CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Tín ngưỡng Tín ngưỡng là một trong những hiện tượng văn hóa độc đáo thuộc về lĩnh vực tinh thần của con người. Thông qua các hình thức tín ngưỡng góp phần phản ánh niềm tin, ước vọng về cuộc sống con người ở từng khu vực, vùng miền và quốc gia.
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018): “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng”. Theo khái niệm trên có thể thấy, tín ngưỡng là hệ thống niềm tin thể hiện cho nhu cầu của đời sống tinh thần, đời sống tâm linh của con người thông qua các thực hành nghi lễ gắn liền với những phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc, từ đó mang lại cho họ sự bình an và góp phần thể hiện sự phong phú trong đời sống tâm linh con người. Tiếp cận theo khái niệm này cho thấy sự hình thành tín ngưỡng gắn liền mật thiết với bối cảnh văn hóa truyền thống Việt Nam. Tín ngưỡng có thể xem là một hình thức văn hóa phi vật thể góp phần biểu hiện đời sống vật chất, tinh thần của con người Việt Nam.
Bên cạnh đó, các giá trị được thể hiện trong hoạt động tín ngưỡng còn hình thành nên các giá trị truyền thống của văn hóa và tính cách dân tộc, củng cố mối quan hệ cộng đồng thông qua hoạt động tín ngưỡng, từ đó góp phần bảo tồn và làm đa dạng bản sắc văn hóa dân tộc. Thông qua hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng “là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội1”. Là những biểu hiện bằng những hành động cụ thể đối với một hiện tượng siêu nhiên hay một sự vật, một cá nhân liên quan đến cuộc sống thực tại của con người đã được thiêng hóa để cầu mong sự che chở, giúp đỡ trong sinh hoạt đời sống thường ngày và sinh hoạt đời sống tâm linh của họ. Trong chính các sinh hoạt tín ngưỡng, nét độc đáo trong văn hóa sẽ được Theo quy định tại Khoản 2, Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.
1 13 bộc lộ, đó là tính riêng về tín ngưỡng được chi phối với những bối cảnh khác nhau của cộng đồng người về lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội và trình độ hiểu biết của con người. Chính vì vậy, việc tìm hiểu về tín ngưỡng của cộng đồng góp phần nhận diện bối cảnh văn hóa – xã hội mà chủ thể cộng đồng đó đang nắm giữ. Như vậy, có thể thấy tín ngưỡng mang những nét văn hóa riêng biệt tùy thuộc theo dân tộc, vùng miền và các hoạt động tín ngưỡng đều hướng con người đến sự tốt đẹp và bình an trong cuộc sống của cá nhân và cộng đồng, góp phần xây dựng cho sự phong phú và đa dạng trong nét đẹp văn hóa của người Việt. Ngoài ra, tín ngưỡng còn thể hiện vai trò quan trọng khi giúp cộng đồng hướng đến nét đẹp Chân – Thiện – Mỹ, hướng cá nhân đến sự khoan dung, độ lượng và nhân ái cũng như góp phần củng cố tinh thần đoàn kết dân tộc thông qua các hoạt động thực hành tín ngưỡng.
Qua đó, có thể nhận thấy, tín ngưỡng đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh và tinh thần của con người. Trong đó, tín ngưỡng dân gian là một loại hình văn hóa tín ngưỡng, được hình thành và phát triển dựa trên hoạt động sản xuất nông nghiệp tự nhiên của người dân. Tín ngưỡng dân gian Việt Nam được hình thành từ hoạt động sản xuất của con người. Nó không chỉ phản ánh nguyện vọng của con người về một cuộc sống tốt đẹp hơn, mà còn phản ánh trình độ nhận thức của họ về tự nhiên.
Từ buổi hồng hoang của lịch sử, do phương thức sản xuất nông nghiệp lạc hậu, thiên tai, địch họa luôn đe dọa cuộc sống cho nên con người buộc phải tìm hiểu về tự nhiên. Từ đó xuất hiện nhiều loại hình văn hóa, trong đó có tín ngưỡng dân gian. Và không biết từ bao giờ, tín ngưỡng dân gian đã có vai trò tâm linh quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng, được lưu giữ và trao truyền bao đời nay. Cùng với sự khác biệt về địa lý, lịch sử, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng dân gian đã được lưu truyền dưới nhiều hình thức, và mỗi hình thức đó đều đó nét tương đồng về niềm tin vào một thế lực siêu nhiên, cũng như sự khác biệt về đối tượng, hình thức thực hành tín ngưỡng.
Nó không chỉ thỏa mãn nhu cầu tâm linh, hay văn hóa, mà còn góp phần lý giải các hiện tượng tự nhiên, xã hội và con người. Xuất phát từ tín ngưỡng tự nhiên, các đặc điểm của tín ngưỡng thờ Mẫu và tín ngưỡng thờ Bà Cậu thể hiện một số đặc điểm 14 chung trong tư duy nông nghiệp cũng như các đặc điểm riêng gắn với lãnh thổ và cộng đồng mà tác giả tiến hành điền dã. Tín ngưỡng thờ Mẫu Thờ Mẫu từ lâu đã là một hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo phổ biến trong cộng đồng các dân tộc người Việt nói riêng và cư dân sản xuất nông nghiệp lúa nước ở khu vực Đông Nam Á nói chung. Tín ngưỡng thờ mẫu coi trọng quyền năng sáng tạo, sinh sản của người mẹ, lấy hình tượng Mẹ (Mẫu) để tôn thờ, gửi gắm những ước vọng tốt đẹp, sự che chở trong cuộc sống.
Xét về nguồn gốc, tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam được hình thành và phát triển từ tín ngưỡng bản địa thờ Nữ thần và Mẫu thần. Tín ngưỡng thờ Mẫu – Nữ Thần của người Việt vừa mang màu sắc tín ngưỡng nguyên thủy (từng trải qua chế độ mẫu hệ, sống bằng nghề săn bắt, trồng lúa nước) theo thuyết vạn vật hữu linh, vừa ảnh hưởng bởi các tín ngưỡng dân gian kết hợp với tôn giáo (Quán Thế Âm Bồ Tát, Tam Phủ, Tứ Phủ, Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Cửu Thiên Huyền Nữ, Ngũ Hành, …). Đây là dạng tín ngưỡng có nguồn gốc từ văn hóa nông nghiệp. Theo nhận định của Đinh Gia Khánh (1992): “Vì gắn với việc sản sinh ra thóc gạo để nuôi sống con người, cho nên các vị thần ấy thường là Nữ thần”, Tr.
Quá trình hình thành và phát triển tín ngưỡng thờ Mẫu cũng mang tính chất đa chiều. Theo Ngô Đức Thịnh (2010): Trước nhất, đạo Mẫu phát triển trên cái nền thờ Nữ thần, thường gắn với tính quốc gia, như thờ các Vương Mẫu, Quốc Mẫu, Thánh Mẫu, Mẹ Gióng, Mẫu Tây Thiên, Thiên Y A na, Linh Sơn Thánh Mẫu - Bà Đen, Bà Chúa Xứ. Về cơ bản lớp Nữ thần và Mẫu thần mang tính bản địa, nội sinh. Lớp mẫu Tam phủ, Tứ phủ hình thành trên cơ sở lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần và Mẫu thần kết hợp với tiếp thu những ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Hoa.
Đến với vùng đất Nam Bộ, đây là chỗ dựa tinh thần lớn lao cho họ ở vùng đất mới. Theo Nguyễn Phương Thảo (1997): Nền tảng tâm linh của tín ngưỡng thờ Mẫu là ý thức của người nông dân Việt cầu mong ở đất đai mùa màng tươi tốt. Vị thần Đất là vị thần mà người nông dân sáng tạo ra, để họ gửi gắm khát vọng của mình. Vị thần ấy, ngay từ buổi đầu, đã mang một cốt lõi uyên nguyên, mang yếu tố âm, nên thường xuất hiện với dạng Nữ thần.
15 Nói khác đi, tín ngưỡng thờ Mẫu gắn bó mật thiết với người nông dân Việt, nhu cầu tâm linh của người nông dân Việt từ bao đời, Tr. Theo Nguyễn Văn Bốn (2010) Hiện nay, có 3 lớp tín ngưỡng: lớp thờ Nữ thần, lớp thờ Mẫu và lớp thờ Tam phủ, Tứ phủ. Lớp đầu tiên là tín ngưỡng thờ Nữ thần, và trong số các Nữ thần ấy, người ta tôn sùng và thờ cúng phổ biến một số vị, các vị đó được gọi là Mẫu. Như vậy, Nữ thần và Mẫu có sự khác biệt, không phải Nữ thần nào cũng được gọi là Mẫu, nhưng Mẫu được xuất phát từ Nữ thần.
Tại Nam bộ, căn cứ vào danh xưng “Thánh Mẫu” và vị trí được tôn vinh trong tâm thức dân gian, một số nhà khoa học chia thành: Mẫu (Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Xứ, Linh Sơn Thánh Mẫu, Bà Thiên Hậu…) và nữ thần (Bà Ngũ Hành, Bà Thủy, Bà Hỏa, Cô Hồng, Cô Hạnh, Bà Thượng Động…). Tuy nhiên, tại Nam bộ sự phân biệt giữa hai lớp Nữ thần và Mẫu ít rõ ràng hơn so với Bắc Bộ. Tình trạng khó phân lớp này có thể hoàn toàn lý giải được. Theo Dương Hoàng Lộc (2008): Vì Nam bộ là vùng đất mới của người Việt, khi di cư vào đây, họ mang theo các truyền thống tín ngưỡng cũ lại vừa tiếp thu giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước, tạo nên bức tranh không chỉ đa dạng văn hóa nói chung mà còn cả tín ngưỡng nữa.
Đối với người Việt ở Nam bộ, tín ngưỡng thờ Mẫu được gọi là thờ Bà, vì theo quan điểm của họ, gọi Bà vừa tôn kính vừa gần gũi. Trịnh Hoài Đức (1998) đã từng khẳng định: “Họ tin việc đồng bóng, kính trọng nữ thần như bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động (quen gọi người phu nhân tôn kính bằng Bà), Bà Hỏa Tinh, Bà Thủy Long và Cô Hồng, Cô Hạnh v. Theo quan điểm này thì tín ngưỡng thờ Mẫu và Nữ thần là loại hình tín ngưỡng dân gian, tồn tại lâu đời trong đời sống tâm linh của người Việt, gắn với những biểu tượng gần gũi trong cuộc sống. Như vậy, trải qua quá trình dài hình thành và phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu đã thể hiện sự ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh của cộng đồng và vẫn lưu giữ được những giá trị văn hóa, lịch sử sâu sắc.
16 Thứ nhất, tín ngưỡng thờ Mẫu giúp phát huy tinh thần dân tộc. Như tác giả đã đề cập, tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian bản địa và chứa đựng những giá trị nhân văn, bản sắc văn hóa dân tộc, giúp phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử. Cụ thể, cột mốc đánh dấu sự phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam phải kể đến sự xuất hiện của mẹ Âu Cơ cùng với Lạc Long Quân sinh ra bọc “trăm trứng”.