Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học với đề tài "Vai trò của hội đoàn Công giáo đối với đời sống đạo ở Việt Nam hiện nay" do nghiên cứu sinh Đào Thị Đượm thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2022), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Hồng Dương và TS. Trần Hữu Hợp.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước, đời sống tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng có những biến chuyển mạnh mẽ. Sinh hoạt tôn giáo tại các vùng đồng bào Công giáo thay đổi nhanh chóng, các ngày lễ như lễ Quan thầy, Giáng sinh, Phục sinh được tổ chức long trọng và quy mô hơn. Tại các giáo xứ, giáo họ xuất hiện ngày càng nhiều các hội đoàn Công giáo, tạo nên không khí sinh hoạt tôn giáo đậm nét, gia tăng sự gắn kết giữa tín hữu với giáo xứ và sự tương tác giữa các thành viên, củng cố đời sống đức tin về mặt luân lý và tổ chức.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu vai trò của hội đoàn đối với đời sống đạo của giáo dân vẫn chưa có công trình tập trung, bài bản, vấn đề vẫn đang bỏ ngỏ. Từ góc độ quản lý, sự phát triển mạnh mẽ của hội đoàn thu hút đông đảo tín đồ ở mọi lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, làm nảy sinh một số vấn đề gây lúng túng cho cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương. Quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đối với việc quản lý hội đoàn còn có cách nhìn nhận khác nhau, các địa phương chưa có sự thống nhất trong quản lý. Về mặt tôn giáo và lịch sử, hoạt động của một số hội đoàn từng có giai đoạn liên quan đến các vấn đề chính trị - xã hội, do đó cần một góc nhìn khoa học, đa diện, khách quan từ cả ba phương diện niềm tin, thực hành nghi lễ và cộng đồng để đưa ra khuyến nghị cho Nhà nước và Giáo hội.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là tìm hiểu vai trò của hội đoàn Công giáo đối với đời sống đạo của người giáo dân Việt Nam trên phương diện niềm tin, thực hành và cộng đồng; qua đó rút ra các nhận xét về vai trò của hội đoàn đối với đời sống đạo và đề xuất khuyến nghị đối với Nhà nước và Giáo hội nhằm phát huy tốt hơn vai trò của hội đoàn trong giai đoạn hiện nay.
Luận án xác định 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tìm ra những điều kiện chủ quan và khách quan để hội đoàn Công giáo tồn tại và phát triển.
- Phân tích các nền tảng Kinh Thánh, thần học và Giáo luật để hội đoàn Công giáo hình thành và phát triển.
- Khảo sát tiến trình hình thành, phát triển và phân loại của hội đoàn Công giáo ở Việt Nam.
- Phân tích những biểu hiện về vai trò của hội đoàn Công giáo đối với đời sống đạo ở Việt Nam.
- Rút ra những nhận xét về đặc điểm, tính chất của mối quan hệ giữa vai trò của hội đoàn với đời sống đạo.
- Đề xuất một số khuyến nghị đối với Nhà nước và Giáo hội nhằm phát huy tốt hơn vai trò của hội đoàn trong giai đoạn hiện nay.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
- Câu hỏi nghiên cứu cơ bản: Hội đoàn Công giáo có vai trò như thế nào đối với đời sống đạo của giáo dân?
- Các câu hỏi nghiên cứu thành phần: Đức tin/niềm tin của người Công giáo đã chi phối như thế nào đến thái độ, hành vi của tín đồ khi tham gia sinh hoạt hội đoàn? Thực hành tôn giáo trong các hội đoàn có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống đạo của người giáo dân? Khi tham gia các hội đoàn với tư cách một tổ chức có thiết chế mang tính cộng đồng sâu sắc thì cộng đồng đó có vai trò như thế nào đến đời sống đạo? Đặc điểm, tính chất của mối quan hệ giữa hội đoàn và đời sống đạo là gì? Những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý về mối quan hệ giữa hội đoàn với đời sống đạo?
- Giả thuyết nghiên cứu: Hội đoàn Công giáo là một dạng tổ chức sinh hoạt tôn giáo theo các cách thức và mục đích khác nhau, giữ vai trò quan trọng đối với đời sống đạo của người Công giáo, nhất là ở khía cạnh luân lý, đạo đức. Hội đoàn không chỉ liên kết các cá thể có chung niềm tin nhằm biểu lộ đức tin qua thực hành nghi thức cụ thể, mà còn tác động chiều sâu tới tâm lý và chu kỳ sinh hoạt theo vòng đời của người Công giáo, tạo nhịp sống đạo liên tục gắn với các bận rộn phụng vụ quanh năm. Sinh hoạt hội đoàn tương tác trở lại với từng cá nhân bằng việc củng cố niềm tin, giúp cách sống đạo trở nên tự nguyện, có chiều sâu hơn và chuyển tải các giá trị Công giáo lan tỏa vào cộng đồng cũng như xã hội bên ngoài.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hội đoàn Công giáo ở Việt Nam, đời sống đạo của giáo dân qua 3 phương diện (niềm tin, thực hành, cộng đồng) và mối quan hệ tương hỗ giữa hội đoàn và đời sống đạo.
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực tế, quan sát tham dự và phỏng vấn sâu tại một số tỉnh, thành phố gồm Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh. Các giáo xứ khảo sát cụ thể gồm: giáo xứ Sa Cát, giáo xứ Thanh Minh (Giáo phận Thái Bình); giáo xứ Kim Lai, giáo xứ Hải Dương, giáo xứ Tân Kim, giáo xứ Trang Quan - Đồng Giới (Giáo phận Hải Phòng); giáo xứ Tân Sa Châu, giáo xứ Bến Cát, giáo xứ Xuân Hiệp, giáo xứ Tắc Rỗi thuộc Giáo hạt Xóm Chiếu (Tổng Giáo phận TP. Hồ Chí Minh). Đề tài tiếp cận định tính, không chọn mẫu làm phiếu điều tra xã hội học định lượng.
- Phạm vi thời gian: Tập trung tìm hiểu từ sau chính sách đổi mới về tôn giáo của Đảng năm 1990 đến năm 2022 (có liên hệ với các giai đoạn lịch sử trước đó).
- Phạm vi nội dung: Vai trò của hội đoàn tới đời sống đạo; biểu hiện, đặc điểm, tính chất của mối quan hệ hội đoàn với đời sống đạo; công tác quản lý nhà nước và khuyến nghị chính sách.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước trong văn bản
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận án được phân tích theo 3 nhóm công trình chính:
-
Các công trình nghiên cứu chung về Công giáo ở Việt Nam:
- Nguyễn Hồng (1959), Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam (quyển I), trình bày lịch sử truyền giáo đến cuối thời kỳ các thừa sai Dòng Tên.
- Phan Phát Huồn, Việt Nam giáo sử (2 tập), trình bày hệ thống về lịch sử và đời sống đạo Công giáo.
- Linh mục Trần Tam Tỉnh (1988), Thập giá và lưỡi gươm, phân tích các mối quan hệ giữa truyền giáo và thực dân, phong trào yêu nước của người Công giáo, Công giáo hai miền trước và sau năm 1975, nhấn mạnh yêu cầu hội nhập văn hóa dân tộc và canh tân theo Công đồng Vatican II.
- Trương Bá Cần (1996), Công giáo Việt Nam sau quá trình 50 năm (1945-1995) và Lịch sử phát triển Công giáo ở Việt Nam (2 tập, 2008), khảo cứu công phu về các giáo phận và các tổ chức tôn giáo.
- Bùi Đức Sinh (1998), Giáo hội Công giáo ở Việt Nam (4 quyển), khảo cứu lịch sử dòng Tên, dòng Đa Minh tại Đàng Ngoài và Đàng Trong, đề cập đến tổ chức và đời sống đạo.
- Cao Thế Dung (2002), Việt Nam Công giáo sử tân biên (3 quyển), đề cập sơ lược và tản mát về các hội đoàn.
- Hội đồng Giám mục Việt Nam (2016), Giáo hội Công giáo Việt Nam - Niên giám 2016, thống kê cơ cấu giáo phận, giáo xứ và các hội đoàn Công giáo tiến hành.
-
Các nghiên cứu chuyên biệt về hội đoàn Công giáo ở Việt Nam:
- Nguyễn Hồng Dương (2003), bài viết "Hội đoàn Công giáo - Lịch sử và hiện tại" trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (số 4/2003), phác thảo lịch sử các hội đoàn (Hội con Đức Mẹ, Hội Thánh Thất, Hội Thánh Thể, Hội Các Đẳng, Hội Thiên Thần hộ thủ), phân tích hoạt động theo giới (Gia trưởng, Bà mẹ, Thanh niên, Thiếu nhi) và sự phục hồi sau năm 1990.
- Nguyễn Hồng Dương (2012), sách Một số vấn đề cơ bản của Công giáo Việt Nam hiện nay, tổng kết 5 đặc trưng của hội đoàn sau năm 1990: bùng nổ số lượng, đa dạng hình thức, phần lớn có xuất xứ trong nước, có tổ chức liên giáo phận, và nảy sinh bất cập do số lượng quá nhiều.
- Viện Nghiên cứu Tôn giáo và Tín ngưỡng - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2004), đề tài cấp bộ Hội đoàn Công giáo ở một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ nước ta và một số vấn đề đặt ra cho công tác quản lý Nhà nước hiện nay, phân tích thực trạng hoạt động từ 1986 đến 2004 và giải pháp quản lý nhà nước.
- Nguyễn Phú Lợi, bài viết "Hội đoàn Công giáo - mấy vấn đề lí luận và thực tiễn ở Việt Nam" trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, luận giải nguồn gốc hội đoàn từ hai bổn phận của giáo dân (phụng tự và truyền giáo), phân chia hội đoàn công và hội đoàn tư.
- Phạm Công Thoan (2001), luận văn thạc sĩ Về các Hội đoàn Công giáo ở Thái Bình, phân loại hội đoàn theo Giáo luật 1983 (công và tư) và theo tính chất hoạt động (thuần túy tôn giáo và liên quan chính trị - xã hội), đánh giá tác động tích cực đến gia đình Công giáo và nêu vấn đề cạnh tranh thu hút quần chúng với đoàn thể địa phương.
- Ban Tôn giáo Chính phủ (2004), Dự án khảo sát những tổ chức tập hợp quần chúng phục vụ lễ nghi và các hoạt động khác của đạo Công giáo ở Việt Nam, những kiến nghị về chủ trương, chính sách, chỉ ra sự thiếu thống nhất trong nhận thức của các cấp chính quyền và phân tích tính chất hai mặt trong hoạt động của hội đoàn.
- Nguyễn Thế Hiệp (2010), bài viết trên Tạp chí Công tác tôn giáo (số 7/2010), nhìn nhận mặt tích cực của hội đoàn trong giáo dục thanh thiếu niên, củng cố gia đình và tham gia phong trào xã hội.
- Hà Xuân Bàn (2014), bài viết "Sự hình thành và phát triển các hội đoàn Công giáo ở Thái Bình" trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (số 6/2014), phân kỳ lịch sử trước 1954, giai đoạn 1954-1990 và giai đoạn bùng nổ sau 1990 với 13 hội đoàn tại Thái Bình (như Hội Trùm cựu, Hội Trung binh).
- Lương Thị Dung (2016), luận văn thạc sĩ Ảnh hưởng của Công giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân tỉnh Ninh Bình.
-
Các nghiên cứu về đời sống đạo của người Công giáo ở Việt Nam:
- Linh mục Nguyễn Hữu Triết (1998), Nền tảng đời sống Kitô hữu, xem xét các chiều kích cá nhân, gia đình, giáo hội, xã hội.
- Linh mục Đỗ Quang Chính, chuyên khảo Hòa mình vào xã hội Việt Nam, phân biệt giữa phạm trù đức tin khó diễn tả và nếp sống đạo biểu hiện qua sinh hoạt thường nhật (thờ Chúa, đọc kinh bổn sớm tối, ăn chay, rước kiệu).
- Linh mục Nguyễn Trọng Viễn (2010), Những căn bệnh trầm kha trong đời sống đức tin Công giáo tại Việt Nam, nêu thực trạng lối sống đạo mô phạm, khép kín, nặng về sinh hoạt bề nổi.
- Linh mục Hồng Phúc (2010), 350 câu hỏi sống đạo và giải đáp; Nguyễn Văn Nội (2005), Gia đình sống đạo; sách dịch Đường sống đạo (1993), Phương thức sống cộng đoàn theo Tân ước (2005); tài liệu Thủ bản tĩnh tâm (1961).
- Đỗ Quang Hưng, bài viết trong sách Sống đạo theo cung cách Việt Nam, bàn về việc đào luyện giáo dân qua sách giáo lý.
- Nguyễn Hồng Dương (2010, chủ biên), Nếp sống đạo của người Công giáo Việt Nam và tác phẩm Công giáo trong văn hóa Việt Nam (2013), phân tích nếp sống đạo qua văn bia, hương ước, các nghi lễ vòng đời (tế tự, cưới xin, tang lễ, phong hóa) và nhận định về lối sống đạo "tự tôn trong thế tự vệ".
- Nguyễn Đức Lộc (2013), Cấu hình xã hội - Cộng đồng Công giáo Bắc di cư tại Nam bộ - từ kích thước cộng đồng đến kích thước cá nhân.
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết
Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận theo hướng lịch sử truyền giáo, mang tính hộ giáo nội bộ, hoặc thuần túy phục vụ yêu cầu quản lý hành chính - chính trị với nguồn dữ liệu trước năm 2004. Các nghiên cứu chưa đi sâu khảo sát thực chứng bằng điền dã để phân tích một cách hệ thống cơ chế tác động tương hỗ giữa hội đoàn và đời sống đạo trên cả 3 chiều kích cấu thành thực thể tôn giáo (niềm tin, thực hành nghi lễ, tính cố kết cộng đồng) từ sau năm 1990 đến nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án vận dụng 3 lý thuyết nền tảng của khoa học xã hội:
- Lý thuyết thực thể tôn giáo: Tiếp cận chủ thể người Công giáo qua 3 khía cạnh: Niềm tin (tinh thần, định hình thái độ và hành vi), Thực hành (sinh hoạt nghi lễ, tạo lập cấu trúc tư duy và nếp sống), và Cộng đồng (thiết chế liên kết, tính vâng phục, hành động tập thể). Lý thuyết này được vận dụng trong Chương 2 (luận giải cơ sở Kinh Thánh, thần học, giáo luật) và Chương 3 (phân tích mối quan hệ tương hỗ với đời sống đạo).
- Lý thuyết cấu trúc chức năng: Tiếp cận tổ chức Giáo hội như một chỉnh thể thống nhất gồm Tòa thánh, giáo phận, giáo hạt, giáo xứ, giáo họ; trong đó hội đoàn là thành tố bán chính thức thực hiện các chức năng củng cố đức tin, thúc đẩy thực hành phụng vụ, tông đồ giáo dân và bác ái xã hội. Lý thuyết này được sử dụng trong phân loại hội đoàn ở Chương 2 và đánh giá tính chất quản lý ở Chương 4.
- Lý thuyết về mô hình truyền thông: Phân tích quy trình truyền thông đức tin gồm chủ thể quảng diễn, đối tượng tiếp nhận, thông điệp và cách thức truyền đạt thông điệp tôn giáo qua hoạt động tập thể của hội đoàn tới cá nhân giáo dân, được vận dụng ở Chương 4.
Hệ thống khái niệm công cụ:
- Công giáo: Thuật ngữ có nguồn gốc tiếng Hy Lạp (katholikos - chung, phổ quát), chỉ Giáo hội giữ niềm tin tông truyền, thờ Chúa Ba Ngôi, tuân thủ giáo lý, giáo luật và nghi lễ Rôma.
- Hội đoàn Công giáo: Tổ chức của Công giáo, thành viên tham gia là giáo dân, hoạt động dưới sự lãnh đạo của hàng giáo phẩm, tham gia vào hoạt động truyền giáo, củng cố đức tin, từ thiện, bác ái nhằm chuyển tải giá trị Công giáo vào đời sống xã hội.
- Tông đồ và Tông đồ giáo dân: Tông đồ là sứ mạng loan báo Tin Mừng và làm cho tinh thần Kitô giáo thấm nhập vào mọi lĩnh vực đời sống. Tông đồ giáo dân là hoạt động tông đồ do giáo dân thực hiện theo đường lối của Giáo hội và liên kết với hàng giáo phẩm.
- Đời sống đạo: Toàn bộ các sinh hoạt tôn giáo của người giáo dân cũng như các hoạt động tôn giáo hướng đích xã hội trong suốt vòng đời dưới giáo huấn của Giáo hội, biểu hiện qua ba khía cạnh: Niềm tin, Thực hành và Cộng đồng.
- Tổ chức tôn giáo trực thuộc: Quy định tại Khoản 13 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, là tổ chức thuộc tổ chức tôn giáo, được thành lập theo hiến chương, điều lệ, quy định của tổ chức tôn giáo (thay thế thuật ngữ "hội đoàn tôn giáo" trong Pháp lệnh năm 2004).
- Phân loại theo Giáo luật 1983: Hiệp hội công (Điều 302), Hiệp hội tư (Điều 299), Hiệp hội giáo dân (Điều 298, Điều 327-329), Dòng ba (Điều 303).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận định tính liên ngành (Tôn giáo học, Sử học, Xã hội học):
- Phân tích tài liệu thứ cấp: Khai thác văn kiện Tòa thánh, văn kiện Giáo hội Việt Nam, tài liệu lưu trữ của các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương và địa phương, các công trình nghiên cứu chuyên ngành.
- Phương pháp phân kỳ lịch sử: Phân đoạn các mốc phát triển của hội đoàn gắn với bối cảnh lịch sử dân tộc (trước 1975, 1975-1990, sau 1990).
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn chức sắc, chức việc, hội viên các hội đoàn và cán bộ làm công tác quản lý tôn giáo tại địa phương.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Phân tích sâu sinh hoạt hội đoàn tại các giáo xứ tiêu biểu ở miền Bắc và miền Nam.
- Phương pháp tôn giáo học: Luận giải nguồn gốc hội đoàn từ nền tảng Kinh Thánh, thần học và giáo luật.
- Tổng hợp, thống kê mô tả và tham vấn chuyên gia: Hệ thống hóa số liệu tổ chức hội đoàn.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Văn bản Kinh Thánh (Tân Ước) và các văn kiện Công đồng Vatican II: Hiến chế Phụng vụ thánh (Sacrosanctum concilium), Hiến chế Tín lý về Giáo hội (Lumen gentium), Sắc lệnh Tông đồ giáo dân (Apostolicam actuositatem), Sắc lệnh Truyền giáo (Ad gentes).
- Các Thông điệp xã hội: Rerum novarum (1891), Quadragesimo anno (1931), Evangelii praecones (1951), Tông huấn Christifideles Laici (1988), Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo (1992), Bộ Giáo luật 1983.
- Văn kiện Giáo hội Việt Nam: Thư chung Hậu Đại hội Dân Chúa 2010, Niên giám Giáo hội Công giáo Việt Nam 2016.
- Văn bản quy phạm pháp luật: Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo 2004, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016.
- Dữ liệu phỏng vấn sâu, quan sát điền dã tại các giáo phận Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình và Tổng Giáo phận TP. Hồ Chí Minh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề liên quan
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu theo 4 nội dung: nghiên cứu chung về Công giáo Việt Nam; nghiên cứu về hội đoàn Công giáo; nghiên cứu về đời sống đạo; và đánh giá tổng quan để xác định hướng đi của đề tài.
Chương này chỉ ra các công trình trước đây đã cung cấp nguồn tư liệu lịch sử và quản lý phong phú nhưng chưa đi sâu vào cơ chế tác động của hội đoàn đối với đời sống đạo của giáo dân theo 3 chiều kích niềm tin, thực hành và cộng đồng trong giai đoạn hiện nay.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của hội đoàn đối với đời sống đạo của Công giáo ở Việt Nam
Chương 2 luận giải các nền tảng lý luận và thực tiễn hình thành hội đoàn:
- Cơ sở Kinh Thánh và Thần học: Tân Ước ghi nhận mô hình cầu nguyện tập thể (Mt 18, 19-20), các nhóm bẻ bánh, đọc kinh ban đầu. Sự chuyển biến tư tưởng thần học từ Công đồng Trento và Vatican I (mô hình kim tự tháp, giáo dân thụ động) sang Công đồng Vatican II (mô hình "Dân Thiên Chúa", bình đẳng qua Bí tích Rửa Tội, giáo dân tham gia vào ba chức vụ tư tế, ngôn sứ, vương đế của Chúa Kitô). Tông huấn Christifideles Laici (1988) và Sách Giáo lý 1992 xác lập nguyên tắc giáo dân đồng trách nhiệm với giáo sĩ.
- Quy định của Giáo luật 1983: Các điều từ 204 đến 229 xác định nghĩa vụ tông đồ của giáo dân; các điều từ 298 đến 329 quy định quyền thành lập hiệp hội, điều kiện phê chuẩn nội quy, danh xưng Công giáo và sự chuẩn thuận của giáo quyền.
- Quá trình phát triển lịch sử tại Việt Nam:
- Trước 1975: Hình thành các hội, phường đạo truyền thống thời kỳ đầu truyền giáo; xuất hiện các phong trào Công giáo tiến hành (Thanh lao công, Thanh sinh công); giai đoạn 1954-1975 hội đoàn miền Bắc tạm lắng trong khi miền Nam phát triển nhiều hình thức.
- Giai đoạn 1975-1990: Hội đoàn cả hai miền tạm ngưng hoạt động quy mô lớn; miền Nam chuyển đổi linh hoạt sang hình thức sinh hoạt theo giới (giới Gia trưởng, giới Hiền mẫu, giới Trẻ, giới Thiếu nhi).
- Sau 1990: Bùng nổ số lượng, khôi phục hội đoàn cũ và thành lập hội đoàn mới trên toàn quốc.
- Thực trạng tổ chức và phân loại: Luận án trình bày hệ thống sơ đồ tổ chức (Sơ đồ 2.1: Tổ chức Giáo hội Công giáo Việt Nam; Sơ đồ 2.2: Cơ cấu Hội đoàn cấp toàn quốc; Sơ đồ 2.3: Cơ cấu tổ chức giáo xứ; Sơ đồ 2.4: Ban điều hành Hội đoàn cấp giáo xứ) và thống kê qua các bảng số liệu.
| Ký hiệu bảng |
Tên bảng biểu thống kê trong Chương 2 |
Trang |
| Bảng 2.1 |
Một số hội đoàn Công giáo hiện nay |
55 |
| Bảng 2.2 |
Thống kê hội đoàn của Tổng giáo phận Hà Nội |
60 |
| Bảng 2.3 |
Các hội đoàn có trên 1000 thành viên của Tổng giáo phận Hà Nội |
61 |
| Bảng 2.4 |
Hội đoàn giáo xứ Trang Quan - Đồng Giới tháng 8/2022 |
73 |
| Bảng 2.5 |
Thống kê các hội đoàn tại giáo xứ Tắc Rỗi, Giáo hạt Xóm Chiếu - Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh năm 2022 |
73 |
Chương 3: Hội đoàn đối với đời sống đạo và một số biểu hiện cơ bản
Chương 3 tập trung phân tích vai trò và biểu hiện cụ thể của hội đoàn đối với đời sống đạo của giáo dân trên 3 phương diện:
- Phương diện Niềm tin (Tinh thần): Hội đoàn là môi trường học tập giáo lý, bồi dưỡng linh đạo, giúp người giáo dân chuyển hóa từ việc "giữ đạo" hình thức sang "sống đạo" có chiều sâu; củng cố các giá trị luân lý, đạo đức Kitô giáo, tạo điểm tựa tâm linh trong gia đình và đời sống thường nhật.
- Phương diện Thực hành (Sinh hoạt nghi lễ phụng vụ): Hội đoàn đóng vai trò nòng cốt trong việc tổ chức, điều hành và phục vụ các nghi lễ tôn giáo theo chu kỳ năm phụng vụ (Thánh lễ hàng ngày, lễ Chúa nhật, lễ Quan thầy, tuần cửu nhật, ngắm nguyện Mùa Chay, dâng hoa Mùa Đức Mẹ, rước kiệu, phục vụ ca đoàn, đội trống, ban kèn đồng), tạo nhịp sống đạo liên tục suốt vòng đời tín hữu.
- Phương diện Cộng đồng (Liên kết xã hội và bác ái): Hội đoàn thiết lập mạng lưới gắn kết bền chặt giữa các thành viên trong giáo họ, giáo xứ; tổ chức tương trợ khi ốm đau, hoạn nạn, tang chế (như Hội Các Đẳng); thúc đẩy các hoạt động bác ái xã hội, khuyến học, thăm hỏi người già yếu, lan tỏa giá trị bác ái Kitô giáo đến cộng đồng xã hội bên ngoài không gian tôn giáo.
Chương 4: Nhận xét về mối quan hệ giữa vai trò của hội đoàn đối với đời sống đạo, công tác quản lý nhà nước đối với hội đoàn và một số khuyến nghị
Chương 4 đúc kết các nhận xét và đề xuất giải pháp:
- Đặc điểm mối quan hệ: Mối quan hệ giữa hội đoàn và đời sống đạo mang tính tương hỗ hai chiều. Hội đoàn nâng đỡ, thúc đẩy đời sống đạo phát triển; ngược lại, đời sống đạo của giáo dân là nền tảng duy trì sự tồn tại của hội đoàn. Hoạt động hội đoàn phụ thuộc chặt chẽ vào uy tín, vai trò điều hành của linh mục quản xứ và không gian văn hóa giáo xứ.
- Tính chất mối quan hệ: Vừa mang tính tôn giáo thuần túy (thánh hóa bản thân, phục vụ nghi lễ phụng tự), vừa mang tính xã hội hóa (hoạt động cộng đồng, từ thiện); chịu sự quy định của bối cảnh lịch sử, chính trị và chính sách tôn giáo của Nhà nước trong từng thời kỳ.
- Công tác quản lý nhà nước và khuyến nghị:
- Đánh giá thực trạng quản lý đối với "tổ chức tôn giáo trực thuộc" theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016; chỉ ra sự lúng túng của chính quyền cấp cơ sở trong phân biệt và quản lý các loại hình hội đoàn.
- Khuyến nghị đối với Nhà nước: Thống nhất nhận thức và quy trình quản lý hội đoàn; thừa nhận, tạo điều kiện thuận lợi cho các hội đoàn phục vụ nghi lễ tôn giáo thuần túy và bác ái xã hội hoạt động theo khuôn khổ pháp luật; hướng dẫn hội đoàn tham gia công tác an sinh xã hội; ngăn ngừa việc lợi dụng hội đoàn vào các mục đích phi tôn giáo.
- Khuyến nghị đối với Giáo hội: Chuẩn hóa quy chế, nội quy hoạt động của các hội đoàn; nâng cao chất lượng đào tạo ban điều hành; phát huy vai trò tông đồ giáo dân theo tinh thần đồng trách nhiệm và đồng hành cùng dân tộc.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và lý luận
- Tiếp cận nghiên cứu hội đoàn Công giáo một cách hệ thống và biện chứng qua cả hai hướng: "từ bên trong" (nền tảng đức tin, Kinh Thánh, thần học, giáo luật chi phối hành vi và thiết chế) và "từ bên ngoài" (nhìn nhận hội đoàn như một cấu trúc chức năng trong hệ thống tổ chức Giáo hội và mối quan hệ với xã hội).
- Làm sáng tỏ cơ chế tác động của hội đoàn tới nếp sống, tâm lý và tư duy tôn giáo của giáo dân thông qua 3 chiều kích của thực thể tôn giáo (niềm tin, thực hành, cộng đồng), khắc phục cách nhìn một chiều, thiên lệch về chính trị hoặc thuần túy hộ giáo.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Khảo sát chi tiết, cập nhật diện mạo tổ chức và cung cấp hệ thống số liệu thống kê thực tế về các hội đoàn đang hoạt động tại các giáo phận phía Bắc (Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình) và phía Nam (TP. Hồ Chí Minh).
- Nhận diện những vấn đề bất cập nảy sinh trong thực tiễn sinh hoạt hội đoàn và công tác quản lý nhà nước tại địa phương sau khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 đi vào cuộc sống.
Đề xuất và khuyến nghị
- Đề xuất các cơ quan chức năng hoàn thiện cơ chế quản lý đối với tổ chức tôn giáo trực thuộc, tạo hành lang pháp lý minh bạch cho các hoạt động thiện nguyện, tôn giáo thuần túy.
- Đề xuất Giáo hội định hướng hội đoàn phát huy phương châm "tốt đời, đẹp đạo", xây dựng quy chế chặt chẽ, gắn kết việc sống đạo với trách nhiệm công dân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính (phân tích tài liệu, quan sát tham dự, phỏng vấn sâu), không tiến hành khảo sát xã hội học định lượng với mẫu phiếu diện rộng trên toàn quốc. Địa bàn khảo sát thực tế giới hạn tại một số giáo xứ, giáo phận tiêu biểu ở khu vực Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng) và Nam Bộ (TP. Hồ Chí Minh). Khung thời gian nghiên cứu trọng tâm từ sau năm 1990 đến năm 2022.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu định lượng với quy mô mẫu lớn trên toàn quốc; khảo sát các địa bàn đặc thù khác như Duyên hải miền Trung hoặc Tây Nguyên; nghiên cứu sâu hơn về tác động của quá trình đô thị hóa và truyền thông số đối với sinh hoạt của các hội đoàn giới trẻ Công giáo.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các chuyên ngành Tôn giáo học, Xã hội học tôn giáo, Lịch sử tôn giáo, Văn hóa học và Công tác tư tưởng.
- Cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo tại Ban Tôn giáo Chính phủ, Sở Nội vụ, Ban Dân vận, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan đoàn thể các cấp.
- Các chức sắc, chức việc, linh mục quản xứ và hội đồng mục vụ trong Giáo hội Công giáo tại Việt Nam.
- Nội dung đáng tham khảo: Phần hệ thống hóa cơ sở Kinh Thánh - Thần học - Giáo luật về giáo dân và hiệp hội tín hữu (Chương 2); hệ thống bảng biểu thống kê hội đoàn tại các giáo xứ, giáo phận (Bảng 2.1 đến 2.5); và hệ thống khuyến nghị chính sách về quản lý tổ chức tôn giáo trực thuộc (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đưa ra định nghĩa về "Hội đoàn Công giáo" như thế nào?
Trả lời: Luận án định nghĩa: "Hội đoàn Công giáo là tổ chức của Công giáo, thành viên tham gia hội đoàn là giáo dân, hoạt động dưới sự lãnh đạo của hàng giáo phẩm Công giáo, tham gia vào hoạt động truyền giáo, củng cố đức tin, từ thiện, bác ái, đồng thời nhằm chuyển tải giá trị của Công giáo vào trong đời sống xã hội."
2. Nền tảng thần học của Công đồng Vatican II đối với vai trò của giáo dân và hội đoàn là gì?
Trả lời: Công đồng Vatican II (qua Hiến chế Lumen gentium và Sắc lệnh Apostolicam actuositatem) xác lập định nghĩa "Giáo hội là Dân Thiên Chúa", khẳng định mọi Kitô hữu đều bình đẳng về phẩm giá qua Bí tích Rửa Tội và cùng tham dự vào ba chức vụ tư tế, ngôn sứ, vương đế của Chúa Kitô. Sứ mạng tông đồ thuộc bản tính tự nhiên của giáo dân, biến người giáo dân từ vị thế thụ động thành người "đồng trách nhiệm" với hàng giáo sĩ.
3. Bộ Giáo luật 1983 quy định quyền lập hội của người giáo dân tại các điều khoản nào?
Trả lời: Bộ Giáo luật 1983 quy định quyền lập hội tại Quyển II "Dân Chúa", phần các hiệp hội của tín hữu (Điều 298 - 329). Trong đó, Điều 298 quy định quyền thành lập hiệp hội để sống đời hoàn thiện, cổ động phụng tự hoặc làm việc tông đồ; Điều 299 và Điều 300 quy định mọi hiệp hội của tín hữu muốn được thừa nhận hoặc mang danh Công giáo đều phải được cấp có thẩm quyền của Giáo hội phê chuẩn nội quy.
4. Khái niệm "hội đoàn tôn giáo" trong Pháp lệnh năm 2004 được thay đổi như thế nào trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016?
Trả lời: Trong Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, khái niệm "hội đoàn tôn giáo" được quy định tại Khoản 6 Điều 3. Đến Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, thuật ngữ này được thay thế bằng khái niệm "tổ chức tôn giáo trực thuộc" tại Khoản 13 Điều 2, được định nghĩa là tổ chức thuộc tổ chức tôn giáo, được thành lập theo hiến chương, điều lệ, quy định của tổ chức tôn giáo.
5. Luận án đã tiến hành phỏng vấn sâu và khảo sát thực tế tại các địa bàn và giáo xứ nào?
Trả lời: Luận án khảo sát thực tế tại Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Hải Phòng và TP. Hồ Chí Minh. Các giáo xứ khảo sát gồm: giáo xứ Sa Cát, giáo xứ Thanh Minh (Giáo phận Thái Bình); giáo xứ Kim Lai, giáo xứ Hải Dương, giáo xứ Tân Kim, giáo xứ Trang Quan - Đồng Giới (Giáo phận Hải Phòng); giáo xứ Tân Sa Châu, giáo xứ Bến Cát, giáo xứ Xuân Hiệp, giáo xứ Tắc Rỗi (Tổng Giáo phận TP. Hồ Chí Minh).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Vai trò của hội đoàn Công giáo đối với đời sống đạo ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Đào Thị Đượm là công trình nghiên cứu hệ thống thuộc chuyên ngành Tôn giáo học. Bằng việc kết hợp các lý thuyết thực thể tôn giáo, cấu trúc chức năng và mô hình truyền thông, tác giả đã làm rõ nền tảng Kinh Thánh, thần học, giáo luật cũng như tiến trình lịch sử và thực trạng sinh hoạt của hội đoàn tại các giáo phận miền Bắc và miền Nam. Công trình luận giải toàn diện tác động của hội đoàn tới đời sống đạo trên ba phương diện niềm tin, thực hành nghi lễ và tính cố kết cộng đồng, đồng thời cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức tôn giáo trực thuộc theo quy định pháp luật hiện hành.