CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nghi lễ và biểu tượng nghi lễ được đề cập trong các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam Một số công trình nghiên cứu về nghi lễ thế giới bắt đầu từ ngành dân tộc học, nhân học văn hóa, lịch sử và triết học vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã xây dựng nền tảng cơ bản cho nghiên cứu nghi lễ và biểu tượng trong nghi lễ. Một số tác giả tiêu biểu có thể kể đến như Emily Durkheim (1858-1917); Max Weber (1864-1902); Arnold van Gennep (1873-1957); Radcliffe-Brown (1881-1955); Bronislaw Malinowski (1884-1942); Clifford Geertz (1926-200 ),… được xem là những người tiên phong đặt nền tảng cho phong trào tìm hiểu và nghiên cứu nghi lễ và văn hóa tộc người ngoài thế giới Âu Mỹ và cũng là những người đặt nền tảng lý luận đầu tiên cho việc nghiên cứu nghi lễ và biểu tượng thông qua các quan điểm, trường phái lý thuyết khác nhau như: thuyết chức năng, thuyết cấu trúc luận và thuyết đặc thù lịch sử,…Những luận thuyết và quan điểm của các tác giả ít nhiều đã làm sáng tỏ các bình diện cơ bản của nghi lễ, cũng như biểu tượng trong nghi lễ, song cũng gợi mở nhiều nghi vấn và khúc mắc khác, chẳng hạn như tính tương tác hai chiều giữa nghi lễ do các Saman và công chúng tham dự; giữa biểu tượng cốt lõi được sử dụng trong nghi lễ với bối cảnh tâm lý - xã hội thực tiễn thực tiễn cụ thể; vai trò của thần thoại - truyền thuyết với nghi lễ và khả năng sáng tạo sau nghi lễ; cũng như các lớp diễn ngôn qua nghi lễ,…để các nhà nghiên cứu nghi lễ và biểu tượng trong nghi lễ giai đoạn sau này phát triển đến hoàn thiện dưới phong trào hậu cấu trúc - phân tích diễn ngôn tiêu biểu như: Nhóm các công trình The Forest of symbols: aspects of Ndembu Ritual của Victor Turner (1967), nội dung đề cập đến khía cạnh nghi lễ của tộc người Ndembu và The Ritual process: structure and anti-structure (1969), nội dung cho thấy quá trình nghi lễ bao gồm cấu trúc và phản cấu trúc trong việc thực hành.
Bên cạnh đó, tác giả Catherine Bell có hai công trình liên quan đến nghi lễ như Ritual theory ritual practice (1992), trình bày hai nội dung chính đó là lý thuyết nghi lễ và thực hành nghi lễ và Ritual perspectives and dimensions (2009), đề cập các quan điểm và chiều kích của 15 luan an nghi lễ. Ngoài ra, Ronald Grimes có hai công trình liên quan đến nghi lễ đó là Beginnings in ritual studies (1995), đề cập đến bước các khởi đầu trong việc nghiên cứu nghi lễ; quyển sách The craft of ritual studies (2013), trình bày các kỹ xảo cần có trong việc nghiên cứu nghi lễ; song song đó, có quyển Discourse in ritual studies của tác giả Hans Schilderman (2007), nội dung cho thấy tầm quan trọng của diễn ngôn trong nghiên cứu nghi lễ. Đặc biệt, Trường đại học Pittsburg ở bang Pensylvania (Hoa Kỳ) xuất bản đều đặn các bài báo nghiên cứu về nghi lễ đăng trên Journal of Ritual Studies từ năm 1987 đến nay đã ra một diễn đàn học thuật có ý nghĩa, giúp các nhà khoa học trong lĩnh vực này công bố và trao đổi thành quả nghiên cứu, góp phần nâng cao hiệu quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nghi lễ và biểu tượng trong nghi lễ. Bước sang phạm vi nghiên cứu nghi lễ và biểu tượng trong nghi lễ ở Việt Nam, cho đến nay nếu nhìn một cách phổ quát có thể thấy những thành tựu nghiên cứu của một số tác giả có tên tuổi như Ngô Đức Thịnh (1996) với nhiều công trình liên quan đến nghi lễ và biểu tượng trong nghi lễ gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu; bài viết Lễ hội truyền thống trong đời sống xã hội hiện đại của nhóm tác giả Đinh Gia Khánh, Lê Hữu Tầng (1993); quyển sách Goddess on the Rise: Pilgrimage and Popular Religion in Vietnam của Philip Taylor (2004), nội dung đề cập đến quá trình hình thành và phát triển tập tục thờ bà Chúa xứ, các động thái hành hương và sinh hoạt nghi lễ cộng đồng cùng với các diễn ngôn văn hóa ở Nam Bộ.
Ngoài ra, có bài nghiên cứu Thương thảo tái lập và sáng tạo “truyền thống”: Tiến trình tái cấu trúc lễ hội cộng đồng tại một làng Bắc Bộ của nhóm tác giả Lương Văn Hy và Trương Huyền Chi (2012) đề cập đến việc nghiên cứu diễn ngôn trong lễ hội cộng đồng làng Hoài Thị. Bên cạnh đó, một số tác giả khác như Lê Trung Vũ (1992), Mạc Đường (1995), Đặng Nghiêm Vạn (2003), Vũ Ngọc Khánh (2004), Trần Hồng Liên (2004), Phan An (2005), Nguyễn Hồng Dương (2008), Nguyễn Chí Bền (2009), Trần Thị An (2009), Phan Thị Yến Tuyết (2014), Đinh Hồng Hải (2014), Nguyễn Ngọc Thơ (2017), Huỳnh Ngọc Thu (2017)…đã đóng góp nhiều ý tưởng rất quan trọng trong cả vấn đề lý luận và thực tiễn nghiên cứu về nghi lễ và biểu tượng trong nghi lễ ở Việt Nam. Tang thức của người Việt được đề cập trong các công trình bàn về tang ma truyền thống 16 luan an Quyển sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính (1973), nội dung là hệ thống và trình bày các phong tục của người Việt Nam như: phong tục trong gia tộc, phong tục hương đảng, phong tục xã hội. Trong phần phong tục gia tộc, tác giả luận bàn về phong tục tang ma và cải táng.
Ở mục tang ma, tác giả phát biểu rằng: Sự báo hiếu cho cha mẹ ai không muốn hết lòng hết sức. Nhưng cứ như tục ta thì phiền hà quá thể, ăn uống lôi thôi làm cho nhiều người khổ sở vì tục. Vả lại nhiều người khi cha mẹ còn thì bạc thị chẳng ra gì, đến lúc chết lại cúng tế linh đình, kẻ có đã vậy, kẻ không có cũng cố đi vay mượn cầm nhà bán ruộng để trả nợ miệng và lấy thể diện với đời, thực sự là một sự vô ích quá (Phan Kế Bính, 1973, trang 72). Quyển sách Việt Nam văn hoá sử cương của Đào Duy Anh (1992) nội dung mang tính tổng hợp đề cập đến tương đối đầy đủ các sinh hoạt theo phong tục truyền thống của người Việt Nam thông qua: sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt xã hội, sinh hoạt tri thức.
Có thể thấy, quyển sách như cẩm nang tra cứu về văn hóa Việt Nam. Ngoài ra, trong phần sinh hoạt kinh tế - xã hội tác giả có bàn đến phong tục tang ma của người Việt mặc dù chỉ trình bày một số nét cơ bản, song nó cũng giúp luận án có cái nhìn xuyên suốt về tiến trình biến đổi tập quán tang ma người Việt trong lịch sử và hiện nay. Quyển hạ của bộ sách Nếp cũ - tín ngưỡng Việt Nam của Toan Ánh (1992), trong phần nội dung có đề cập đến quy cách đặt bàn thờ, cách cúng bái tổ tiên của người Việt. Đây cũng là một vấn đề liên quan đến đề tài luận án sẽ được chúng tôi đối chiếu trong tang thức tín đồ Công giáo người Việt để thấy được sự hồi sinh văn hóa truyền thống trong việc thực hành tang thức Công giáo trong tiến trình hội nhập từ sau Công đồng Vatican II.
Quyển sách Thuần phong mỹ tục Việt Nam của Sơn Nam (1994), nội dung là tập hợp các phong tục Việt Nam có sự liên hệ mật thiết đến đời người đã được tác giả hệ thống thành “quan, hôn, tang, tế”. Trong phần tập tục tang ma, tác giả đã trình bày khái lược một số nghi lễ và những công việc cần thiết cho một đám tang theo truyền thống người Việt Nam. Đặc biệt, ý nghĩa của các lễ thức trong tang ma sức mạnh của văn hóa truyền thống của người Việt Nam hết sức mạnh mẽ. Thông qua nội dung, có thể thấy rằng nhân sinh quan của người Việt mang màu sắc tôn giáo rõ nét, đặc biệt là 17 luan an ảnh hưởng của “tam giáo đồng nguyên” sẽ được luận án tiếp thu và kế thừa trong nghiên cứu tang thức tín đồ Công giáo người Việt.
Quyển sách Thọ mai gia lễ của Hồ Gia Tân (1995), nội dung sách là tổng hợp các tập tục, lễ thức tang ma truyền thống nói chung của người Việt. Cụ thể, tác giả đã cho thấy diễn trình và các lễ thức cơ bản trong việc tổ chức lễ tang truyền thống của cộng đồng người Việt. Ngoài ra, công trình này không đề cập đến nội dung tang thức của tín đồ Công giáo người Việt ở Việt Nam. Tuy nhiên, nội dung sách được chúng tôi việc kế thừa trong việc đối chiếu từ tập quán đến tín lý Công giáo trong tang ma người Việt là nội dung trọng tâm mà luận án hướng đến.
Quyển sách Gia lễ xưa và nay của Phạm Côn Sơn (199 ), cung cấp cứ liệu làm rõ những khía cạnh ngôn ngữ, lịch sử dân tộc học và văn hóa học giúp hiểu tường tận nguồn gốc, nội dung và ý nghĩa của các tập tục để phân biệt các tập tục có nguồn gốc xuất xứ khác nhau về vùng miền. Tác giả đã trình bày chi tiết về những tập tục cụ thể của người Việt trong hôn nhân, tang lễ, thờ phụng tổ tiên và xu hướng gia lễ thời hiện đại. Ở mục tập tục tang ma, tác giả đã hệ thống quy trình bốn bước của một tang lễ truyền thống đầy đủ các lễ nghi bao gồm: (i) lúc lâm chung; (ii) tiến hành tang lễ; (iii) các thủ tục lễ thức an táng và (vi) các lễ thức trong thời kỳ tang chế. Nhìn chung, nội dung sách không có tính cách biện luận, chỉ là tập hợp những vấn đề cần thiết trong tập quán xưa và nay của người Việt.
Quyển sách Nghi lễ vòng đời người của Lê Trung Vũ (1999), tác giả cho rằng tính cách và tâm hồn người Việt được hình thành từ rất nhiều yếu tố, trong đó vai trò quan trọng thuộc về thuần phong mỹ tục. Những yếu tố tạo nên môi trường văn hóa cuộc sống cho chúng ta từ khi còn trong bụng mẹ cho đến khi tiễn đưa. Tác giả phát biểu rằng: Từ lúc phôi thai chúng ta đã được bao bọc bởi các tập tục, nghi lễ đầy ý nghĩa nhân văn.