Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Vùng đất Chí Linh (tỉnh Hải Dương) là địa bàn lịch sử gắn liền với nhiều danh nhân văn hóa và anh hùng dân tộc như Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Chu Văn An và năm vị tướng họ Vương thời Tiền Lê. Cùng với các lễ hội nổi tiếng như Côn Sơn – Kiếp Bạc, hệ thống di tích và lễ hội Đền Cao tại thôn Đại, xã An Lạc lưu giữ những giá trị văn hóa dân gian độc đáo, tưởng nhớ công lao của năm vị tướng họ Vương đã phò tá vua Lê Đại Hành đánh tan quân Tống xâm lược vào năm 981.
Trong một giai đoạn dài do hoàn cảnh chiến tranh, lễ hội Đền Cao bị gián đoạn và chưa được nghiên cứu toàn diện. Các tài liệu trước đây phần lớn chỉ giới thiệu sơ lược về thần tích hoặc quần thể di tích nhằm mục đích quảng bá du lịch địa phương, thiếu vắng các công trình khảo tả có hệ thống về toàn bộ diễn trình lễ nghi và giá trị văn hóa - xã hội. Do đó, khóa luận tập trung giải quyết các nhiệm vụ khoa học sau:
- Tái hiện bức tranh lễ hội Đền Cao trong cả hai chiều kích truyền thống và hiện đại thông qua khảo tả thực địa và giải mã tư liệu thành văn.
- Phân tích, làm nổi bật vai trò, ý nghĩa văn hóa - tâm linh và chức năng gắn kết cộng đồng của lễ hội Đền Cao đối với cư dân địa phương và vùng đồng bằng Bắc Bộ.
- Đối tượng nghiên cứu: Lễ hội Đền Cao tại thôn Đại, xã An Lạc, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, trọng tâm là quy trình tổ chức, các sự lệ, tuần tế và lễ rước truyền thống.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Khu di tích Đền Cao và địa bàn xã An Lạc (trước đây là Dược Đậu Trang, sau đổi thành xã Lạc Đạo).
- Thời gian: Tập trung vào các nghi lễ cổ truyền được bảo lưu và diễn trình phục dựng lễ hội đến thời điểm thực hiện khóa luận (năm 2014).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu từ góc độ Việt Nam học và Văn hóa học dân gian. Về mặt lý luận, tác giả sử dụng hệ thống khái niệm chuẩn mực về "Lễ" (hệ thống hành vi, nghi thức thể hiện lòng tôn kính đối với thần linh, Thành hoàng) và "Hội" (sinh hoạt văn hóa cộng đồng, trò chơi dân gian giải trí) dựa trên các công trình nghiên cứu của Viện Văn hóa Dân gian (Lễ hội cổ truyền, 1992), Toan Ánh (Hội hè đình đám, 1969), Đặng Văn Lung và Thu Linh (Lễ hội truyền thống và hiện đại, 1984), Bùi Thiết (Từ điển hội lễ Việt Nam), Nguyễn Chí Bền (Văn hóa dân gian Việt Nam) và Hà Hùng Tiến (Lễ hội và danh nhân lịch sử Việt Nam, 1997).
Khóa luận phối hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp điền dã dân tộc học: Trực tiếp khảo sát thực địa tại khu di tích Đền Cao, quan sát các nghi thức tế lễ, phỏng vấn sâu các bậc cao niên, ông Trùm, Quan Đám và ban khánh tiết tại thôn Đại, xã An Lạc.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu Hán Nôm và thư tịch: Khai thác nội dung bản Thánh phả (do Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm 1572, Tri Diên Hồng Lĩnh Thiếu khanh Thượng thư bộ Lễ Nguyễn Hiền biên tập năm 1736, hiện còn lưu giữ 3 bản sao và 1 bản tóm tắt bằng chữ Hán trên giấy dó khổ 13x19 cm tại Đền Cao), các văn bia niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 2 (1736), Thành Thái thứ 2 (1890), chuông đồng niên hiệu Bảo Đại thứ 14 (1939) cùng 11 đạo sắc phong từ thời Minh Mạng đến thời Khải Định.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối sánh giữa ghi chép thần tích, văn bản học với thực hành nghi lễ sống động tại cộng đồng làng xã qua các thời kỳ.
Nguồn dữ liệu của đề tài được tổng hợp từ tư liệu khảo sát thực địa, số liệu hành chính - kinh tế xã hội của UBND xã An Lạc, tài liệu lưu trữ tại Phòng Văn hóa Thông tin - Thể thao và Du lịch thị xã Chí Linh, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Năm vị tướng họ Vương và vùng quê An Lạc
Chương này trình bày tổng quan về địa bàn nghiên cứu và nguồn gốc lịch sử - huyền tích của năm vị tướng họ Vương.
Về điều kiện tự nhiên, xã An Lạc là xã miền núi nằm ở phía Đông Nam thị xã Chí Linh (cách trung tâm 7 km), ven sông Kinh Thầy, tiếp giáp các xã Văn Đức, Tân Dân, Thái Học và huyện Kinh Môn. Địa hình chuyển tiếp từ đồi bát úp (núi Vọng Kẻ, Vọng Vắt, Ninh Công có độ cao 15–100 m) sang vùng đồng bằng phù sa (đồng Ao Cá, đồng Sam, đồng Vọng, đồng Rẽ). Khí hậu mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm 22–23°C, lượng mưa trung bình 1.463 mm.
Về kinh tế - xã hội, cơ cấu kinh tế năm 2011 của địa phương được tác giả thống kê cụ thể:
| Chỉ tiêu kinh tế - xã hội |
Giá trị / Tỷ trọng |
| Tổng diện tích đất tự nhiên |
1.020,77 ha |
| Diện tích đất nông nghiệp |
720 ha (chiếm 70,53%) |
| Tỷ trọng ngành nông nghiệp |
57,5% |
| Tỷ trọng tiểu thủ công nghiệp - công nghiệp |
30,3% |
| Tỷ trọng thương mại - dịch vụ |
12,2% |
| Lao động thường xuyên ngành nông nghiệp |
2.961 người (chiếm 80% tổng lao động) |
| Lao động CN - TTCN và Thương mại dịch vụ |
673 người (chiếm 20% tổng lao động) |
Về sự tích năm vị tướng họ Vương: Thân phụ là ông Vương Tĩnh, thân mẫu là bà Đào Thanh (quê gốc Nga Sơn, Thanh Hóa) dời đến Dược Đậu Trang (nay là An Lạc) sinh cơ lập nghiệp. Sau giấc mộng trời ban và việc gặp giao long ngũ sắc trên sông, bà mang thai và sinh một bọc năm trứng (3 trai, 2 gái) vào giờ Mão, ngày 26 tháng 10 năm Đinh Mùi. Năm 981, khi quân Tống do Hầu Nhân Bảo và Quách Tiến chỉ huy xâm lược nước ta, vua Lê Hoàn đóng bản doanh tại Dược Đậu Trang và tuyển mộ năm anh em họ Vương, phong tước cầm quân dẹp giặc. Sau khi lập chiến công, ngày 23 tháng Giêng, cả năm vị đồng loạt hóa về trời. Vua Lê Đại Hành ban 24 mẫu công điền và sắc chỉ lập 4 ngôi đền phụng thờ:
| Tên vị tướng |
Tước phong thời Tiền Lê |
Địa điểm lập đền thờ |
| Vương Đức Minh |
Thiên Bồng Đại tướng quân Đại Vương |
Đền Cao (đỉnh núi Thiên Bồng) |
| Vương Đức Xuân |
Dực Thánh Linh Ứng Đại Vương |
Đền Bến Tràng (ven sông Nguyệt Giang) |
| Vương Đức Hồng |
Anh Vũ Dũng Lược Đại Vương |
Đền Bến Cả / Đền Trần (ven sông) |
| Vương Thị Đào |
Đào Hoa Trinh Thuận Công chúa |
Đền Cả (đồng bằng) |
| Vương Thị Liễu |
Liễu Hoa Linh Ứng Công chúa |
Đền Cả (đồng bằng) |
Chương 2: Quy trình lễ hội
Chương 2 là trọng tâm của khóa luận, mô tả chi tiết không gian, các sự lệ thường niên, quy tắc phụng sự và diễn trình lễ hội Đền Cao.
Không gian lễ hội gồm quần thể di tích bên dòng Nguyệt Giang:
- Đền Cao: Nằm trên núi Thiên Bồng (cao 47 m, diện tích 5.414 m²), kiến trúc chữ Đinh gồm 3 gian tiền tế, 2 gian trung từ, 1 gian hậu cung với 113 bậc đá, bao quanh bởi rừng lim cổ thụ; lưu giữ 13 câu đối gỗ sơn son thiếp vàng, bia đá Vĩnh Hựu (1736), bia Thành Thái (1890), chuông đồng (1939), 11 đạo sắc phong và tượng voi, ngựa bằng đá hoa cương.
- Đền Cả: Thờ Thành hoàng Dương Tôn Linh và hai nữ tướng họ Vương, kiến trúc thời Nguyễn, có đôi rồng chầu mặt trời đắp nổi tinh xảo.
- Đền Bến Tràng: Thờ Đức Dực Thánh Linh Ứng Vương Đức Xuân.
- Đền Bến Cả (Đền Trần): Thờ Anh Vũ Dũng Lược Vương Đức Hồng, có kiến trúc độc đáo thờ lộ thiên không mái che với bệ thờ, bình hương, tráp và đèn hoàn toàn bằng đá.
- Đền thờ vua Lê Đại Hành: Xây dựng trên núi Bàn Cung (nơi vua đóng bản doanh năm 981) với kinh phí hơn 10 tỷ đồng.
- Chùa Cả (Hưng Khánh tự): Khởi dựng từ giữa thế kỷ XVII thời Hậu Lê.
Hệ thống sự lệ và kiêng kị: Khu di tích Đền Cao duy trì lịch lễ tiết phong phú bậc nhất tỉnh Hải Dương (đã được Sở VHTTDL kiểm kê năm 2012 để đề nghị xếp hạng di sản cấp quốc gia). Các quy định tâm linh nghiêm ngặt gồm:
- Thắp hương đen làm từ nến và nhựa cây trám (tàn tro màu trắng biểu thị sự thanh khiết; Đền Cao và Đền Cả thắp 9 nén, Đền Bến Tràng và Bến Cả thắp 5 nén; đốt tay phải, cắm tay trái).
- Lễ vật bắt buộc là lễ chay (bánh dầy giã mịn từ gạo nếp và chè kho nấu đỗ xanh, bắt nguồn từ tích làm lương khô hành quân thời Tiền Lê).
- Luật cung cấm: "Biết không nói, không biết không hỏi"; kiêng kỵ các tên húy (Minh, Xuân, Hồng, Đào, Liễu).
Ban phụng sự tế lễ gồm 1 ông Trùm và 5 ông Quan Đám (đại diện 5 giáp, tuyển chọn nghiêm ngặt từ người trên 50 tuổi, gia đình hòa thuận song toàn, không có tang). Quan Đám thực hiện nhiệm kỳ 1 năm (từ mùng 2 Tết), sau khi hết nhiệm kỳ được lên chức cụ Lềnh. Quan Đám phải tuân thủ chế độ kiêng khem khắt khe: ăn ở riêng biệt, kiêng cá không vảy, tỏi, mắm tôm, thịt trâu bò, thịt chó, mùng tơi; ăn chay 6 ngày/tháng (13, 14, 15, 28, 29, 30 âm lịch); khi vào hậu cung phải mặc áo đỏ trong, áo đen ngoài, bịt miệng bằng dải lụa đỏ để tránh truyền khí trần tục vào thánh cung.
Diễn trình lễ hội chính (từ ngày 21 đến ngày 25 tháng Giêng):
- Các nghi lễ chuẩn bị: Lễ vót tăm (ngày 16/1: vót 120 chiếc tăm tre cật dài 15 cm, dày 1 mm phục vụ 13 tuần tế), Lễ may áo Thánh (ngày 17/1: quây màn đỏ 12 m² khâu 2 áo cho Đức Đệ Nhất và Đức Đệ Tam), Lễ thay tro đổi chiếu (ngày 20/1: thay tro rơm nếp và chiếu cói mới trong khám thờ), Lễ khai quang sái tịnh (ngày 21/1: tẩy uế đồ tế tự bằng rượu gừng).
- Các tuần tế chính: Tế Mộc dục (23h ngày 22/1 tại Đền Cả; 4h sáng ngày 23/1 tại Đền Cao), Tế Hội đồng (chiều 22/1), Tế Nghinh (sáng 23/1), Tế Yên vị, Tế Yến (mời cơm ngày 23–25/1), Tế Đập đất (tối 23/1: hai cụ Lềnh thực hiện động tác bế bồng, đấu vật biểu trưng cầu sức khỏe), Tế Giã hội (ngày 25/1).
- Lễ rước truyền thống (ngày 23 tháng Giêng): Đoàn rước quy tụ khoảng 150 người (58 người khiêng kiệu, 30 người chấp kích gõ chiêng trống, đội múa rồng 20 người), điều hành 7 cỗ kiệu:
| Số thứ tự kiệu |
Nội dung rước |
| Kiệu 1 |
Rước bát hương Đức Đệ Nhất (Thành hoàng Dương Tôn Linh) |
| Kiệu 2 |
Rước bài vị Đức Đệ Nhất |
| Kiệu 3 |
Rước sắc phong của các vị tướng họ Vương |
| Kiệu 4 |
Rước bát hương và hai hộp trầu của Vương Thị Đào và Vương Thị Liễu |
| Kiệu 5 |
Rước bài vị Đức Đệ Tam (Thiên Bồng Đại tướng quân Vương Đức Minh) |
| Kiệu 6 |
Rước mũ và bát hương Đức Đệ Tứ (Dực Thánh Linh Ứng Vương Đức Xuân) |
| Kiệu 7 |
Rước bát hương Đức Đệ Ngũ (Anh Vũ Dũng Lược Vương Đức Hồng) |
- Sự thay đổi lộ trình rước: Thời chiến tranh do đình làng Đại bị phá hủy, đoàn rước đi vòng quanh các đền rồi tập kết về Đền Cao. Sau khi đình làng Đại được phục dựng vào năm 2013, từ mùa hội năm 2014, lộ trình lễ rước đã chính thức được khôi phục nguyên bản: rước từ Đền Cả về đình làng Đại.
- Phần hội: Tổ chức phong phú các trò chơi dân gian như đấu vật truyền thống, đua thuyền trên sông Nguyệt Giang, thi giã bánh dầy, nấu chè kho, kéo co, chọi gà, cờ người; ban đêm tổ chức hát chèo và dân ca quan họ.
Chương 3: Giá trị và ý nghĩa của lễ hội đền Cao
Chương 3 tổng kết các giá trị lịch sử, văn hóa, xã hội của di tích và lễ hội:
- Giá trị lịch sử: Tôn vinh cuộc kháng chiến chống Tống năm 981 thời Tiền Lê, minh chứng cho truyền thống chống ngoại xâm kiên cường của cư dân vùng duyên hải Bắc Bộ.
- Giá trị văn hóa - tâm linh: Bảo tồn hệ thống nghi lễ cổ sơ gắn liền với tín ngưỡng thờ thủy thần, phong tục nông nghiệp lúa nước và các quy phạm văn hóa làng xã độc đáo (tục thắp hương đen, dâng cúng bánh dầy chè kho, luật cung cấm).
- Ý nghĩa xã hội: Củng cố tình đoàn kết cộng đồng giữa 7 thôn trong xã An Lạc, giáo dục truyền thống "uống nước nhớ nguồn" cho thế hệ trẻ.
- Những vấn đề đặt ra: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý lễ hội, bảo vệ cảnh quan rừng lim cổ thụ, trùng tu các hạng mục kiến trúc và tiếp tục bảo tồn nguyên vẹn các di sản phi vật thể trước sức ép thương mại hóa du lịch.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được những kết quả và đóng góp cụ thể:
- Khảo tả hệ thống và toàn diện diễn trình lễ hội: Lần đầu tiên toàn bộ quy trình lễ hội Đền Cao (từ các khâu chuẩn bị vót tăm, may áo Thánh, thay tro đổi chiếu, đến 8 tuần tế và cấu trúc 7 cỗ kiệu rước) được ghi chép, hệ thống hóa một cách khoa học, chi tiết thay vì chỉ dừng lại ở các bài viết giới thiệu sơ lược.
- Khai thác và giải mã hệ thống tư liệu Hán Nôm: Khóa luận khảo sát, dịch thuật và giới thiệu giá trị của 3 bản sao Thánh phả, văn bia Vĩnh Hựu (1736), bia Thành Thái (1890) cùng nội dung đạo sắc phong của vua Duy Tân năm thứ 3 (1909), bổ sung cứ liệu lịch sử vững chắc cho cụm di tích Đền Cao.
- Ghi nhận sự phục dựng nghi lễ cổ truyền: Khóa luận phản ánh kịp thời dấu mốc lịch sử năm 2014 khi lễ hội Đền Cao chính thức khôi phục lại không gian rước truyền thống về đình làng Đại sau nhiều thập kỷ bị gián đoạn do chiến tranh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Bản gốc chữ Hán của bản Thánh phả do Nguyễn Bính (1572) và Nguyễn Hiền (1736) soạn thảo hiện không còn, nguồn tư liệu chủ yếu dựa trên các bản sao chép tay đời sau trên giấy dó và truyền thuyết dân gian nên một số chi tiết về năm sinh, vai vế thứ bậc giữa 5 vị tướng vẫn tồn tại dị bản. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung tại xã An Lạc, chưa mở rộng so sánh sâu với các di tích thờ tướng lĩnh thời Tiền Lê trên toàn lưu vực sông Kinh Thầy và sông Lục Đầu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối sánh văn bản học các bản thần tích thời Tiền Lê tại khu vực đồng bằng Bắc Bộ; nghiên cứu sâu hơn về sự chuyển biến của tín ngưỡng thờ thủy thần bản địa kết hợp với tín ngưỡng thờ anh hùng dân tộc trong không gian văn hóa vùng Chí Linh.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên và nhà nghiên cứu thuộc các ngành Việt Nam học, Văn hóa học, Lịch sử, Dân tộc học và Tôn giáo học khi tìm hiểu về lễ hội truyền thống, tín ngưỡng thành hoàng và văn hóa dân gian vùng Hải Dương.
- Cơ quan quản lý văn hóa địa phương (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương, Phòng Văn hóa thị xã Chí Linh, Ban quản lý di tích Đền Cao) sử dụng làm cơ sở dữ liệu phục vụ công tác quy hoạch, bảo tồn di tích và hoàn thiện hồ sơ đề nghị công nhận di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Câu hỏi thường gặp
1. Năm vị tướng họ Vương được thờ tự cụ thể tại những ngôi đền nào trong quần thể Đền Cao?
Năm vị tướng được phụng thờ tại 4 ngôi đền:
- Đền Cao thờ Thiên Bồng Đại tướng quân Vương Đức Minh.
- Đền Bến Tràng thờ Dực Thánh Linh Ứng Đại vương Vương Đức Xuân.
- Đền Bến Cả (Đền Trần) thờ Anh Vũ Dũng Lược Đại vương Vương Đức Hồng.
- Đền Cả thờ chung hai nữ tướng Đào Hoa Trinh Thuận Công chúa Vương Thị Đào và Liễu Hoa Linh Ứng Công chúa Vương Thị Liễu (cùng Thành hoàng Dương Tôn Linh).
2. Lễ vật chay truyền thống dâng cúng tại Đền Cao gồm những món gì và có nguồn gốc lịch sử như thế nào?
Lễ chay truyền thống bắt buộc phải có bánh dầy (làm từ gạo nếp đồ xôi giã mịn) và chè kho (nấu bằng đỗ xanh). Nguồn gốc lễ vật xuất phát từ sự kiện năm 981 khi tướng quân Vương Đức Minh sáng chế ra cách làm bánh dầy dạng mâm tiện lợi cho quân sĩ đem theo ăn đường, giúp đoàn quân của vua Lê Đại Hành hành quân thần tốc đánh tan giặc Tống. Sau chiến thắng, vua Lê Hoàn cho làm bánh dầy tế trời đất và khao thưởng tướng sĩ.
3. Tiêu chuẩn và những quy định kiêng khem đối với Quan Đám tại Đền Cao nghiêm ngặt như thế nào?
Quan Đám phải là nam giới trên 50 tuổi, gia đình trọn vẹn hòa thuận, có con nối dõi và không vướng tang trở. Trong nhiệm kỳ 1 năm, Quan Đám phải sinh hoạt riêng biệt (không ăn cùng mâm bát, không ngủ cùng giường với người nhà), kiêng ăn thịt chó, thịt trâu bò, cá không vảy, tỏi, mắm tôm, rau mùng tơi; ăn cơm lấy ở đỉnh nồi; ăn chay 6 ngày mỗi tháng. Khi vào cung cấm, Quan Đám phải bước chân phải vào trước, bước chân trái ra sau (đi giật lùi) và phải bịt miệng bằng dải lụa đỏ để tránh làm ô uế thánh cung.
4. Tại sao Đền Bến Cả lại có tên gọi là Đền Trần với cấu trúc kiến trúc khác biệt?
Theo truyền tích dân gian, ngôi đền ban đầu xây 50 gian bị cháy rụi và nhiều lần dựng lại đều bị đổ. Sau đó thần báo mộng nếu không xây đủ 100 gian thì phải để bệ thờ lộ thiên ngoài trời (thờ trần) kèm theo các đồ thờ bằng đá. Do đó, đền được xây dựng không có mái che, chỉ có bệ thờ ngoài trời cùng bình hương đá, tráp đá, đèn đá và hai gác chuông nối tường bao, từ đó dân gian gọi là Đền Trần.
5. Lộ trình lễ rước 7 cỗ kiệu ngày 23 tháng Giêng có sự thay đổi ra sao trong lịch sử?
Trước thời kỳ chiến tranh, đoàn rước xuất phát từ Đền Cả rước 7 cỗ kiệu về đình làng Đại rồi đến ngày 25 rước giã đám về từng đền. Trong chiến tranh, đình làng Đại bị phá hủy nên lộ trình buộc phải đổi thành rước qua các đền rồi tập kết lên Đền Cao. Năm 2013, đình làng Đại được phục dựng hoàn tất, do đó từ lễ hội năm 2014, lễ rước đã chính thức quay trở lại đúng quy trình truyền thống: rước từ Đền Cả về đình làng Đại.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Thị Ngọc Anh đã hoàn thành xuất sắc việc phục dựng bức tranh toàn diện, chi tiết và có hệ thống về lễ hội Đền Cao tại xã An Lạc, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa khảo sát thực địa dân tộc học và phân tích tư liệu Hán Nôm thành văn, công trình đã làm sáng rõ nguồn gốc lịch sử - thần tích của năm vị tướng họ Vương thời Tiền Lê, hệ thống sự lệ phong phú, các quy tắc kiêng kị tâm linh độc đáo cùng diễn trình 8 tuần tế và lễ rước 7 cỗ kiệu truyền thống. Đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc, có giá trị học thuật cao, đóng góp thiết thực cho công tác bảo tồn, phục dựng và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể tại địa phương.