đặt vấn đề tính xác thực cửa tƣ liệu hoặc bản dịch khi xét lại chi tiết (lời ông Trần Mại) cho rằng: “Ở Yên Thái có bà con gái linh thiêng, hiển hiện nói cùng dân thôn và thân nhân trong những đêm trăng sáng dƣới khu gò Đa” - Nếu hiểu, “dân thôn” trong câu này là dân thôn Yên/An Thái thì nguồn tƣ liệu chƣa hẳn đã chính xác, bởi qua khảo cứu và đối chiếu nguồn tƣ liệu Hán Nôm, đặc biệt là qua các tài liệu gốc mang tính chân xác cao, nhƣ sắc phong (hiện lƣu tại nhà thờ họ Trần Lê và phủ Tiên Hƣơng), địa bạ lập năm Gia Long thứ 4 - 1805 (hiện lƣu tại Trung tâm Lƣu trữ quốc gia 1, Cục Văn thƣ và Lƣu trữ nhà nƣớc - Bộ Nội vụ), xã An/Yên Thái, bản xác thực của Bộ Lễ triều Nguyễn, tục lệ xã Tiên Hƣơng, do hội đồng chức dịch xã Tiên Hƣơng (trƣớc là An/Yên Thái) lập năm Tự Đức thứ 3 - 1850) chƣa thấy khi nào An/Yên Thái ở đây giữ tƣ cách là một xóm/thôn. Cũng theo Dƣơng Văn Vƣợng: Trần Mại không đề cập tới tiền thân và hậu thân của Mẫu. Tuy nhiên, Đoàn Thị Điểm và em trai của bà là Đoàn Doãn Luân đều là học trò của Trần Mại sau khi ông trí sĩ về hƣu sớm. Đoàn Thị Điểm tiếp thu đƣợc chuyện này đã thêm phần trên dƣới có sự linh dị, làm sống thêm cuộc đời, sự nghiệp thơ văn, hiển thánh ra oai tác phúc….
Tuy nhiên, khi đến Giá Sơn Kiều Oánh Mậu (ngƣời xã Đông Sàng, huyện Phúc Thọ) biên tập lại, có đƣa cho Khiếu Năng Tĩnh xem, sau khắc bản in vào năm Canh Tuất (1910), đã chú trọng đến việc thánh Mẫu chống trọi với quan triều đình nhƣ còn thấy trong tác phẩm này [50, tr. Tiếp theo, dẫn lời của Lý Văn Phức (ngƣời xã Hồ Khẩu, huyện Vĩnh Thuận, đỗ Hƣơng Cống năm Gia Long 18 - 1819), ông để đi đến khẳng định: “Bà Điểm là ngƣời yếu ớt, biết phụng sự chồng, nuôi nấng con cháu, là ngƣời học hành uyên bác nhƣng chẳng dám đi đâu, nên tập biên mã vàng công chúa đã thiếu mất tiền thân và hậu thế” [50, tr. Cũng trong nghiên cứu này, Dƣơng Văn Vƣợng khẳng định: Ông từ Trần Đắc Tuyên, trong một lần ngồi đồng năm Gia Long thứ 15 (1806), đã viết: Ta (Mẫu Liễu) tiền kiếp ở Vỉ Nhuế - Đại An, trung khiếp ở 18 An Thái - Thiên Bản, hậu kiếp ở Tây Mỗ - Nga Sơn, đều có từ 20 đến 40 năm nơi trần thế, việc trinh hiếu là nhân bản không thể thiếu, việc du ngoạn là việc cảnh tỉnh lũ ô trọc, há lại cho là vô bổ, còn việc họa xƣớng ở Tây Hồ là loài hồ yêu mê hoặc không nên gán ghép cho ta… [50, tr. Đó là một chi tiết khá thú vị, để qua đó có thể đặt ra một giả thiết để làm việc là: Phải chăng, trƣớc đây, ngoài mục đích thông linh (con đồng bắc cầu để con ngƣời và thần linh giao tiếp với con ngƣời), “lên đồng phán truyền” còn đƣợc sử dụng với mục đích xây dựng, đắp bồi hành trạng, thân thế của Mẫu và thần linh? Sau khi dẫn thêm tƣ liệu sắc phong, Dƣơng Văn Vƣợng khẳng định: Trong mối quan hệ với Mẫu, ông Lê Công Tiên là bố đẻ và bà Từ Huệ (Trần Thị Phúc) là mẹ đẻ, ông Lê Công Lâm là em ruột, bà Sâm, tức Duy Tiên phu nhân là em dâu, bà Liên tức Quế Anh hay Quế Hoa là cháu.
Về phía chồng, ở xóm Vân Đình (Giáp Nhì) đều có bài vị thờ ở phủ Tiên Hƣơng, mà đời cho là quê chồng mới, là nơi có cửa nhà và nơi gửi xác. Mộ phát tích thì tại xứ Cây Đa Bóng, có mộ cha đẻ tại xứ La Hào (Giáp ba) là mộ tổ tứ đại, còn cồn cây Đa là mộ Mẫu, nơi chôn cất xác phàm, nơi sau này ba chị em họ Lê thuộc hội Đào Chi (Huế) đã xây lăng đá năm Mậu Dần (1938) [50, tr. Cuối cùng, ông đƣa ra nhận định: Có thể nói vị đàn bà mà thời xƣa phong là chúa Liễu, về nguồn gốc là ngƣời thực việc thực, có ba giai đoạn, mà kết hợp lại thì do lời của ông đồng bà cốt, thần thánh hóa uy đức của ngƣời phụ nữ. Về thực chất có ba ngƣời phụ nữ ở ba vùng, lần thì không lấy chồng, lần thì có chồng con, đều nêu cao tính chất nhân từ nhu thuận, treo gƣơng trinh hiếu, mà các quan lại là chồng, là thần thích, nên đã vì vợ, em, ngƣời yêu quý, góp tay xây dựng tô điểm, để bà thành vị nữ thần đệ nhất thời Việt Nam đầy biến cố [50, tr.
Nhƣ vậy, tạm bỏ qua những tiểu tiết, có thể nhận thấy, qua khảo cứu, Dƣơng Văn Vƣợng đã phần nào khẳng định, với Mẫu Liễu, ngoài “hành trạng Thần Tiên”, còn có một “hành trạng thế tục”. Tuy nhiên, một điều đáng tiếc là ông chƣa khai 19 thác nguồn tƣ liệu sắc phong để củng cố cho nhận định này. Vậy có hay không một motif hành trạng Mẫu, vốn từ ngƣời thực chết thiêng, sau đƣợc huyền thoại hóa để mang những yếu tố thần kỳ. Và, phải chăng, đây là một xu hƣớng “thần thánh hóa” con ngƣời bên cạnh xu hƣớng nhân hóa thần linh trong tín ngƣỡng truyền thống Việt? Đó là những câu hỏi nhỏ cũng đƣợc nghiên cứu sinh đặt ra và thử tìm câu trả lời trong luận án này? Trong Luận văn thạc sĩ Hán Nôm, Đại học Quốc gia Hà Nội, với đề tài Văn bản Truyền kỳ tân phả và mối quan hệ với các thần tích, bảo vệ thành công năm 2011, Lê Tùng Lâm đã rất dày công điểm lại lịch sử nghiên cứu và dịch thuật Truyền kỳ tân phả, trong đó có truyện Vân Cát Thần nữ.
Qua đó, một số vấn đề văn bản và truyền bản văn bản này đã đƣợc làm rõ. Với thao tác tập hợp tƣ liệu theo thiên hƣớng khảo cứu, bƣớc đầu tác giả đã thống kê đƣợc 29 văn bản thần tích liên quan tới Vân Cát Thần nữ. Sau phân tích văn bản, tác giả đã khái quát về hình tƣợng và hành trạng của Thánh Mẫu Liễu Hạnh qua Truyền kỳ Tân phả và các bản thần tích dƣới các góc độ: danh hiệu, tên trên thiên đình, tục danh và sự giáng sinh, thần hiệu, ngày sinh và ngày mất, quê hƣơng, bố mẹ, anh em, chồng con… và đƣa ra một nhận xét khá thú vị là: Đoàn Thị Điểm đã thu thập nhiều tích truyện trong dân gian để viết nên Vân Cát Thần nữ theo motip tài tử giai nhân. Truyện có sức lan tỏa mạnh mẽ, khi thâm nhập vào khắp các miền quê lại có thay đổi ít nhiều cho phù hợp điều kiện mới.
Và, để thống nhất thần quyền, cầu cho vận nƣớc dài lâu, triều đĩnh đã ban sắc, dựng đền đƣa vào hàng quốc tế. Theo đó, ảnh hƣởng của tín ngƣỡng thờ Mẫu ngày càng lớn mạnh… [37]. Tuy nhiên, một điều đáng tiếc, là khi khảo văn bản Vân Cát thần nữ lục và tham khảo các bản dịch trƣớc đó, cách diễn giải “truyền thống” vô tình vẫn bóp méo sự thật lịch sử vẫn chƣa đƣợc phát lộ, nên trong các diễn giải về đất giáng sinh của Mẫu Liễu Hạnh vẫn đƣợc cho là ở Thôn/làng An Thái, thuộc xã Vân Cát, trong khi trong cấu trúc câu “An Thái Vân Cát Thiên Bản chi danh hƣơng…, về quan hệ địa chính giữa Vân Cát và An Thái tại thời điểm định bản Vân Cát Thần nữ lục trong Truyền kỳ tân phả khắc năm Gia Long 10 (1811) thì Vân Cát chính là một thôn của xã An Thái. Trong khi đó, nhiều bản thần tích liên quan do chính tác giả công bố trong phụ lục lại mô tả 20 đúng, là khi ấy, thôn Vân Cát, thuộc xã An Thái.
Và, sự kiện một số văn bản ghi năm Gia Long thứ 4 (1805) xã An Thái đƣợc đổi tên thành xã Tiên Hƣơng cũng mặc nhiên đƣợc thừa nhận nhƣng trong khi thực tế đây là câu chuyện lịch sử vào cuối thờ Thiệu Trị - đầu thời Tự Đức. Về vấn đề này, nghiên cứu sinh xin đƣợc làm rõ trong chƣơng 3 khi đề cập đến biến đổi địa chính khu vực Kẻ Giày trong lịch sử. Một điểm đóng góp đáng kể nữa của luận văn này là tác giả đã công bố khá nhiều bản dịch dị bản truyện Vân Cát Thần nữ, trong đó có Nội Đạo tràng và các bản thần tích: AE.A2/48, ghi Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh từ thời Lý… [37]. Có lẽ, một tác giả có công lớn nhất trong việc đặt tiền đề khai phá tìm hiểu Tín ngưỡng thờ Mẫu (tác giả công trình này gọi là Đạo Mẫu) ở Việt Nam qua tƣ liwwuj Hán Nôm, phải kể đến là thạc sĩ Đinh Thị Lệ Huyền, với luận văn thạc sĩ Hán Nôm mang tên Đạo Mẫu từ nguồn tư liệu Hán Nôm, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, bảo vệ thành công năm 2007.
Đây là công trình có đóng góp về khía cạnh tập hợp, chỉ dẫn tƣ liệu Hán Nôm và khảo cứu dị bản các văn bản liên quan tới tục thờ Mẫu trên phạm vi cả nƣớc. Qua khảo sát tƣ liệu, tác giả đã thống kê (dù chỉ qua sách thƣ mục) đƣợc 85 đầu mục tƣ liệu Hán Nôm liên quan tới tín ngƣỡng thờ Mẫu nói chung qua Thư mục đề yếu, kèm theo các thông cơ bản về tên văn bản, ký hiệu, niên đại, tác giả, ngôn ngữ nội dung (khái lƣợc) và ghi chú. Riêng với nhóm thần tích, tác giả cũng đã thống kê đƣợc 31 đơn vị tài liệu, với các thông tin cơ bản về tên văn bản, ký hiệu, hiệu duệ tôn thần, niên đại và tác giả, địa danh lƣu trữ thần tích và ghi chú về số tờ, văn tự đƣợc thể hiện trên văn bản. Đáng chú ý, công trình này đã công bố danh mục 220 bản khai thần tích - thần sắc của các chức dịch làng xã kê khai năm 1938, hiện đang lƣu tại Viện Thông tin khoa học xã hội, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, với các thông tin khái quát về số đăng ký, nơi có thần tích và sắc phong, duệ hiệu tôn thần, số lƣợng, số ký hiệu [36].
Qua các tổng hợp phân tích văn bản, phân loại văn bản theo nhóm loại hình, tác giả đã đƣa ra một số nhận xét về lịch sử văn hóa rất đáng lƣu tâm, cụ thể: - Về thời gian, quá trình văn bản hóa truyền thuyết về Mẫu ở nƣớc ta đƣợc bắt đầu từ thời Lê Trung hƣng, dƣới thời vua Lê Anh Tông (1571 - 1573), sau đƣợc kế tục qua các triều đại sau.