Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9229040) với đề tài "Tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày qua tư liệu Hán Nôm" do nghiên cứu sinh Nguyễn Đạt Thức thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Kiều Thu Hoạch, bảo vệ tại Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam năm 2020.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, sau khi thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2016, các công trình nghiên cứu về chủ đề này xuất hiện với số lượng lớn. Tuy nhiên, phần lớn các công trình trước đó chủ yếu tiếp cận dưới góc độ văn hóa dân gian, nhân học hoặc xem tư liệu Hán Nôm như nguồn tài liệu tham khảo phụ trợ mà chưa có công trình nào tập hợp, khảo cứu toàn diện nguồn tư liệu văn tự Hán Nôm để nhận diện tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày dưới góc nhìn văn hóa học. Những vấn đề về lịch sử địa chính Kẻ Giày, mối quan hệ giữa hai làng Vân Cát và Tiên Hương, tước hiệu và danh xưng phủ Giày, cấu trúc Tam phủ - Tứ phủ, Tam tòa Tứ phủ cũng như vai trò của Mẫu Liễu Hạnh trong hệ thần còn tồn tại nhiều điểm chưa được giải đáp trên cơ sở văn bản học.
Mục đích nghiên cứu của luận án là thông qua việc khai thác giá trị nguồn tư liệu Hán Nôm gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày, đặt trong không gian văn hóa Kẻ Giày và môi cảnh chung của tín ngưỡng Mẫu Tam phủ, Tứ phủ để tái hiện lịch sử địa chính - văn hóa khu vực phủ Giày; nhận diện diện mạo tín ngưỡng này trước năm 1945 trên các bình diện hệ thần, thần điện, không gian và thực hành tín ngưỡng.
Nội dung nghiên cứu tập trung giải quyết 5 câu hỏi cụ thể được đánh số trong văn bản:
- Tư liệu Hán Nôm có giá trị gì trong lịch sử hình thành và phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày?
- Di sản tư liệu Hán Nôm gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày có tác dụng gì trong việc nghiên cứu văn hóa tín ngưỡng này trong bối cảnh hiện nay?
- Thông qua tư liệu Hán Nôm liên quan, lịch sử địa chính và văn hóa khu vực Kẻ Giày quanh tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh được phản ánh chân thực ra sao?
- Thông qua tư liệu Hán Nôm liên quan, các phương diện văn hóa cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày trước năm 1945 được nhận diện như thế nào?
- Có thể thông qua nghiên cứu tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ để làm sáng tỏ những vấn đề gì liên quan?
Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở khu vực phủ Giày qua tư liệu Hán Nôm từ góc nhìn văn hóa học.
- Phạm vi không gian: Không gian văn hóa Kẻ Giày với vùng lõi là quần thể di tích phủ Giày (thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), có mở rộng so sánh với không gian văn hóa Bắc Bộ.
- Phạm vi thời gian: Khung niên đại từ khi tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày được định hình (khoảng thế kỷ XVI) đến năm 1945 (thời điểm văn tự Hán Nôm kết thúc vai trò là hệ văn tự chính thống).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đi trước theo hai nhóm chính:
Nhóm các nghiên cứu cơ bản về tín ngưỡng thờ Mẫu và khu vực Phủ Giày:
- Luận án Phó tiến sĩ Lịch sử của Nguyễn Minh San (1996) với đề tài "Việc phụng thờ Mẫu Liễu ở phủ Giầy": phác dựng hoạt động văn hóa dân gian tổng thể tại phủ Giầy (truyền thuyết, di tích, điện thần, lễ hội) và xác định phủ Giầy là trung tâm thờ Mẫu lớn nhất; tuy nhiên việc khai thác tư liệu Hán Nôm mới dừng ở mức tài liệu tham khảo, chưa đi sâu vào văn bản học và địa chính.
- Công trình của Trần Quốc Vượng với bài viết "Nguyên lý Mẹ của nền văn hóa Việt Nam" khẳng định bản chất văn hóa truyền thống, cùng công trình khảo cứu địa - lịch sử "Vị thế và bản sắc địa - văn hóa của khu vực phủ Giầy" (viết cùng Nguyễn Hồng Kiên, 2019) và bài báo "Vì sao Vân Cát - Tiên Hương là một hồi sau tách đôi và rồi đã đang lần kết đôi?" (2001) nêu giả thuyết về cơ cấu 4 giáp xã Vân Cát tách thành thôn An Thái rồi thành xã độc lập.
- Nghiên cứu của Cao Xuân Hạo, Trần Thúy Anh và Trần Quốc Vượng về địa danh "Về tên đất Kẻ Giầy, phủ Giầy", đưa ra giả thuyết ngữ âm học cho rằng Kẻ Giầy bắt nguồn từ Kẻ Trần (vùng đất của dòng họ Trần).
- Nghiên cứu của Đinh Gia Khánh ("Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian ở Việt Nam", 2019) phân tích hình tượng Mẫu Liễu Hạnh đưa thần linh về gần gũi với đời thường.
- Hệ thống công trình của Ngô Đức Thịnh ("Đạo Mẫu Việt Nam", 2019) khái quát tiến trình phát triển từ Nữ thần, Mẫu thần đến Tam phủ, Tứ phủ và xác định Đạo Mẫu là một biến thể của Đạo giáo Việt Nam.
- Các công trình của Kiều Thu Hoạch ("Đối thoại với Hát Văn và Hầu đồng", "Tiếp cận thực hành tín ngưỡng Tam phủ của người Việt từ góc nhìn lịch sử", 2019) chứng minh tín ngưỡng thờ Mẫu thuộc loại hình tín ngưỡng Vu Hích (Đồng Cốt), có nguồn gốc từ tục Việt vu, trong đó Mẫu Liễu Hạnh mang vai trò nữ vu.
- Công trình khảo cứu của Olga Dror (Cult, Culture and Authority Princess Liễu Hạnh in Vietnamese History) xác định thế kỷ XVI là mốc thời gian định hình tín ngưỡng Mẫu Liễu Hạnh và phân tích đặc trưng giới nữ.
Nhóm các công trình sưu tầm, tập hợp tư liệu Hán Nôm:
- Bộ sách 4 tập do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định và Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam biên soạn (2017-2019), gồm: Tuyển tập những bài hát văn (225 bản văn chầu), Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt qua Tư liệu Hán Nôm (tập hợp sắc phong, văn bia, thần tích tại Nam Định do Dương Văn Vượng, Trần Việt Anh, Nguyễn Xuân Cao khảo cứu), Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt - Những công trình nghiên cứu (tổng hợp 658 tài liệu), và tập dịch các công trình nước ngoài.
- Luận văn thạc sĩ của Đinh Thị Lệ Huyền (2007) về Đạo Mẫu từ nguồn tư liệu Hán Nôm (thống kê 85 đầu sách Hán Nôm, 31 thần tích và 220 bản khai thần tích năm 1938).
- Luận văn thạc sĩ của Lê Tùng Lâm (2011) về Văn bản Truyền kỳ tân phả và mối quan hệ với các thần tích (khảo sát 29 dị bản thần tích liên quan đến truyện Vân Cát Thần nữ).
- Các nghiên cứu về văn bản giáng bút của Trần Quang Huy, Nguyễn Thị Hiền, và ấn phẩm Thánh Mẫu linh thiêm của Olivier Tessier, Phạm Văn Ánh, Nguyễn Thị Hiệp.
Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: tập hợp một cách có hệ thống nguồn văn bản Hán Nôm (gồm thần tích, thần sắc, văn bia, phả lục, kinh giáng bút, văn chầu, địa bạ, tục lệ) để giám định văn bản học, hiệu chỉnh các sai lệch về lịch sử địa chính Kẻ Giày (quan hệ xã Vân Cát - xã An Thái/Tiên Hương), đồng thời vận dụng lý thuyết văn hóa học để phân tích cấu trúc điện thần, cơ chế phụng thờ và thực hành tín ngưỡng trước năm 1945.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung lý thuyết dựa trên sự kết hợp giữa các quan điểm lý luận văn hóa và tôn giáo học:
- Lý thuyết địa - văn hóa và Nguyên lý Mẹ: Tiếp thu quan điểm của GS. Trần Quốc Vượng về mối liên hệ giữa không gian địa lý tự nhiên với tiến trình lịch sử văn hóa bản địa.
- Lý thuyết tiến hóa luận và nhân học sinh thái: Dựa trên mô hình nghiên cứu của Julian Steward về mối quan hệ thích ứng giữa con người, kỹ thuật và môi trường sinh thái để biện giải về quá trình hình thành hệ thần Tam phủ, Tứ phủ (Thiên, Địa/Nhạc, Thủy).
- Nhân học giải thích (Interpretive Anthropology): Ứng dụng quan điểm của Clifford Geertz với phương pháp "miêu tả sâu" (thick description) và khái niệm "tri thức bản địa" (Local Knowledge), xem xét từng trường hợp văn bản và nghi thức cụ thể để giải mã ý nghĩa văn hóa từ nhận thức của chính chủ thể bản địa.
- Lý thuyết xã hội học về tôn giáo của nữ giới và vai trò giới: Tiếp cận tín ngưỡng thờ Mẫu như một hình thái tôn giáo phi chính thức, nơi người phụ nữ khẳng định vai trò xã hội và căn tính giới trước sự áp chế của các định chế tôn giáo - chính trị phụ quyền thời quân chủ.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng hai hướng tiếp cận nền tảng:
- Phương pháp văn bản học (Textology): Vận dụng lý luận phê phán văn bản (tiếp thu từ trường phái văn bản học của D. S. Likhatsov và phương pháp bản bản học truyền thống) để giám định, phân loại, phân tích dị bản, đối chiếu niên đại của các tài liệu Hán Nôm. Tác giả chọn bản in Vân Cát Thần nữ truyện trong tập Truyền kỳ tân phả do Lạc Thiện đường khắc in năm Gia Long thứ 10 (1811) làm văn bản nền để đối sánh.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành văn hóa học: Kết hợp các thao tác của sử học (khảo chứng địa bạ, biên niên sử), ngôn ngữ học (ngữ âm học lịch sử giải nghĩa địa danh), tôn giáo học và nhân học văn hóa.
Về nguồn tư liệu thực chứng, luận án khai thác các khối tư liệu:
- Khối tài liệu tại Viện Thông tin Khoa học xã hội: 13.211 bản khai thần tích - thần sắc lập năm 1938.
- Khối tài liệu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm: 170 đầu tư liệu thuộc Thư mục đề yếu và bộ Bổ di.
- Khối tài liệu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam: các bản kinh giáng bút, linh thiêm, truyện tích đã số hóa.
- Khối tư liệu thực địa: Văn khắc trên đá (bi ký), chuông đồng, hoành phi, câu đối, gia phả và 14 đạo sắc phong tại các di tích thuộc quần thể Phủ Giày (Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát, Lăng Mẫu, Đền Cây Đa Bóng).
Song song đó, luận án tiến hành xác lập hệ thống khái niệm công cụ dựa trên ngữ nghĩa văn tự Hán Nôm:
- Đồng, Cốt, Bóng: Dẫn giải từ Khảo đồng sự ký, Ấu học tầm nguyên, Khang Hy tự điển; xác định nam làm đồng gọi là Vu (ông Bóng), nữ gọi là Hích (bà Cốt, bà Bóng), phản ánh hình thái tín ngưỡng Vu Hích truyền thống.
- Chính tự (正祀) và Dâm tự (淫祀): Khái niệm gắn liền với Tự điển (Điển thờ tự) của nhà nước phong kiến. "Chính tự" chỉ hoạt động thờ tự hợp pháp của các "chính thần" được triều đình cấp sắc phong và đưa vào điển chế quản giám bách thần; đối lập với "dâm tự" là nơi thờ tự các "dâm thần" chưa được thừa nhận hoặc nằm ngoài điển chế.
- Phủ (府): Vừa chỉ đơn vị không gian địa vực theo vũ trụ quan dân gian (Thiên phủ, Địa phủ, Thủy phủ, Nhạc phủ), vừa là danh xưng tôn kính dành cho đền chính thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh theo ghi nhận trong Nội đạo tràng và Khảo đồng sự ký.
- Tam phủ, Tứ phủ: Khái niệm phân chia các miền thế giới tâm linh thành 3 cõi (Thiên, Nhạc, Thủy) hoặc 4 cõi (Thiên, Địa, Thủy, Nhạc/Dương phủ).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về lịch sử nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 1 (29 trang) tổng thuật toàn diện lịch sử nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh và khu vực Phủ Giày từ các nghiên cứu cơ bản đến các công trình sưu tầm, biên dịch văn bản Hán Nôm. Tác giả phân tích các luận điểm của Nguyễn Minh San, Trần Quốc Vượng, Ngô Đức Thịnh, Kiều Thu Hoạch, Olga Dror; đồng thời chỉ ra các hạn chế trong việc giám định văn bản học của một số học giả đi trước (như việc nhầm lẫn cấu trúc hành chính giữa làng Vân Cát và làng An Thái trong các bản dịch cũ). Chương này cũng hoàn thiện việc xây dựng khung lý thuyết liên ngành (Văn bản học, Địa - văn hóa, Nhân học sinh thái, Nhân học giải thích, Giới trong tôn giáo) và xác lập các khái niệm chuyên ngành căn bản (Chính tự, Dâm tự, Phủ, Đồng, Cốt, Bóng, Tam phủ, Tứ phủ).
Chương 2: Tư liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ
Chương 2 (45 trang) trình bày kết quả điều tra, thống kê và phân loại nguồn tư liệu Hán Nôm tại các cơ quan lưu trữ trung ương và tại thực địa di tích.
Tại Viện Thông tin Khoa học xã hội, qua khảo sát bộ sưu tập bản khai thần tích - thần sắc năm 1938, tác giả lập danh mục 206 làng xã thuộc 21 tỉnh/thành phố thời Nguyễn có thờ cúng Mẫu Liễu Hạnh và hệ thống Tam phủ, Tứ phủ. Số liệu phân bố cụ thể:
| STT |
Địa phương (tên tỉnh trước 1945) |
Số lượng làng xã thờ Mẫu |
| 1 |
Nam Định |
49 |
| 2 |
Hà Nam |
41 |
| 3 |
Ninh Bình |
35 |
| 4 |
Hải Dương |
14 |
| 5 |
Thái Bình |
11 |
| 6 |
Phú Thọ |
8 |
| 7 |
Hà Nội |
5 |
| 8 |
Quảng Yên |
5 |
| 9 |
Yên Bái |
4 |
| 10 |
Hưng Yên |
4 |
| 11 |
Bắc Ninh |
4 |
| 12 |
Thái Nguyên |
3 |
| 13 |
Hà Tĩnh |
2 |
| 14 |
Nghệ An |
2 |
| 15 |
Các tỉnh khác (Bắc Giang, Hải Phòng, Lào Cai, Sơn Tây, Thanh Hóa, Tuyên Quang, Hà Đông) |
18 (mỗi nơi từ 1 đến vài làng) |
| Tổng cộng |
21 tỉnh / thành phố |
206 làng xã |
Trong 206 làng xã này, có 185 làng tôn thờ Mẫu Liễu Hạnh làm thần chủ; 151 làng tôn thờ bà với tư cách thiên thần, 30 làng tôn thờ với tư cách nhân thần và 03 làng tôn thờ bà làm Thành hoàng làng (Hàn Mặc, thôn Hạ/Thứ Nhất ở Hà Nam, và làng Lao Kay ở Lào Cai).
Tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tác giả thống kê 170 đầu tài liệu liên quan đến Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, phân chia theo loại hình văn bản:
| STT |
Loại hình văn bản Hán Nôm |
Số lượng văn bản |
Tỷ lệ (%) |
| 1 |
Giáng bút (44 kinh giáng bút, 12 thơ văn giáng bút) |
56 |
32,94% |
| 2 |
Thần tích |
60 |
35,29% |
| 3 |
Thần sắc (sách chép thần sắc) |
17 |
10,00% |
| 4 |
Loại hình khác (địa chí, ký lục, thi tập, tục lệ...) |
18 |
10,59% |
| 5 |
Văn chầu (hát văn) |
8 |
4,71% |
| 6 |
Phả lục (Truyền kỳ tân phả, ngọc phả...) |
7 |
4,12% |
| 7 |
Khảo cứu (Thiên Tiên truyện khảo, Khảo đồng sự ký...) |
2 |
1,18% |
| 8 |
Công văn |
1 |
0,59% |
| 9 |
Linh thiêm (quẻ bói thẻ) |
1 |
0,59% |
| Tổng cộng |
9 nhóm loại hình |
170 văn bản |
100,00% |
Về mặt văn tự, trong 170 tài liệu này có: 99 bản chữ Hán (58,23%), 28 bản chữ Nôm (16,47%), 24 bản Nôm xen Hán (14,12%) và 19 bản Hán xen Nôm (11,17%). Phần lớn văn bản được định bản hoặc sao chép trong giai đoạn thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX.
Tại thực địa quần thể Phủ Giày, chương 2 tổng thuật hệ thống văn bia, hoành phi, câu đối và 14 đạo sắc phong (từ niên hiệu Vĩnh Khánh 2 - 1730 đến Khải Định 9 - 1924) lưu giữ tại Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát, Lăng Mẫu, khẳng định tính chính thống và quy mô phụng thờ của di tích.
Chương 3: Nhận diện tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày qua tư liệu Hán Nôm
Chương 3 (44 trang) tập trung phục dựng diện mạo lịch sử - văn hóa của tín ngưỡng tại Phủ Giày trước năm 1945:
- Lịch sử địa chính và không gian văn hóa Kẻ Giày: Qua khảo chứng các nguồn tài liệu gốc (địa bạ lập năm Gia Long thứ 4 - 1805, các bản xác thực của Bộ Lễ triều Nguyễn, bản tục lệ xã Tiên Hương lập năm Tự Đức thứ 3 - 1850), tác giả chứng minh mối quan hệ hành chính giữa Vân Cát và An Thái/Tiên Hương. Vân Cát vốn là một thôn thuộc xã An Thái; sau đó An Thái đổi tên thành Tiên Hương vào khoảng cuối thời Thiệu Trị đầu thời Tự Đức (chứ không phải đổi từ năm Gia Long 4 như một số nghiên cứu trước nhận định). Tác giả cũng giải thích tên gọi Kẻ Giày gắn với truyền thống địa danh học dân gian.
- Tam vị Thánh Mẫu phủ Giày qua tư liệu Hán Nôm: Phân tích các tầng lớp truyền thuyết về sự giáng sinh của Mẫu qua 5 hệ thống thuyết: Thuyết Mẫu giáng sinh thời Lý Nam Đế; Thuyết Mẫu giáng sinh thời Lý; Thuyết Vỉ Nhuế (ghi trong Cát thiên tam thế thực lục); Thuyết Kẻ Giày (giáng sinh vào nhà họ Lê); và Thuyết Nội đạo tràng.
- Lịch sử kiến trúc phủ Giày: Khảo tả quá trình hình thành, trùng tu các công trình kiến trúc qua văn bia và bi ký, bao gồm Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát và khu Lăng Mẫu bằng đá (do hội Đào Chi xây dựng năm 1938).
- Hội phủ Giày và các sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng: Miêu tả cơ cấu tổ chức hội lệ tháng Ba âm lịch tại hai trung tâm Phủ Vân Cát và Phủ Tiên Hương qua ghi chép của văn bản Hán Nôm, các hình thức rước thỉnh kinh, kéo chữ (Hoa trượng hội), hát văn hầu đồng và bói thẻ.
Chương 4: Bàn luận thêm về một số vấn đề văn hóa liên quan tới tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ qua tư liệu Hán Nôm
Chương 4 (34 trang) đi sâu thảo luận các vấn đề học thuật mang tính then chốt:
- Khảo chứng văn bản "Vân Cát Thần nữ truyện": Phân tích quá trình văn bản hóa truyền thuyết dân gian thành tác phẩm văn xuôi chữ Hán của Đoàn Thị Điểm trong Truyền kỳ tân phả (được Kiều Oánh Mậu biên tập, Khiếu Năng Tĩnh hiệu đính và khắc in năm 1910). Tác giả chỉ ra ảnh hưởng của mô thức truyện truyền kỳ tài tử - giai nhân đối với việc định hình hình tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh.
- Hành trạng thế tục của Tam vị Thánh Mẫu: Khảo sát mối quan hệ giữa "hành trạng thần tiên" và "hành trạng thế tục" qua bài vị, gia phả họ Trần Lê và sắc phong (ghi nhận các nhân vật trần thế như thân phụ Lê Công Tiên, thân mẫu Từ Huệ Trần Thị Phúc, em trai Lê Công Lâm, chồng Trần Duy Đào). Luận án nhận định đây là quá trình "thần thánh hóa" người thực chết thiêng song hành với xu hướng "nhân hóa" thần linh.
- Vai trò của cộng đồng làng xã: Phân tích vai trò chủ thể sáng tạo, bảo tồn và thực hành tín ngưỡng của cộng đồng cư dân hai làng Vân Cát và Tiên Hương trong lịch sử đối kháng, dung hòa để cùng phụng thờ Mẫu.
- Vấn đề Tam phủ, Tứ phủ và Tam tòa Tứ phủ: Biện giải cấu trúc không gian thần điện từ góc nhìn văn hóa học, lý giải sự chuyển biến và đồng nhất giữa Quan niệm Tam phủ (Thiên, Nhạc, Thủy) và Tứ phủ (Thiên, Địa, Thủy, Nhạc/Dương phủ) trong các nghi thức khoa nghi sớ văn Hán Nôm.
Kết quả và những đóng góp mới
Các kết quả và đóng góp mới được luận án công bố bao gồm:
- Về tư liệu: Khảo sát, tập hợp và hệ thống hóa toàn diện khối tư liệu Hán Nôm hiện có về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Giày và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ tại các viện nghiên cứu trung ương và tại thực địa di tích. Chỉ ra cơ cấu loại hình, giá trị lịch sử - văn hóa và phương pháp khai thác nguồn tài liệu này phục vụ nghiên cứu liên ngành.
- Về mặt lý luận và khái niệm: Chuẩn hóa và làm rõ nội hàm các thuật ngữ, khái niệm liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu dựa trên cứ liệu văn tự Hán Nôm như Chính tự, Dâm tự, Phủ, Đồng, Cốt, Bóng, Tam phủ, Tứ phủ.
- Về lịch sử địa phương và địa chính: Khảo chứng địa bạ và văn bản hành chính để tái lập tiến trình biến đổi địa chính khu vực Kẻ Giày; đính chính sự nhầm lẫn về quan hệ hành chính giữa xã Vân Cát và xã An Thái/Tiên Hương cũng như thời điểm đổi tên xã Tiên Hương trong các công trình nghiên cứu trước đây.
- Về diện mạo tín ngưỡng: Phục dựng một cách hệ thống bức tranh tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh tại Phủ Giày giai đoạn trước năm 1945 trên các phương diện: hệ thống thần điện, không gian kiến trúc, thần tích, sắc phong và các thực hành văn hóa lễ hội.
- Về các vấn đề học thuật chuyên sâu: Biện giải mối quan hệ giữa văn bản học tác phẩm Vân Cát Thần nữ truyện với thần tích dân gian; phân tích cấu trúc nhị nguyên giữa hành trạng thần tiên và hành trạng thế tục của Mẫu Liễu Hạnh; làm sáng tỏ vai trò của cộng đồng làng xã và cơ cấu điện thần Tam phủ, Tứ phủ, Tam tòa Tứ phủ.
Về giải pháp và kiến nghị, luận án đề xuất việc khai thác có phê phán các nguồn tư liệu Hán Nôm trong công tác bảo tồn, tôn tạo di tích và tổ chức lễ hội Phủ Giày đúng với quy chuẩn lịch sử; đồng thời tăng cường số hóa, dịch thuật các văn bản kinh giáng bút, thần tích, sắc phong để phục vụ nghiên cứu văn hóa truyền thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do xác định cách tiếp cận qua nguồn tư liệu Hán Nôm, luận án tự giới hạn khung niên đại nghiên cứu từ khi định hình tín ngưỡng (thế kỷ XVI) đến mốc năm 1945. Mức độ bao quát các khía cạnh phụ thuộc trực tiếp vào độ phản ánh của các văn bản còn tồn tại trong kho lưu trữ và tại di tích, do đó chưa đi sâu khảo sát các biến đổi thực hành tín ngưỡng trong đời sống đương đại sau năm 1945. Về mặt không gian, dù có so sánh với Bắc Bộ nhưng trọng tâm tư liệu thực địa chủ yếu khu biệt tại vùng lõi Phủ Giày (Nam Định).
Hướng nghiên cứu tiếp theo mà tác giả gợi mở là tiếp tục mở rộng phạm vi sưu tầm, đối chiếu tư liệu Hán Nôm tại các trung tâm thờ Mẫu ở miền Trung và miền Nam (như đền Sòng Sơn ở Thanh Hóa, điện Hòn Chén ở Thừa Thiên Huế, phủ Tây Hồ ở Hà Nội); kết hợp tư liệu Hán Nôm với các phương pháp điền dã dân tộc học hiện đại để nghiên cứu sự biến đổi của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ trong bối cảnh đương đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng và lĩnh vực nghiên cứu:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Hán Nôm học, Lịch sử Việt Nam, Tôn giáo học, Nhân học văn hóa và Văn học trung đại.
- Phần đáng tham khảo nhất:
- Hệ thống phụ lục thống kê chi tiết 206 bản khai thần tích - thần sắc năm 1938 tại Viện Thông tin Khoa học xã hội và danh mục 170 tài liệu Hán Nôm tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
- Phương pháp giám định văn bản học áp dụng cho truyện ký truyền kỳ (Truyền kỳ tân phả) và thần tích làng xã.
- Khảo chứng địa bạ để giải quyết các tranh chấp hoặc nhầm lẫn về lịch sử địa chính làng xã.
- Nhà quản lý văn hóa và cán bộ di sản: Cung cấp căn cứ văn bản học phục vụ việc lập hồ sơ di tích, bảo tồn lễ hội truyền thống Phủ Giày và quản lý hoạt động tín ngưỡng thực hành Mẫu Tam phủ.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã thống kê được bao nhiêu tài liệu Hán Nôm về tín ngưỡng thờ Mẫu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện Thông tin Khoa học xã hội?
Tại Viện Thông tin Khoa học xã hội, luận án thống kê được 206 bản khai thần tích - thần sắc năm 1938 của 206 làng xã thuộc 21 tỉnh/thành phố có phụng thờ Mẫu Liễu Hạnh và Mẫu Tam phủ, Tứ phủ. Tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tác giả lập danh mục 170 văn bản Hán Nôm, trong đó thần tích chiếm 60 văn bản (35,29%), giáng bút chiếm 56 văn bản (32,94%), thần sắc chiếm 17 văn bản (10,00%), cùng các loại hình phả lục, văn chầu, công văn, linh thiêm và khảo cứu.
2. Khái niệm "Chính tự" và "Dâm tự" được luận án định nghĩa như thế nào qua tư liệu Hán Nôm?
Theo luận án, "Chính tự" (正祀) là hoạt động thờ tự hợp pháp, chính đáng được triều đình phong kiến công nhận, ghi danh vị thần vào Điển thờ tự (Tự điển) của nhà nước và ban cấp sắc phong; nơi thờ gọi là "chính từ", thần gọi là "chính thần". Ngược lại, "Dâm tự" (淫祀) là hoạt động thờ tự chưa được triều đình thừa nhận, không có tên trong Tự điển; nơi thờ bị coi là "dâm từ" và thần bị coi là "dâm thần".
3. Luận án đã làm rõ điểm nhầm lẫn lịch sử địa chính nào giữa làng Vân Cát và làng Tiên Hương?
Luận án chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây dựa trên cách đọc hiểu cũ cho rằng Mẫu giáng trần ở thôn An Thái thuộc xã Vân Cát và xã An Thái đổi tên thành Tiên Hương từ năm Gia Long thứ 4 (1805). Qua khảo chứng địa bạ năm 1805, bản xác thực của Bộ Lễ và tục lệ xã Tiên Hương năm Tự Đức thứ 3 (1850), tác giả chứng minh thực tế thôn Vân Cát thuộc xã An Thái; và việc đổi tên từ xã An Thái sang xã Tiên Hương diễn ra vào giai đoạn cuối thời Thiệu Trị - đầu thời Tự Đức.
4. Hành trạng thế tục của Mẫu Liễu Hạnh được phản ánh qua các chứng tích Hán Nôm nào tại Phủ Giày?
Hành trạng thế tục của Mẫu được phản ánh qua bài vị thờ tại Phủ Tiên Hương, gia phả dòng họ Trần Lê và các đạo sắc phong, ghi nhận đầy đủ danh tính thân tộc trần thế của bà: phụ thân là Lê Công Tiên, mẫu thân là Trần Thị Phúc (Từ Huệ), đệ tử/em trai là Lê Công Lâm, em dâu là Duy Tiên phu nhân họ Sâm, phu quân là Trần Duy Đào, cùng vị trí mộ phần tại xứ Cây Đa Bóng và mộ tổ tứ đại tại xứ La Hào.
5. Luận án sử dụng bản văn bản nào làm bản nền để khảo chứng tác phẩm "Vân Cát Thần nữ truyện"?
Tác giả kế thừa kết luận văn bản học của học giả Trần Văn Giáp, lựa chọn bản in tác phẩm Vân Cát Thần nữ truyện nằm trong tập Truyền kỳ tân phả do Lạc Thiện đường khắc in vào năm Gia Long thứ 10 (1811) để làm văn bản nền đối sánh với 29 dị bản thần tích và các bản diễn âm chữ Nôm khác.
Kết luận
Luận án "Tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở phủ Giày qua tư liệu Hán Nôm" của Nguyễn Đạt Thức là công trình nghiên cứu chuyên khảo tiếp cận tín ngưỡng thờ Mẫu dưới góc độ kết hợp giữa văn bản học Hán Nôm và lý thuyết văn hóa học liên ngành. Bằng việc giám định, xử lý khối lượng lớn tư liệu văn khắc, thần tích, sắc phong, địa bạ và kinh giáng bút trước năm 1945, tác giả đã giải quyết các vấn đề lịch sử địa chính khu vực Kẻ Giày, phục dựng hệ thống thần điện và làm rõ cấu trúc không gian văn hóa phủ Giày. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở tư liệu chuẩn xác và khung phân tích học thuật phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử tôn giáo, văn bản học Hán Nôm và công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam.