Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa Các tác giả Nguyễn Đăng Duy, Trịnh Minh Đức (1993), Bảo tồn di tích lịch sử - văn hoá [26]. Công trình này đi sâu trình bày về vị trí, tầm quan trọng của các DTLSVH.
Các di tích được coi là tài sản quý của quốc gia, là bộ phận di sản vật thể có vai trò quan trọng trong bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng nền văn hóa mới. Nêu lên thực trạng bảo tồn và khai thác các DTLSVH; trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị một số DTLSVH tiêu biểu như: Văn miếu Quốc Tử Giám, Phủ Chủ tịch. theo hướng bảo tồn để phát triển. Tác giả Đặng Việt Thủy (Chủ biên), (1996), Di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng ở Việt Nam [124].
Các tác giả trình bày khái niệm và phân loại các DTLSVH, danh thắng của Việt Nam. Giới thiệu về lịch sử hình thành và những nét cơ bản về công trình kiến trúc của một số DTLSVH, danh thắng tiêu biểu như: Khu di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám, Nghĩa trang Trường Sơn, đền Ngọc Sơn - Hoàn Kiếm, tháp Po Klong Garai. Ở địa phương nào cũng có những di tích biểu tượng cho tinh thần yêu nước, bản lĩnh kiên cường của người Việt Nam, nền văn hóa giàu bản sắc của các dân tộc. Các tác giả đã giới thiệu về cụm di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Nghệ An và Khu lưu niệm Phan Bội Châu ở thị trấn Nam Đàn - Nghệ An.
Tuy nhiên, mới chỉ giới thiệu sơ bộ về địa điểm và hiện trạng một số công trình chính của các di tích. Tác giả Hoàng Thanh Hải (1999), Sử dụng di tích lịch sử trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở [57]. Trong công trình này tác giả tập trung luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc sử dụng các 12 13 DTLS trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở; mối quan hệ giữa các DTLS với nội dung, chương trình lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở. Đề xuất những hình thức và phương pháp sử dụng các DTLS trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở.
Tác giả Từ Mạnh Lương (2003), nghiên cứu về Một số chính sách và giải pháp kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu quả khai thác di tích lịch sử văn hóa của dân tộc giai đoạn phát triển mới của đất nước [87]. Tác giả trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về các chính sách, giải pháp KT - XH trong bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu quả khai thác các DTLSVH. Nêu lên thực trạng về một số chính sách và giải pháp KT - XH chủ yếu để bảo tồn, tôn tạo, nâng cao hiệu quả khai thác các DTLSVH ở Việt Nam. Đưa ra một số chính sách và giải pháp KT - XH chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn, tôn tạo và khai thác DTLSVH trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Tác giả Đinh Trung Kiên (2003), “Di tích lịch sử và tư liệu lịch sử với việc phát triển du lịch Việt Nam” [79]. Tác giả chỉ rõ: DTLS và tư liệu lịch sử là nguồn tài nguyên du lịch sẵn có và hấp dẫn trong phát triển du lịch. Đưa ra một số biện pháp khai thác hiệu quả DTLS và tư liệu lịch sử cho phát triển kinh tế du lịch Việt Nam. Cùng nghiên cứu về vai trò của di tích trong phát triển du lịch, tác giả Nguyễn Văn Đức (2013) với đề tài: Tổ chức các hoạt động du lịch tại một số di tích lịch sử văn hóa quốc gia của Hà Nội theo hướng phát triển bền vững [53].
Công trình đã làm rõ cơ sở khoa học tổ chức các hoạt động du lịch tại các khu DTLSVH; trình bày thực trạng tổ chức các hoạt động du lịch tại một số DTLSVH quốc gia của Hà Nội; đi sâu khảo sát tại: đền Ngọc Sơn, Văn miếu Quốc tử giám, thành Cổ Loa. Tác giả nêu lên bốn quan điểm vừa bảo tồn vừa khai thác bền vững các di tích: Bảo tồn và phát huy giá trị của DTLS phải bảo đảm tính trung thực lịch sử hình thành di tích, không được làm sai lệch các giá trị và đặc điểm vốn có của di tích, phải giữ nguyên tính nguyên gốc của di tích; khai thác các DTLSVH phải nhằm 13 14 phát huy giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể đối với phát triển KT - XH của địa phương, của các ngành kinh tế; tạo lập sự hài hòa giữa phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa với bảo vệ các di tích, ngăn chặn tình trạng xâm chiếm đất đai và xây dựng các công trình không phù hợp trong khu vực bảo vệ di tích; nâng cao vai trò quản lý nhà nước, thực hiện xã hội hóa hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức các hoạt động du lịch tại một số điểm DTLS tiêu biểu trên địa bàn thành phố Hà Nội. Tác giả Khoa Thị Khánh Chi (2010), nghiên cứu về Vi phạm di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh - thực trạng và giải pháp [21].
Công trình này đã trình bày khái quát chung về DTLSVH và danh lam thắng cảnh; nêu lên thực trạng những vi phạm di tích, danh thắng trên địa bàn cả nước nói chung và một số di tích tiêu biểu tại một số địa phương như: chùa Phước Điền (chùa Hang) - An Giang; đền Độc Cước - Thanh Hóa; Mộ và đền thờ Trần Quý Khoáng - Nghệ An; núi Tam Thanh và núi Nàng Tô Thị - Lạng Sơn. Chỉ rõ nguyên nhân của những vi phạm trên. Qua đó, tác giả đưa ra 12 giải pháp nhằm hạn chế tối đa tình trạng vi phạm các di tích, danh thắng; nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ DTLSVH, danh lam thắng cảnh ở nước ta trong thời gian tới. Các tác giả Quốc Hiệp, Thu Hằng (2013) nghiên cứu “Về tình hình vi phạm và xử lý vi phạm trong hoạt động quản lý, tu bổ, tôn tạo di tích thời gian qua” [61].
Các tác giả chỉ rõ: “Việc quản lý hoạt động bảo tồn di tích tại một số địa phương chưa chặt chẽ, một số nơi để xảy ra hiện tượng tự ý tu bổ hoặc sơn thếp di tích, di vật; không tuân thủ các quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng và tu bổ di tích; đưa đồ thờ tự không phù hợp vào di tích…, làm ảnh hưởng đến việc giữ gìn yếu tố gốc và tính chất văn hóa tâm linh của di tích” [61, tr. Công trình đã làm rõ một số vi phạm thường xảy ra trong bảo tồn di tích như: xâm phạm khu vực khoanh vùng bảo vệ và giải tỏa trong khu vực di tích; sai phạm trong tu bổ, quản lý các hoạt động văn hoá, lễ hội tại các di tích. Chỉ ra nguyên nhân của 14 15 những vi phạm trên. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu khắc phục và xử lý vi phạm trong hoạt động quản lý, tu bổ, tôn tạo di tích.
Tác giả Nguyễn Thịnh (2012), Di sản văn hóa Việt Nam, bản sắc và những vấn đề về quản lý, bảo tồn [116]. Nguyễn Đình Thanh, Lê Thị Minh Lý (2008), Di sản văn hóa bảo tồn và phát triển [111]. Các tác giả tập trung luận giải khái niệm về DSVH và bản sắc riêng có của nó; nêu lên chức năng và phân loại các DSVH. Có sự tham khảo một số kinh nghiệm bảo tồn DSVH ở nước ngoài và đề xuất phương hướng, giải pháp trong quản lý và bảo tồn các DSVH ở Việt Nam.
Nghiên cứu của Ngô Thị Ngà (2013), về “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh đạo công tác bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hóa từ năm 2001 đến năm 2010” [89]. Tác giả nêu lên thực trạng công tác bảo tồn, tôn tạo DTLSVH ở tỉnh Thái Nguyên trước năm 2001. Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSVH (2001 - 2010). Nhận xét, rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo và đề xuất một số kiến nghị về công tác bảo tồn và phát huy DTLSVH trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới.
Tuy nhiên, Thái Nguyên là tỉnh có số lượng di tích khá lớn với hơn 700 DTLSVH, trong nghiên cứu tác giả có đề cập đến một số DTLSCM tiêu biểu trên địa bàn tỉnh nhưng chưa đi sâu nghiên cứu về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM. Nghiên cứu về bảo tồn di tích bằng hình thức bảo tàng, tác giả Nguyễn Thu Trang (2013) trong bài “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa bằng hình thức bảo tàng hóa di sản văn hóa” [152]; tác giả Nguyễn Thịnh (2014), Bảo tàng hóa di tích [117]. Các tác giả luận giải về hình thức bảo tàng hóa trong bảo tồn và phát huy giá trị DSVH. Theo tác giả Nguyễn Thu Trang: Bảo tàng hóa DSVH theo nghĩa rộng là phương pháp tối ưu và hiện đại nhằm bảo tồn và phát huy DSVH trực tiếp tại điểm di sản tồn tại, ngay trong môi trường sinh thái nhân văn nơi di sản được sáng tạo ra, hiện đang tồn tại và gắn bó mật thiết với đời sống thường 15 16 nhật của cộng đồng cư dân địa phương, các chủ thể sáng tạo văn hoá.
Môi trường bảo tàng được tạo dựng sau di sản (về thời gian) và xung quanh di sản (về không gian), còn di sản lại trở thành hiện vật trưng bày chính của bảo tàng vừa được ra đời [152, tr. Tác giả nêu lên những kinh nghiệm thực hiện Bảo tàng hóa các DSVH của: Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Pháp, Ý, Ba Lan. Từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm góp phần bảo tồn và phát huy giá trị các di tích: đẩy mạnh hoạt động nghiệp vụ của các di tích; vận dụng lý thuyết cơ bản của Bảo tàng học vào hoạt động chuyên môn tại các di tích hoạt động như một bảo tàng. Tác giả Trần Bá Đồng (2015), “Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa từ năm 1998 đến năm 2013” [50].