phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung Luận án đƣợc chia thành bốn chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò hội đoàn Công giáo đối với đời sống đạo của Công giáo Việt Nam. Chƣơng 3: Hội đoàn đối với đời sống đạo và một số biểu hiện cơ bản. Chƣơng 4: Nhận xét về mối quan hệ của hội đoàn với đời sống đạo, công tác quản lý nhà nƣớc đối với hội đoàn và một số khuyến nghị. 13 C ƣơn 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1.
Một s côn trìn n iên cứu c un về Côn iáo ở Việt Nam Từ những năm 50, 60 của thế kỷ XX đến nay, nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, trong đó có đề cập đến Công giáo nhƣ cuốn “Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam’" của tác giả Nguyễn Hồng (quyển I), năm 1959 nhƣng chỉ trình bày đến cuối thời các giáo s dòng Tên. Cuốn “Việt Nam giáo sử” của tác giả Phan Phát Huồn (2 tập), trình bày khá hệ thống về Công giáo ở Việt Nam, trong đó có giới thiệu về đời sống đạo Cuốn “Thập giá và lưỡi gươm" (Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh 1988) của linh mục Trần Tam Tỉnh đã đề cập đến những vấn đề lớn, cơ bản và phức tạp của Công giáo ở Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến năm 1975, nhƣ: mối quan hệ giữa truyền giáo và chủ ngh a thực dân; chế độ phong kiến trong giáo hội; Công giáo trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh với giám mục Lê Hữu Từ; cuộc di cƣ năm 1954; Công giáo dƣới chế độ cũ Sài Gòn và với vấn đề chiến tranh ở miền Nam; phong trào yêu nƣớc của ngƣời Công giáo; Công giáo ở miền Bắc; Công giáo miền Nam trƣớc và sau ngày giải phóng (30/4/1975). Tác giả kết luận: “Muốn thật sự là Việt Nam, giáo hội cần cởi bỏ hết những biểu thức tôn giáo và văn hóa phát xuất từ não trạng ngoại lai và Tây phƣơng, sáng tạo ra một nền thần học riêng của mình căn cứ trên cuộc sống và văn hóa dân tộc, đồng thời canh tân theo tinh thần Vatican II, hầu có thể đƣa chứng từ về một đấng Kitô giải phóng và hòa giải”. Trong những năm gần đây, việc tìm hiểu Công giáo Việt Nam nói chung, các giáo phận nói riêng đã đƣợc các học giả Công giáo quan tâm hơn.
Tác giả Trƣơng Bá Cần có cuốn “Công giáo Việt Nam sau quá trình 50 năm (1945-1995) ”, phát hành năm 1996 và chủ biên cuốn “Lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam” gồm 2 tập, phát hành năm 2008. Đây là hai công trình đƣợc biên soạn khá công phu, nghiêm túc đề cập đến các giáo phận trong đó có các tổ chức tôn giáo. Cuốn “Giáo hội Công giáo ở Việt Nam” (4 quyển, năm 1998), tác giả Bùi Đức Sinh giới thiệu về sự truyền giáo ở Việt Nam, từ đầu đến năm 2000. Trong 14 tập một, giới thiệu hoạt động truyền giáo của các giáo s dòng Tên ở Đàng Ngoài (từ năm 16271665) và giáo phận Đông Đàng Ngoài dƣới sự cai quản của dòng Đa Minh (từ năm 1676 đến giữa thế kỷ XIX), trong đó có giáo phận Thái Bình.
Tuy soạn theo phong cách lịch sử giáo hội dƣới dang biên niên và các giáo phận nhƣng đã đề cập tới đời sống đạo và tổ chức Công giáo trong đó có hội đoàn. Tác giả Cao Thế Dung với tác phẩm “Việt Nam Công giáo sử tân biên” (3 quyển, 2002), đã đề cập tới hội đoàn nhƣng tản mát và sơ lƣợc. Nhìn chung, các công trình trên đã cung cấp đƣợc nguồn tƣ liệu phong phú, đa dạng nhƣng sơ lƣợc và tản mát về đời sống đạo và hội đoàn Công giáo. Cuốn “Giáo hội Công giáo Việt Nam - Niên giám 2016", ngoài trình bày về lịch sử truyền giáo, liệt kê các giáo phận, giáo xứ, còn giới thiệu về tổ chức điều hành giáo phận, số liệu thống kê, và đặc biệt có nói về các tổ chức hội đoàn Công giáo tiến hành ở Việt Nam.
Cuốn: “Lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam’" (năm 2008) cũng có đề cập tới các lịch sử các giáo phận và tản mát các tổ chức hội đoàn Công giáo. Ngoài ra, còn giới thiệu về cơ cấu nhân sự (các giám mục, linh mục), các dòng tu, cơ sở vật chất, giáo dục từ thiện xã hội của giáo phận cho đến năm 1945 1. Các n iên cứu về ội đo n Côn iáo ở Việt Nam Trong quá trình thu thập dữ liệu nghiên cứu, gồm khảo sát một số điểm và tập hợp các nghiên cứu đã công bố liên quan trực tiếp đến Luận án cho thấy các nghiên cứu về chủ đề này không nhiều. Do đó, với mỗi bài nghiên cứu, nghiên cứu sinh tổng thuật theo hai tuyến nội dung chính liên quan đến luận án là: Những quan niệm, đánh giá của một số tác giả đã nghiên cứu về hội đoàn và xem xét những khía cạnh ảnh hƣởng của hội đoàn Công giáo đến đời sống đạo trong mỗi bài viết.
Nghiên cứu về hội đoàn của các nhà nghiên cứu phải kể đến tác giả Nguyễn Hồng Dƣơng với Hội đoàn Công giáo - Lịch sử và hiện tại, in trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 4/2003 [37, tr. Đây là một bài viết nhìn khái quát về hội đoàn Công giáo. Bài viết cho thấy hình thức sinh hoạt của các hội đoàn Công giáo ở Việt Nam đã có từ rất sớm, với nhiều hình thức và tên gọi khác nhau nhƣ: Hội con Đức Mẹ với mục đích giáo dục, thánh hoá các thiếu nữ; Hội Thánh Thất nhằm giúp các gia đình sống lành mạnh, thánh thiện; Hội Thánh Thể hƣớng tới gia tăng lòng tôn sùng yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể; Hội Các 15 Đẳng nhằm cầu nguyện cho ngƣời qua đời; Hội Thiên Thần hộ thủ: Tập hợp các em trai trong ca đoàn và các em giúp lễ. Bài viết cho biết lịch sử các giai đoạn phát triển của hội đoàn Công giáo với nhiều tên gọi khác nhau nhƣ hội, phƣờng, đạo.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhiều hội đoàn đƣợc Giáo hội lập ra mang màu sắc chính trị. Giai đoạn 1954-1975 nhiều hội đoàn Công giáo ở miền Bắc ngừng hoạt động, trong khi ở miền Nam vẫn phát triển với nhiều hình thức mới. Sau 1975 đến trƣớc Đổi mới nhìn chung ở cả hai miền các hội đoàn Công giáo ngừng hoạt động. Dù vậy ở miền Nam những năm 1978-1980 cũng xuất hiện hình thức sinh hoạt nhƣ hội đoàn hồi trƣớc 1975 nhƣng dƣới danh ngh a các giới.
Chẳng hạn giới Ông, giới Bà, giới Gia trƣởng, giới Thanh niên, giới Thiếu nhi… Tập hợp tín đồ sinh hoạt theo giới là sự linh hoạt trong việc tập hợp tín đồ của các giáo phận Công giáo ở Miền Nam. Sau năm 1990 nhiều hội đoàn cũ đƣợc khôi phục và nhiều hội đoàn mới thành lập tạo ra một bức tranh hội đoàn hết sức phong phú đa dạng. Các loại hội đoàn đƣợc xếp theo chức năng nhƣ: phục vụ cho nghi lễ tôn giáo; học tập giáo lý, nâng đỡ nhau chủ yếu về mặt tinh thần về đời sống đạo; giúp đỡ nhau về nghề nghiệp. Nhìn chung, các hội đoàn đều đƣợc tổ chức chặt chẽ; có hội đoàn là chi nhánh quốc tế; có hội đoàn mang tính chất liên địa phận.
Song, nói chung chỗ dựa và địa bàn hoạt động căn bản của hội đoàn là giáo xứ, giáo họ. Linh mục xứ là ngƣời tập hợp, duy trì, cổ suý cho hoạt động của hội đoàn. Vai trò, uy tín, trình độ của linh mục có ảnh hƣởng rất lớn đến hội đoàn. Về khía cạnh ảnh hưởng tới đời sống đạo, do là bài viết khái quát về lịch sử hội đoàn, nhìn theo tiến trình thời gian, tác giả chỉ nói về các ảnh hƣởng chính trị của một số hội đoàn giai đoạn 1945-1954, nên cũng chƣa tập trung vào việc phân tích các tác động của hội đoàn Công giáo đến đời sống ngƣời giáo dân ở giai đoạn hiện nay.
Tác giải bài viết cũng nhận xét: “Hội đoàn Công giáo là hình thức tập hợp quần chúng tín đồ theo giới, lứa tuổi, nghề nghiệp nhằm phục vụ cho nghi lễ, học tập giáo lý, nâng đỡ nhau về mặt tinh thần về đời sống đạo, giúp đỡ nhau về nghề nghiệp” [37, tr. Ngoài tác giả Nguyễn Hồng Dƣơng in bài về hội đoàn trong Nghiên cứu Tôn giáo năm 2003, đến năm 2004 Viện Nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngƣỡng, 16 thuộc Học Viện Chính Trị Quốc gia Hồ Chí Minh cũng đã triển khai một đề tài cấp bộ về hội đoàn với tựa đề Hội đoàn Công giáo ở một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ nước ta và một số vấn đề đặt ra cho công tác quản lý Nhà nước hiện nay. Đây là một đề tài có cái nhìn bao quát về hội đoàn Công giáo ở một số tỉnh Bắc Bộ. Đề tài tiếp cận hội đoàn từ góc độ nhìn nhận khái niệm, phân loại, chức năng của hội đoàn.
Sau đó đề tài đã khái quát đƣợc thực trạng hoạt động của hội đoàn từ năm 1986 đến trƣớc năm 2004. Đặc biệt nêu ra những tác động đến đời sống xã hội của các hội đoàn Công giáo. Đề tài dành một chƣơng cuối để từ cái nhìn quản lý và góc độ chính trị phân tích các chủ trƣơng và giải pháp trong hoạt động quản lý của Nhà nƣớc đối với các hội đoàn [111]. Tác giả Nguyễn Hồng Dƣơng năm 2012 trong cuốn Một số vấn đề cơ bản của Công giáo Việt Nam hiện nay, nhà xuất bản Từ điển Bách khoa [40, tr.118-128] có bàn đến hội đoàn Công giáo.
Theo tác giả thì thật khó có thể có một bức tranh toàn cảnh về hội đoàn Công giáo hiện nay bởi vì: (1) Hội đoàn là một tổ chức bán quan phƣơng, tức đƣợc giáo hội cho phép khuyến khích tổ chức phát triển nhƣng lại không có một quy định thực hiện thống nhất trên các giáo phận. (2) Hội đoàn đƣợc thành lập hay không là do nhu cầu thực tế của từng giáo xứ. (3) Sự ra đời của hội đoàn tùy thuộc vào quan niệm của từng linh mục quản xứ. (4) Việc ra đời của hội đoàn tùy thuộc vào truyền thống của từng vùng đạo.