sản ở Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao luận án lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu từ năm 1996 đến năm 2015?
Năm 1996 đánh dấu thời điểm Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIV đề ra nghị quyết thể hiện sự quan tâm rõ nét đến công tác bảo tồn DTLSVH và DTLSCM sau giai đoạn củng cố tổ chức khi tái lập tỉnh (1991 - 1995). Mốc kết thúc năm 2015 là thời điểm tổng kết Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, đánh dấu giai đoạn các di tích trọng điểm đã được đầu tư bảo tồn theo hình thức dự án và phát huy hiệu quả trong giáo dục truyền thống, phát triển du lịch.
2. Tính đến trước năm 1996, tỉnh Nghệ An có bao nhiêu DTLSCM cấp quốc gia và phân bổ theo các loại hình nào?
Toàn tỉnh có 28 DTLSCM được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng cấp quốc gia, gồm 5 loại hình: 10 di tích địa điểm lịch sử cách mạng, 07 di tích đình làng, 06 di tích nhà thờ dòng họ, 03 di tích lưu niệm danh nhân và 02 di tích đền.
3. Vì sao Khu di tích Kim Liên không thuộc phạm vi nghiên cứu chính của luận án?
Luận án xác định phạm vi nghiên cứu là các DTLSCM cấp quốc gia. Khu di tích Kim Liên là di tích gắn với Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt từ tháng 5 năm 2012, do đó nằm ngoài phạm vi khảo sát trọng tâm của đề tài.
4. Những yếu tố thời tiết, khí hậu cụ thể nào ở Nghệ An tác động tiêu cực đến công tác bảo tồn di tích?
Nghệ An chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa phân hóa hai mùa rõ rệt. Mùa hạ có gió phơn Tây Nam khô nóng với nhiệt độ cao nhất lên tới 42,7°C gây chênh lệch nhiệt độ lớn và rạn nứt vật liệu; mùa mưa bão trung bình hứng chịu 2 - 3 cơn bão/năm với lượng mưa dao động từ 1.200 đến 2.000 mm gây ngập úng, xói mòn, ẩm mốc và phát sinh côn trùng gây hại cho các cấu kiện di tích.
5. Chương trình mục tiêu quốc gia nào của Nhà nước giai đoạn 1994 - 2000 đã hỗ trợ kinh phí bảo tồn di tích?
Quyết định số 62/TTg ngày 03/02/1994 của Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Văn hóa Thông tin quản lý chương trình mục tiêu cấp Nhà nước về "Chống xuống cấp và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá ở Việt Nam" giai đoạn 1994 - 2000 với tổng ngân sách nhà nước đầu tư trên 100 tỷ đồng (chưa kể vốn đối ứng địa phương và nguồn huy động khác).
Kết luận
Luận án Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng từ năm 1996 đến năm 2015 của tác giả Hoàng Văn Vân là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Công trình đã làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An ban hành chủ trương, tổ chức chỉ đạo phân cấp quản lý, lập dự án tu bổ và khai thác giá trị 28 DTLSCM cấp quốc gia trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và biến đổi môi trường. Kết quả nghiên cứu làm nổi bật các thành tựu, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị khoa học và thực tiễn đối với công tác quản lý di sản văn hóa tại địa phương.