Chương 1: Năm vi tướng họ Vương và vùng qué An Lac. Chương 2: Quy trình lễ hội. Chương 3: Giá trị và ý nghĩa của lễ hội đền Cao. NĂM VỊ TƯỚNG HỌ VƯƠNG VÀ VÙNG QUÊ AN LẠC 1.
Đô i né t kh ái qu át về vù ng qu ê An Lạ c 1. Đặc điểm tự nhiên * Vị trí An Lạc là một xã miền núi thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương,cách trung tâm thị xã 7km về phía Đông Nam. Địa hình của xã An Lạc không bằng phẳng, độ cao xoải dần theo hướng Đông — Nam. Phía Bắc xã An Lạc giáp xã Văn Đức; phía Nam giáp xã Tân Dân; phía Đông có con sông Kinh Thay, bên kia là xã Lê Ninh huyện Kinh Môn; phía Tây giáp xã Thái Học.
An Lạc có vi trí địa lý khá thuận lợi, nằm gần trung tâm của thị xã Chí Linh và thành phố Hải Dương, giữa hai tuyến tỉnh lộ quan trọng của Hải Dương là tỉnh lộ 183 và tỉnh lộ 186. An Lac nằm ven sông Kinh Thay, giao thông đường thủy thuận lợi chảy từ Bắc xuống Nam, kết nối với các huyện Nam Sách và Kinh Môn. * Địa hình An Lạc là một xã vùng núi, địa hình được chia làm hai dạng chính: khu đổi bát úp xen kẽ ruộng canh tác, đồi núi ven sông Kinh Thay, có độ cao từ 15 — 100 m, độ dốc từ 5 — 30°, phân bố ở phía Đông và phía Đông Bắc của xã như núi Vọng Ké, Vọng Vắt, Ninh Công xen kẽ là các ruộng canh tác hẹp trồng lúa như đồng Vọng Lật, đồng Trại Cá. Trong khi đó, ở phía Tây và Tây Bắc là dải bãi bằng phù sa với những cánh đồng lớn nối tiếp nhau như đồng Ao Cá, đồng Sam, đồng Vọng và đồng Re.
* Khí hậu An Lạc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa (có hai mùa rõ rệt): Mùa nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, đặc điểm thời tiết là nắng nóng, mưa nhiều, tông bức xạ nhiệt lớn; mùa lạnh kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, do hoạt động của gió mùa Đông Bắc nên dẫn đến đặc điểm thời tiết lạnh, hanh khô vào nửa đầu mùa đông gây hạn hán ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông nghiệp, và lạnh âm vào nửa cuôi mùa đông gây mưa phùn và rét mướit. Nhiệt độ trung bình năm ở An Lạc khoảng từ 22 — 23 °C. Tháng 6, 7 nhiệt độ cao nhất khoảng từ 36 — 38 °C. Nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1, 2 khoảng từ 10 - 12 ”C.
Lượng mưa trung bình năm của xã là 1.463 mm, thấp hơn một ít so với chỉ số trung bình của tỉnh Hải Dương. Lượng mưa phân bố không đều, mùa mưa chiếm khoảng 70%, mùa khô chiếm khoảng 30%. Kinh tế - xã hội 1. Kinh tế “—- Cơ cấu kinh tế của An Lạc hiện nay bao gồm ba ngành chính đó là nông nghiệp, tiêu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ.
Từ bao đời nay, đối với An Lạc nghề nông vẫn luôn là nghè chính. Điều này thé hiện rõ nhất ở cơ cấu kinh tế của xã hiện nay, theo số liệu thống kê năm 2011, tỷ trọng ngành nông nghiệp đứng đầu chiếm 57,5 %, tỷ trọng ngành tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp chiếm 30,3% đứng thứ hai và đứng cuối cùng là tỷ trọng ngành thương mại dịch vụ chiếm 12,2%. Cũng theo số liệu thống kê năm 2011, diện tích đất tự nhiên của xã An Lạc là 1.020,77 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp là 720 ha chiếm tới 70,53%. Qua các số liệu được thống kê ở trên chúng ta có thể thấy, cho đến nay, đối với xã An Lạc, nông nghiệp vẫn là ngành chiếm vị trí quan trọng nhất, mặc dù trong những năm gần đây tỷ trọng ngành nông nghiệp có xu hướng giảm nhưng ngành nông nghiệp vẫn luôn chiếm trên 50% tỷ trọng của toàn ngành.
9 Đối với ngành tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp, ở đây chủ yếu là làm ng hề xa y xát , gò hàn , ng hề mộ c, kha i thá c cát , sản xuấ t gạc h, vôi , ng àn h nghề cơ khí. Nhìn chung thì ngành công nghiệp và tiêu thủ công nghiệp vẫn đang trên đà phát triển nhưng mức độ tăng trưởng chậm, do ảnh hưởng của giá cả nguyên liệu, nhiên liệu đầu vào liên tục tăng, ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, tác động mạnh mẽ đến sản xuất công nghiệp. Ngành thương mại dịch vụ chỉ chiếm 12,2%, có tỷ trọng thấp nhất toàn ngành vì ngành này là một ngành mới xuất hiện, trong những năm gần đây nhìn chung đều tăng nhưng tốc độ tăng tương đối chậm. Các ngành nghề chủ yếu là vận tải thủy, cung ứng vật liệu xây dựng, vật tư nông nghiệp, hàng hóa tạp vụ, các sản phẩm nông nghiệp.
Dan cư — văn hóa Do từ bao đời nay ngành nông nghiệp là ngành chính và đóng vai trò quan trọng nhất đối với nền kinh tế của xã An Lạc cho nên người dân chủ yếu là làm nông nghiệp. Theo số liệu thống kê năm 201 1, tổng số lao động thường xuyên trong ngành nông nghiệp là 2961, người chiếm tỷ lệ 80% trong tổng số lao động toàn xã. Ngay từ buổi ban đầu, bà con nơi đây, với những công cụ thô sơ, phải sống trong một địa thế khó khăn, lam lũ để khai phá đất đai. Xưa kia, trình độ khai thác của người dân nơi đây còn lạc hậu, năm nào cũng vậy chỉ là “chiêm tép, mùa di, sống để bụng, chết mang đi” như dân ta thường nói.
Dưới chế độ thực dân - phong kiến, giai cấp thống trị chưa chú ý đến công tác thủy lợi, đê điều, cầu công nên đồng ruộng An Lạc “chớm mưa đã úng, chớm nắng đã hạn”. Do phương thức sản xuất lạc hậu, công cụ thô sơ, cơ sở vật chất kỹ thuật hầu như không có, các tiềm năng phong phú của đất đai chưa được khai thác triệt dé, lại kết hợp với công tác thủy lợi không được quan tâm chú ý nên nhân dân trong xã quanh năm bị thiếu ăn, đời sống gian nan cực khổ. Từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến 10 công tác thủy lợi, đã tổ chức cho nh ân dâ n đắ p đê dọ c sô ng Ki nh Th ây , đà o mương, đắp vù ng , xâ y dự ng cầ u cố ng ; th ủy lợi đã tạo th àn h hệ th ốn g kê nh mương ch ẳn g chị t dài hà ng ch ục km. Đặ c biệ t là co n sô ng th ủy nô ng dài 3,6 km từ Tây sang Đông trước khi dé về sông Kinh Thay làm cho nạn ngập lụt, hạn hán giảm hắn, thuận lợi cho việc tưới tiêu, khiến cho những cánh đồng trước kia chỉ cấy đượ c một vụ , nay đã cấy đượ c hai vụ lúa và một vụ mau.
Năng suất lúa ngày càng gia tăng giúp cho người dân thoát khỏi nghèo đói. Ngoài làm ruộng An Lạc còn có một thế mạnh là có trên 500 ha đồi núi, diện tích gấp rưỡi diện tích trồng lúa của xã. Đổi núi xã An Lạc trước kia có nhiều lâm sản quý như lim, sến, táu, chò chỉ, vàng tâm, gụ. và có vô vàn các loại chim thú sinh sống.
Trong các đầm hồ có nhiều cá tôm, đó là nguồn sinh sống của nhiều hộ dân. Ngày nay, những tài sản quý giá mà thiên nhiên ban tặng đã không còn, chỉ sót lại rừng tre bà Thị và rừng lim cô ở Đền Cao; song với chính sách phát triển của Nhà nước, những đồi trọc đã được người dân trồng rừng và trồng cây ăn trái như vải, nhãn, mit, di. Nghề trồng rừng và làm vườn trên núi này đã mang lại thu nhập cho bà con nơi đây và góp phan phủ xanh đổi trọc bảo vệ quê hương. Ngoài phần lớn bộ phận dân cư làm nông nghiệp thì một bộ phận dân cư lại kiếm thu nhập bằng cách làm các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ.
Các ngành này tạo được khá nhiều việc làm cho lao động địa phương, có thu nhập 6n định hon rất nhiều so với sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, do tốc độ phát triển chậm nên số lao động làm trong ngành nghề này vẫn rất thấp. Theo số liệu thống kê năm 2011 thì tổng số lao động làm trong ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ là 673 người, chiếm 20% tong số lao động toàn xã. Dau cuộc sông của người dân nơi đây còn bao gian lao, vat vả, phải bươn trải trong cuộc sống hàng ngày, nhưng người dân An Lạc, trái lại có 11 cuộc sống tinh thần vô cù ng ph on g ph ú đa dạ ng và rất an lạc gi ốn g nh ư ý nghĩa cái tên của quê hương họ an cư và lạc nghiệp.
Nhân dân trong xã đều theo đạo Phật, những bậc cao niên trong làng thường răn dạy con cháu phải tránh xa cái ác, làm việc thiện, sống thủy chung có nghĩa, có tình. Xã An Lạc có nhiều đền, chùa, miéu được xây dựng theo lối kiến trúc cỗổ với những nét hoa văn tỉnh xảo là những nơi sinh hoạt tín ngưỡng tỉnh thần cho người dân trong xã và cho người dân ở các xã khác, vùng khác. Nỗi bật trong số đó là khu di tích Đền Cao gồm bốn ngôi đền thờ năm vị tướng họ Vương. Ngoài ra An Lạc còn có bốn ngôi chùa thờ phật đó là chùa Dun, chùa Nguyệt, chùa Cả, chùa Mục Đồng.
Hàng năm, người dân nơi đây còn tô chức các lễ hội tại các đên chùa, nôi bật nhât phải kê đên lễ hội Đên Cao, đây là những nét đẹp văn hóa dân gian của người dân An Lạc nói riêng và của nước Việt Nam nói chung. Sự tích về năm vị tướng họ Vương Năm vị tướng họ Vương là những vị tướng có xuất thân kỳ lạ. Có rất nhiều sự tích, chuyện kế dân gian về xuất thân của năm vị tướng họ Vương. Các sự tích này có từ cỗ xưa và được nhân dân lưu truyền.
Đến năm 1572 các sử thần đời Tiền Lê đã cố định sự tích này thành văn bản chính là nội dung trong Thánh phả được lưu giữ ở Đền Cao hiện nay. Người có công lớn trong việc ghi chép lại sự tích về năm vị tướng họ Vương là Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính. Tiếp đến là Tri Diên Hồng Lĩnh Thiếu khanh Thượng thư bộ Lễ Nguyễn Hiền đã dụng công biên tập lại vào năm 1736. Cho đến nay, có rất nhiều dị bản về sự tích các vị thánh họ Vương nhưng trong đó sự tích được lưu giữ trong Thánh phả là đáng tin cậy nhất.