Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam, mã số 9.02) với đề tài "Từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Vũ Văn Khương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Công Đức tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (bảo vệ năm 2020).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Ngôn ngữ và tôn giáo có mối quan hệ tương tác hữu cơ hai chiều; tôn giáo cần ngôn ngữ làm công cụ truyền bá và giải thích giáo lý, ngược lại việc truyền giáo góp phần bảo tồn, định hình và làm phong phú hệ thống từ vựng của ngôn ngữ tiếp nhận. Tại Việt Nam, theo số liệu Tổng cục Thống kê năm 2009, Phật giáo và Công giáo là hai tôn giáo có lượng tín đồ lớn nhất. Dù Công giáo có đóng góp quan trọng trong lịch sử tiếng Việt, đặc biệt là quá trình hình thành chữ Quốc ngữ từ thế kỷ XVII, nhưng việc nghiên cứu ngôn ngữ Công giáo dưới góc độ Ngôn ngữ học hàn lâm trong nước còn rất hạn chế. Phần lớn các công trình trước đây chỉ dừng lại ở các bài viết chuyên biệt, giải thích từ ngữ nội bộ hoặc nghiên cứu gián tiếp qua lịch sử văn tự. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống về từ ngữ Công giáo trong kinh nguyện—vốn là loại hình văn bản vừa mang tính chất thánh thiêng vừa gắn liền với đời sống thực hành đức tin thường nhật—giải quyết khoảng trống nghiên cứu về một lớp từ vựng đặc thù trong tiếng Việt.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích tổng quát của đề tài là xác định, phân loại và làm rõ các đặc điểm của từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam. Cụ thể, luận án xác định 3 mục tiêu:

  1. Tìm hiểu con đường hình thành các từ ngữ Công giáo nghiên cứu, từ đó góp phần xác lập con đường hình thành lớp từ ngữ Công giáo nói chung tại Việt Nam.
  2. Mô tả các đặc điểm ngôn ngữ học (cấu trúc và ngữ nghĩa) của các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam.
  3. Tìm hiểu khả năng hội nhập vào tiếng Việt toàn dân của lớp từ ngữ Công giáo tại Việt Nam thông qua việc nghiên cứu hoạt động của chúng trong một số tác phẩm văn học Việt Nam.

Để thực hiện mục đích trên, luận án triển khai 5 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu từ ngữ Công giáo trong và ngoài nước nói chung, tình hình nghiên cứu từ ngữ Công giáo trong kinh nguyện của các Giáo phận Dòng nói riêng.
  2. Xác lập cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tôn giáo, phân định từ ngữ vay mượn và định vị biệt ngữ trong hệ thống từ vựng.
  3. Khảo sát các đơn vị ngôn ngữ trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam và xác định các đơn vị từ vựng Công giáo.
  4. Phân loại và mô tả các đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa của các đơn vị từ ngữ Công giáo thu thập được.
  5. Khảo sát khả năng hoạt động của lớp từ ngữ Công giáo trong một số sáng tác văn học dân gian (ca dao, tục ngữ) và 12 tác phẩm văn chương Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Lớp từ ngữ Công giáo xuất hiện trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tiếp cận từ góc độ Từ vựng học truyền thống, tập trung khảo sát sự hình thành, con đường tiếp nhận, đặc điểm cấu trúc hình thái, phân loại phạm trù ngữ nghĩa và sự vận động của lớp từ này trong đời sống tiếng Việt.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Không gian nghiên cứu tập trung vào cộng đồng Công giáo thuộc các Giáo phận Dòng tại miền Bắc Việt Nam (gồm 5 giáo phận: Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thái Bình, Lạng Sơn - Cao Bằng). Ngữ liệu kinh nguyện trải dài từ năm 1865 (bản in mộc bản cổ nhất) đến năm 2010.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu từ ngữ Công giáo trên thế giới

Luận án tổng quan các công trình nghiên cứu quốc tế theo ba bình diện chính:

  • Góc độ Từ vựng học truyền thống: Việc giải thích từ ngữ Công giáo xuất hiện từ các Giáo phụ thời sơ khai như Giám mục Ignace thành Antioche đầu thế kỷ II (Thư gửi người Magnesie ghi nhận các thuật ngữ Christophores, Christomathie, Christianisme), Ephrem xứ Syria (306–307), Hilario thành Poitiers (315–367 với De Trinitate), Augustino (Confessio, City of God). Sang thế kỷ XX, Otto Jespersen (1912) trong Sự tăng trưởng và cấu trúc của tiếng Anh đã phân tích nguồn gốc từ vựng Kitô giáo từ tiếng Hy Lạp, La Tinh, tiếng Pháp du nhập vào tiếng Anh; Ayers khảo cứu trong English words from Latin and Greek elements; Chu Văn Tuấn (2000) khảo sát sự biến đổi ngữ nghĩa của từ ngữ Kitô giáo gốc La Tinh khi đi vào tiếng Anh (phân thành nhóm giữ nguyên nghĩa và nhóm thay đổi nét nghĩa).
  • Góc độ Ngôn ngữ học nhân học (Nhân học ngôn ngữ): Khởi nguồn từ Franz Boas, Edward Sapir, Benjamin Lee Whorf, Claude Lévi-Strauss, Emile Benveniste. Robert Mc Crum (1986) trong The Story of English chỉ ra tác động của ngôn ngữ thánh vụ La Tinh trong 500 năm đầu biến tiếng Anh cổ thành tiếng Anh hiện đại, bổ sung hơn 400 từ vựng và năng lực biểu đạt tư duy trừu tượng. Chu Văn Tuấn (2000) trong Nghiên cứu những vấn đề cơ bản Nhân loại học ngôn ngữ phân tích mô hình quan hệ giữa tôn giáo và ngôn ngữ qua các văn bản thánh.
  • Góc độ Ngôn ngữ học xã hội: Einar Haugen (1953) với công trình Tiếng Na Uy ở Hoa Kỳ nghiên cứu biến đổi ngôn ngữ dưới tác động của yếu tố tôn giáo; Joshua A. Fishman (1966) nghiên cứu sự ổn định ngôn ngữ của cộng đồng nhập cư; W. Stewart (1968) xếp chức năng tôn giáo là một trong 10 chức năng ngôn ngữ học xã hội; David Crystal (1966), William Samarin (1976), Charles Ferguson (1982). Năm 2001, John F. Simpson xây dựng lược đồ nghiên cứu ngôn ngữ và tôn giáo qua 6 bình diện (ngữ cảnh tôn giáo, văn bản thánh và bản dịch, ngôn ngữ thiêng và bản thảo, sử dụng ngôn ngữ đặc biệt, niềm tin về ngôn ngữ, nghiên cứu ngôn ngữ học). B. Spolsky (2004, 2006) trong Language Policy và Language Management xác lập mô hình tương tác 4 chiều kích giữa ngôn ngữ và tôn giáo.

Các hướng nghiên cứu từ ngữ Công giáo trong nước

Tại Việt Nam, các nghiên cứu liên quan được luận án điểm lại qua các mảng tư liệu:

  • Từ điển học tiếng Việt và từ điển đa ngữ: Các bộ từ điển tổng quát như Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của, Tân từ điển Việt Nam của Thanh Nghị, Việt Nam từ điển của Hội Khai Trí Tiến Đức, Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê đã thu thập và chú giải các mục từ Công giáo. Các cuốn từ điển cổ song ngữ, đa ngữ ghi nhận nhiều từ vựng Công giáo thời kỳ đầu như Từ điển Việt - Bồ - La của Alexandre de Rhodes (1651), Từ điển An Nam - La Tinh của Taberd (1838), Tiểu từ điển Việt – Pháp của J. Génibrel (1906), Từ điển Việt – Hoa – Pháp của Gustave Hue (1937).
  • Từ điển chuyên ngành Công giáo gần đây: Điển ngữ thần học Thánh Kinh (Giáo hoàng Học viện thánh Pio X Đà Lạt, 1976), Điển ngữ Đức Tin Công giáo (Linh mục Hồng Phúc, 2009), Từ điển Công giáo Anh - Việt (Nguyễn Đình Diễn, 2002), Từ điển Công giáo phổ thông (Linh mục Đặng Xuân Thành chủ biên, 2008), Tìm hiểu từ vựng Công giáo (Linh mục Huỳnh Trụ, 2012), Từ điển Công giáo (Hội đồng Giám mục Việt Nam, 2011, 2016 với 2022 mục từ).
  • Các nghiên cứu chuyên khảo và bài báo khoa học: Chuyên mục của Nữ tu Minh Thùy về khảo sát kinh nguyện qua Từ điển Việt - Bồ - La; diễn đàn giải thích 171 từ cổ trong kinh sách của Nguyễn Kim Binh; các khảo cứu của Nguyễn Cung Thông, Nguyễn Long Thao, Phan Văn Phước, Hoàng Xuân Việt, An Chi, Vũ Văn Khương (2001, 2005, 2006).
  • Nghiên cứu lịch sử chữ Nôm, chữ Quốc ngữ và văn hóa tôn giáo: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Tú Mai (2012) về văn bản của Maiorica; tham luận của Lã Minh Hằng (2013); các công trình của Đỗ Quang Chính, Nguyễn Quốc Dũng (2009), Nguyễn Văn Ngoạn (2012), Nguyễn Hai Tính; các nghiên cứu về văn hóa Công giáo của Lê Đình Bảng (2007), Lê Đức Hạnh, Phạm Huy Thông, Phạm Cao Dương, Chương Thâu, Nguyễn Tài Thư.

Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các công trình trước đây chủ yếu giải thích từ ngữ đơn lẻ, phục vụ việc tra cứu nội bộ, hoặc nghiên cứu gián tiếp phục vụ lịch sử chữ viết. Luận án của Vũ Văn Khương là công trình đầu tiên khảo sát toàn diện, có hệ thống hệ thuật ngữ - biệt ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam trên cả ba phương diện: con đường hình thành và tiếp nhận, đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa, và quy luật thẩm thấu vào tiếng Việt toàn dân.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án vận dụng các lý thuyết ngôn ngữ học:

  1. Lý thuyết về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tôn giáo: Dựa trên luận điểm kinh điển (dẫn chứng từ Tin Mừng Gioan "Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời" và các nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ như bản dịch Kinh Thánh của Ulfilas sang tiếng Gothic thế kỷ IV, Martin Luther sang tiếng Đức, bản King James 1611 sang tiếng Anh, Alexandre de Rhodes đối với chữ Quốc ngữ).
  2. Định vị lớp từ vựng Công giáo: Xét theo nguồn gốc (thuần Việt, ngoại lai gốc Hán, ngoại lai gốc Ấn-Âu từ Do Thái, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, La Tinh, Pháp du nhập từ thế kỷ XVI) và theo phạm vi sử dụng. Luận án định vị từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện là một lớp biệt ngữ xã hội thuộc hệ thống từ vựng tiếng Việt (kế thừa quan điểm phân loại biệt ngữ của Đỗ Hữu Châu, 1981).
  3. Lý thuyết về sự hình thành và phát triển từ vựng tiếng Việt: Vận dụng quan điểm của Nguyễn Thiện Giáp (1998) về 8 con đường làm giàu từ vựng; quan điểm của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1997) về 2 con đường cơ bản (tự tạo từ chất liệu nội tại qua phương thức loại suy, hòa đúc, rút ngắn, ghép âm, chuyển từ loại; và vay mượn qua mượn từ, mượn yếu tố cấu tạo, canke dịch nghĩa) cùng các cơ chế biến đổi ngữ âm, ngữ nghĩa khi Việt hóa.
  4. Lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ và vay mượn từ vựng: Khảo sát 4 phương thức vay mượn chính: dịch nghĩa (canke), phiên âm, chuyển tự và mượn nguyên dạng.
  5. Lý thuyết về từ, ngữ và tổ hợp định danh: Tiếp thu các quan niệm về từ tiếng Việt của Nguyễn Văn Tu (1976), Nguyễn Tài Cẩn (1975), Cao Xuân Hạo (1991), M. B. Emeneau (1951), Nguyễn Thiện Giáp (1998); vận dụng khái niệm "tổ hợp định danh" (dựa trên khái niệm ngữ cố định định danh của Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến, 1997).
  6. Lý thuyết ngữ nghĩa và lý thuyết định danh: Khung phân tích cấu trúc nghĩa của Đỗ Việt Hùng (2013) gồm nghĩa hạt nhân và nghĩa liên hội, các phương thức mở rộng/thu hẹp nghĩa, ẩn dụ và hoán dụ; lý thuyết định danh của Nguyễn Đức Tồn (2002) và sự phân biệt giữa "định danh" (ngữ ngôn) với "đặt tên" (lời nói) của Nguyễn Thiện Giáp (2016).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp các phương pháp và thủ pháp chuyên ngành:

  • Phương pháp khảo sát văn bản: Thu thập, trích xuất và lập danh mục các đơn vị từ ngữ Công giáo xuất hiện trong các văn bản kinh nguyện và tác phẩm văn học.
  • Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Triển khai qua 5 thủ pháp chuyên biệt:
    • Thủ pháp phân tích chức năng: Xác định ý nghĩa của đơn vị từ vựng trong bối cảnh hành chức cụ thể của bản kinh.
    • Thủ pháp phân tích cấu trúc: Làm rõ mô hình cấu tạo của từ đơn, từ ghép và tổ hợp định danh.
    • Thủ pháp phân tích thành tố nghĩa: Khảo sát các nét nghĩa khu biệt trong từng phạm trù ngữ nghĩa.
    • Thủ pháp thống kê và phân loại: Định lượng số lượng, tần số, tỉ lệ phần trăm của các mô hình cấu trúc và nhóm ngữ nghĩa.
    • Thủ pháp phân tích quy chiếu: Kết nối các biểu thức từ ngữ đồng quy chiếu về một thực thể tôn giáo.

Nguồn tư liệu và ngữ liệu nghiên cứu

Ngữ liệu của luận án được khai thác từ hai nguồn văn bản chính:

1. Nguồn ngữ liệu kinh nguyện của các Giáo phận Dòng (9 bản kinh):

STT Kí hiệu La Mã Tên bản kinh Năm xuất bản Nơi xuất bản / Đơn vị ấn hành Số trang
1 I Bản kinh tụng đọc toàn niên 1865 (tái bản 2007) Bản in mộc bản cổ nhất (Lm. Nguyễn Hưng phục nguyên) 413
2 II Toàn Niên Kinh Nguyện Địa Phận Dòng Thánh Đaminh 1953 Nhà Thiện bản Đaminh, Hà Nội 442
3 III Toàn Niên Kinh Nguyện 1956 Giáo phận Bùi Chu (chứa kinh Hội Đồng Kinh 1924) 451
4 IV Sách Kinh Địa Phận Hải Phòng 1958 In tại Hòn Gai 335
5 V Sách Kinh Địa Phận Hải Phòng, Bùi Chu, Thái Bình 1970 Mẫu Tâm thư quán, Gia Định 384
6 VI Sách Kinh Giáo Phận Bùi Chu 1983 Tòa Giám mục Bùi Chu (ĐGM J.M Vũ Duy Nhất imprimatur) 200
7 VII Kinh Bản Công Giáo Giáo Phận Bắc Ninh 1992 Tòa Giám mục Bắc Ninh (GPXB số 54/CXB) 279
8 VIII Toàn Niên Kinh Nguyện Giáo Phận Hải Phòng 2010 Tòa Giám mục Hải Phòng 308
9 IX Sách Kinh Không ghi năm Giáo phận Lạng Sơn – Cao Bằng (bản phôtô nội bộ) 32

Bối cảnh địa hạt: Năm 1679, Giáo phận Đàng Ngoài chia thành Tây Đàng Ngoài và Đông Đàng Ngoài. Năm 1693, Tòa Thánh trao Giáo phận Đông Đàng Ngoài cho Dòng Đa Minh coi sóc, từ đó hình thành các Giáo phận Dòng (gồm Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thái Bình, Lạng Sơn).

2. Nguồn ngữ liệu văn học khảo sát sự hoạt động của từ ngữ (12 tác phẩm):

STT Tên tác phẩm Thể loại Tác giả Kí hiệu viết tắt
1 Dì Hảo Truyện ngắn Nam Cao DH
2 Đời Thừa Truyện ngắn Nam Cao ĐT
3 Nỗi truân chuyên của khách má hồng Truyện ngắn Nam Cao NTC
4 Tư cách mõ Truyện ngắn Nam Cao TCM
5 Bỉ Vỏ Tiểu thuyết Nguyên Hồng BV
6 Một tuổi thơ văn Hồi ký Nguyên Hồng MTTV
7 Những ngày thơ ấu Hồi ký Nguyên Hồng NNTA
8 Cha và con và… Truyện ngắn Nguyễn Khải CVC
9 Đi tìm cái tôi đã mất Tùy bút Nguyễn Khải ĐTCT
10 Nằm vạ Truyện ngắn Nguyễn Khải NV
11 Thời gian của người Truyện ngắn Nguyễn Khải TGCN
12 Xung đột Tiểu thuyết Nguyễn Khải XĐ

Ngoài ra, luận án còn thu thập cứ liệu tục ngữ, ca dao phản ánh tập quán sinh hoạt của người Công giáo (ví dụ: "Lễ Rosa thì tra hạt bí / Lễ Các Thánh thì đánh bí ra", "Lễ Các Thánh gánh mạ đi gieo / Lễ Sinh nhật giật mạ đi cấy").


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận và bối cảnh lịch sử của đề tài:

  • Khảo cứu toàn diện lịch sử nghiên cứu từ ngữ Công giáo trên thế giới (từ thời Giáo phụ đến Ngôn ngữ học nhân học và Ngôn ngữ học xã hội của Einar Haugen, Fishman, Simpson, Spolsky) và tại Việt Nam (qua từ điển học, nghiên cứu chữ Nôm/Quốc ngữ và văn hóa học).
  • Trình bày mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và tôn giáo. Xác lập vị trí của từ ngữ Công giáo trong từ vựng tiếng Việt là lớp biệt ngữ, phân tích đặc trưng nguồn gốc vay mượn sớm (thế kỷ XVI) từ các ngôn ngữ Ấn-Âu (Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, La Tinh) bên cạnh lớp từ gốc Hán và thuần Việt.
  • Hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết về sự tạo từ, tiếp xúc - vay mượn ngôn ngữ, cấu trúc từ - ngữ tiếng Việt, khái niệm tổ hợp định danh, ngữ nghĩa học và lý thuyết định danh.
  • Trình bày sơ lược lịch sử Công giáo tại Việt Nam từ mốc 1533 (ghi nhận trong Khâm Định Sử Việt Thông Giám Cương Mục), các giai đoạn truyền giáo của Dòng Đa Minh, Dòng Tên, sự hình thành chữ Quốc ngữ với Alexandre de Rhodes (1651), và lịch sử phân chia ranh giới địa hạt hình thành các Giáo phận Dòng từ năm 1693.

Chương 2: Con đường hình thành từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam

Chương 2 phân tích các cơ chế tạo lập và tiếp nhận lớp từ ngữ nghiên cứu, được quy về hai con đường chính:

  1. Con đường vay mượn từ ngữ nước ngoài:
    • Lý do và nguồn gốc: Xuất phát từ nhu cầu định danh các khái niệm đức tin, tín lý, phụng vụ mới chưa từng có trong tiếng Việt bản địa. Nguồn ngữ liệu vay mượn chủ yếu từ tiếng La Tinh, tiếng Do Thái, tiếng Hy Lạp, tiếng Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và tiếng Pháp.
    • Cách thức tiếp nhận: Phân tích 4 phương thức vay mượn (dịch nghĩa/canke ngữ nghĩa, phiên âm, chuyển tự, mượn nguyên dạng).
    • Số liệu bảng biểu: Luận án thống kê đối chiếu dịch thuật tại Bảng 2.1: Tỉ lệ các tương đương dịch từ ngữ Công giáo La Tinh – Việt (trang 65 của luận án).
  2. Con đường tự tạo các từ ngữ mới:
    • Dùng hình thức mới để diễn đạt một nghĩa mới: Tạo lập các cấu trúc định danh mới dựa trên quy tắc ngữ pháp và ngữ âm tiếng Việt.
    • Dùng hình thức có sẵn để diễn đạt một nghĩa mới: Sử dụng các từ ngữ bản địa hoặc từ Hán Việt sẵn có và chuyển nghĩa (mở rộng nghĩa, thu hẹp nghĩa, ẩn dụ hóa, hoán dụ hóa) để biểu đạt các khái niệm thần học Công giáo.

Chương 3: Đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa của các từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam

Chương 3 là phần trọng tâm miêu tả hình thái học và ngữ nghĩa học của ngữ liệu khảo sát:

  • Đặc điểm cấu trúc: Phân tích chi tiết 3 mô hình cấu tạo:
    • Từ đơn Công giáo: Khảo sát từ đơn một âm tiết và đa âm tiết; phân loại từ loại (danh từ, động từ, tính từ...) và nguồn gốc thành phần cấu tạo.
    • Từ ghép Công giáo: Khảo sát các kiểu kết hợp ghép đẳng lập, ghép chính phụ.
    • Tổ hợp định danh Công giáo: Phân tích cấu trúc các ngữ định danh nhiều thành tố biểu thị chức danh, phẩm trật, nghi thức, bí tích (ví dụ: Thánh tổng lãnh thiên thần, Vô nhiễm nguyên tội, Bí tích Thánh Tẩy, Đồng công cứu chuộc).
    • Hệ thống bảng thống kê cấu trúc:
      • Bảng 3.1: Tỉ lệ từ ngữ theo cấu tạo (tr. 76).
      • Bảng 3.2: Số lượng từ đơn một âm tiết và từ đơn đa âm tiết (tr. 79).
      • Bảng 3.3: Từ loại của từ đơn Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam (tr. 80).
      • Bảng 3.4: Phân loại từ đơn Công giáo... dưới góc độ nguồn gốc thành phần cấu tạo (tr. 81).
      • Bảng 3.5: Đặc điểm chung của các từ ghép Công giáo... (tr. 82).
  • Đặc điểm ngữ nghĩa:
    • Xác lập các đặc trưng cơ bản làm cơ sở định danh của từ ngữ Công giáo (đặc trưng tri nhận tôn giáo, đặc trưng biểu vật, biểu niệm).
    • Phân loại từ ngữ theo các trường/phạm trù ngữ nghĩa chuyên biệt: thần học, tín lý, phẩm trật chức sắc, phụng vụ - bí tích, đời sống luân lý - tu đức.
    • Thống kê định lượng tại Bảng 3.6: Số lượng và tỉ lệ từ ngữ Công giáo theo phạm trù ngữ nghĩa (trang 104 của luận án).

Chương 4: Từ ngữ Công giáo trong đời sống tiếng Việt

Chương 4 nghiên cứu sự vận động và giao thoa của lớp biệt ngữ này với hệ thống tiếng Việt toàn dân:

  • Quá trình Việt hóa từ ngữ Công giáo vay mượn:
    • Ảnh hưởng về mặt ngữ âm và chữ viết: Sự biến đổi từ các dạng phiên âm cổ (như Phê-lỗ, Bảo-lộc, Đức Chúa Chi Thu, câu rút/câu luật) sang các dạng thức hiện đại (Phê-rô, Phao-lô, Giê-su, thánh giá); quy tắc tương thích ngữ âm tiết tính của tiếng Việt đối với các từ gốc Ấn-Âu.
    • Ảnh hưởng về mặt ngữ nghĩa: Hiện tượng mở rộng nghĩa, chuyển nghĩa, sắc thái hóa nghĩa khi tiếp xúc với văn hóa bản địa.
  • Sự tham gia vào tiếng Việt toàn dân:
    • Qua văn học dân gian: Khảo sát các câu ca dao, tục ngữ phản ánh lịch phụng vụ gắn liền với thời vụ canh tác nông nghiệp của cư dân Đồng bằng Bắc Bộ.
    • Qua văn học viết: Khảo sát hiện tượng "phi biệt ngữ hóa" trong 12 tác phẩm văn xuôi của Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Khải. Phân tích cách thức các từ ngữ tôn giáo xuất hiện trong bối cảnh giao tiếp đời thường, sinh hoạt xã hội từ nông thôn đến thành thị, từ trước 1945 qua các thời kỳ kháng chiến đến thời kỳ Đổi mới.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  1. Luận án khẳng định sự tồn tại khách quan của lớp từ ngữ Công giáo với tư cách là một hệ thống biệt ngữ hoàn chỉnh trong từ vựng tiếng Việt; đồng thời chỉ ra tính khu biệt của hệ thống này so với biệt ngữ của các tôn giáo khác (Phật giáo, Cao Đài, Tin Lành).
  2. Xác lập và làm rõ các con đường hình thành, cơ chế tạo sinh từ vựng (từ đơn, từ ghép, tổ hợp định danh) và quy luật tiếp nhận, Việt hóa lớp từ mượn gốc Ấn-Âu từ thế kỷ XVI đến nay.
  3. Bổ sung nguồn ngữ liệu thực chứng và khung phân tích cụ thể cho chuyên ngành Từ vựng học tiếng Việt và Ngôn ngữ học nhân học/Ngôn ngữ học xã hội về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tôn giáo trong không gian văn hóa Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Đóng góp một công trình nghiên cứu chuyên sâu về mặt ngôn ngữ học trong lĩnh vực tôn giáo tại Việt Nam.
  2. Cung cấp cơ sở khoa học định lượng và ngữ liệu lịch đại (từ năm 1865 đến 2010) phục vụ công tác chuẩn hóa từ ngữ Công giáo tiếng Việt.
  3. Cung cấp dữ liệu định danh và giải nghĩa chính xác giúp xây dựng tập ngữ vựng/từ điển tôn giáo, hỗ trợ các nhà nghiên cứu văn hóa - xã hội, tín hữu và độc giả quan tâm tra cứu, hiểu đúng ngữ nghĩa các bản kinh văn tôn giáo.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Hướng tới việc biên soạn một tập ngữ vựng đối chiếu và chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ - biệt ngữ Công giáo tiếng Việt.
  • Đề xuất sự phối hợp giữa các nhà ngôn ngữ học và các học giả tôn giáo nhằm hiệu chỉnh, thống nhất các dị bản từ ngữ cổ trong các kinh nguyện giữa các giáo phận.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi ngữ liệu kinh nguyện tại các Giáo phận Dòng (khu vực miền Bắc) và 12 tác phẩm văn xuôi của 3 tác giả tiêu biểu. Do giới hạn đề tài, công trình chưa bao quát toàn bộ hệ thống văn bản Thánh Kinh, Thần học, Giáo luật, Phụng vụ và Triết học Công giáo, cũng như chưa khảo sát toàn diện ngữ liệu kinh nguyện tại tất cả 27 giáo phận trên cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các thể loại văn bản khác của Công giáo (văn kiện công đồng, thông điệp mục vụ, sách giáo lý, thánh ca).
    • Nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa biệt ngữ Công giáo miền Bắc (các Giáo phận Dòng) với kinh nguyện và thuật ngữ Công giáo tại miền Trung và miền Nam.
    • Khảo sát sự tiếp nhận và biến đổi của từ ngữ Công giáo trong các tác phẩm văn học đương đại giai đoạn sau Đổi mới và trên truyền thông đa phương tiện.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên ngành Ngôn ngữ học / Việt ngữ học: Khai thác phương pháp tiếp cận cấu trúc - ngữ nghĩa của lớp từ vựng chuyên ngành, phương pháp thống kê mô hình cấu tạo từ và cơ chế Việt hóa từ ngoại lai.
  • Các nhà nghiên cứu Tôn giáo học, Văn hóa học, Lịch sử: Tham khảo bức tranh giao lưu tiếp xúc văn hóa Đông - Tây qua lăng kính ngôn ngữ học và lịch sử hình thành chữ Quốc ngữ tại các Giáo phận Dòng.
  • Các nhà biên soạn từ điển và giới nghiên cứu Công giáo: Sử dụng hệ thống ngữ liệu kinh nguyện lịch đại (1865–2010) và danh mục mục từ đã được bóc tách làm tư liệu chuẩn hóa và biên soạn từ điển chuyên ngành.

Câu hỏi thường gặp

1. "Giáo phận Dòng" trong luận án được hiểu là gì và gồm những giáo phận nào?

"Giáo phận Dòng" là tên gọi lịch sử chỉ các giáo phận bắt nguồn từ Giáo phận Đông Đàng Ngoài, được Tòa Thánh trao cho Dòng Đa Minh (Dominicô) phụ trách truyền giáo từ năm 1693 (phân biệt với Tây Đàng Ngoài là giáo phận Triều do Hội Thừa sai Paris coi sóc). Địa hạt này là cái nôi phát triển mạnh mẽ của Công giáo miền Bắc trước năm 1954, hiện nay bao gồm 5 giáo phận: Hải Phòng, Bùi Chu, Bắc Ninh, Thái Bình và Lạng Sơn – Cao Bằng.

2. Ngữ liệu kinh nguyện cổ nhất được luận án khảo sát là bản nào?

Bản kinh cổ nhất được khảo sát là cuốn Bản kinh tụng đọc toàn niên xuất bản năm 1865 (dày 413 trang, in mộc bản cổ), được Linh mục Nguyễn Hưng phục nguyên năm 2007. Đây là văn bản quan trọng phản ánh hệ thống từ ngữ kinh nguyện thời kỳ đầu trước khi Hội Đồng Kinh hiệu chỉnh năm 1924.

3. Luận án định vị từ ngữ Công giáo thuộc lớp từ vựng nào trong tiếng Việt?

Dưới góc độ từ vựng học truyền thống, luận án định vị từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện là một lớp biệt ngữ (biệt ngữ xã hội/biệt ngữ tôn giáo). Lớp từ này tồn tại song song với các lớp từ khác như từ toàn dân, từ địa phương, thuật ngữ khoa học, tiếng lóng; đồng thời phân biệt với biệt ngữ của các tôn giáo khác như Phật giáo, Tin Lành, Cao Đài.

4. Luận án sử dụng những tác phẩm văn học nào để chứng minh sự tham gia của từ ngữ Công giáo vào tiếng Việt toàn dân?

Luận án khảo sát 12 tác phẩm văn học viết nhằm chứng minh tính "phi biệt ngữ hóa" của từ ngữ Công giáo trong đời thường, gồm: 4 tác phẩm của Nam Cao (Dì Hảo, Đời thừa, Nỗi truân chuyên của khách má hồng, Tư cách mõ); 3 tác phẩm của Nguyên Hồng (Bỉ vỏ, Một tuổi thơ văn, Những ngày thơ ấu); và 5 tác phẩm của Nguyễn Khải (Cha và con và…, Đi tìm cái tôi đã mất, Nằm vạ, Thời gian của người, Xung đột).


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Từ ngữ Công giáo trong các bản kinh nguyện của các Giáo phận Dòng tại Việt Nam" của tác giả Vũ Văn Khương là công trình nghiên cứu hệ thống về lớp biệt ngữ Công giáo trong tiếng Việt từ góc độ Từ vựng học. Dựa trên nguồn ngữ liệu 9 bản kinh nguyện lịch đại (1865–2010) và 12 tác phẩm văn học, công trình đã làm rõ con đường hình thành thông qua vay mượn và tự tạo, phân tích chi tiết các đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa, cùng quy luật Việt hóa và hòa nhập vào vốn từ toàn dân. Kết quả nghiên cứu đóng góp tư liệu thực chứng cho ngành Ngôn ngữ học Việt Nam, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác chuẩn hóa từ ngữ tôn giáo và nghiên cứu văn hóa xã hội.