Luận án tiến sĩ về ba vị thánh trong chùa và tâm thức dân gian ở châu thổ Bắc Bộ

Tài liệu Tìm hiểu ba vị thánh trong chùa và tâm thức dân gian vùng châu thổ bắc tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Văn hóa dân gian

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

190
10
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Tình hình nghiên cứu

1.1.1. Nghiên cứu tâm thức dân gian về các vị thánh thần

1.1.2. Các nghiên cứu về ba vị thánh và các di tích lễ hội liên quan

1.1.3. Thần, thánh, thánh tổ trong hệ thống tín ngưỡng của người Việt

1.1.4. Tâm thức dân gian

1.1.5. Ma lực và tiểu sử linh thiêng

2. CHƯƠNG 2: BỐI CẢNH HÌNH THÀNH TÂM THỨC DÂN GIAN VỀ BA VỊ THÁNH Ở VÙNG CHÂU THỔ BẮC BỘ

2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.2. Điều kiện kinh tế

2.1.3. Điều kiện văn hoá xã hội. Sự hình thành của các ngôi chùa tiền Phật hậu Thánh

2.2. Bối cảnh chính trị, xã hội

2.2.1. Sự ra đời và phát triển chùa tiền Phật hậu Thánh

3. CHƯƠNG 3: HÀNH TRẠNG CỦA BA VỊ THÁNH

3.1. Tiểu sử và công lao của ba vị thánh

3.1.1. Tiểu sử và công lao của thánh Từ Đạo Hạnh

3.1.2. Tiểu sử và công lao của thánh Nguyễn Minh Không

3.1.3. Tiểu sử và công lao của thánh Dương Không Lộ

3.2. Tiểu sử linh thiêng của ba vị thánh

3.2.1. Thiêng hóa và ma lực của ba vị thánh

3.2.1.1. Thiêng hóa ba vị thánh
3.2.1.2. Ma lực của ba vị thánh

4. CHƯƠNG 4: CÁC BIỂU HIỆN CỦA TÂM THỨC DÂN GIAN VỀ BA VỊ THÁNH

4.1. Không gian thờ phụng ba vị thánh

4.1.1. Đặc điểm của chùa tiền Phật hậu Thánh

4.1.2. Mặt bằng, kiến trúc của các ngôi chùa thờ ba vị thánh

4.2. Nghi thức thờ phụng các vị thánh

4.2.1. Thể hiện tiểu sử, sự tích về ba vị thánh

4.2.2. Lá sớ và cầu khấn

4.2.2.1. Thông điệp truyền tải của lá sớ
4.2.2.2. Thông điệp truyền tải trong cầu khấn

4.3. Nhận thức và trải nghiệm của người dân về ba vị thánh

4.3.1. Ba vị thánh là phúc thần

4.3.2. Ba vị thánh là thần y chữa bệnh

4.3.3. Ba vị thánh là tổ nghề

5. CHƯƠNG 5: THỜ THÁNH Ở VÙNG CHÂU THỔ BẮC BỘ: MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRUYỀN THỐNG VÀ ĐƯƠNG ĐẠI

5.1. Xu hướng thánh hoá và hỗn dung tôn giáo tín ngưỡng trong tâm thức dân gian

5.1.1. Xu hướng thánh hóa và ma lực của các vị thánh

5.1.2. Sự hỗn dung tôn giáo trong tâm thức dân gian

5.1.3. Chính sách tôn giáo tín ngưỡng

5.1.4. Kinh tế thị trường

5.1.5. Thị trường tôn giáo

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Giới thiệu về ba vị thánh trong chùa và tâm thức dân gian

Trong bối cảnh văn hóa Bắc Bộ, ba vị thánh Từ Đạo Hạnh, Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không giữ vai trò quan trọng trong tâm thức dân gian. Những ngôi chùa tiền Phật hậu Thánh không chỉ là nơi thờ phụng mà còn là trung tâm của các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng. Tâm linh của người dân ở vùng châu thổ Bắc Bộ thường gắn liền với việc cầu cúng các vị thánh này, thể hiện qua các nghi lễ, phong tục tập quán và các lễ hội tôn thờ. Các vị thánh này được coi là thánh thần, mang lại phúc lộc và sức khỏe cho người dân. Họ được tín ngưỡng như những thần y chữa bệnh, và là tổ nghề cho nhiều ngành nghề truyền thống. Việc thờ phụng các vị thánh này không chỉ là một phần của văn hóa mà còn phản ánh tâm thức và giá trị sống của người dân nơi đây.

1.1. Đặc điểm văn hóa Bắc Bộ

Văn hóa Bắc Bộ nổi bật với các hình thức tín ngưỡng đa dạng, trong đó có việc thờ thánh thần trong các ngôi chùa. Các nghi lễhuyền thoại liên quan đến ba vị thánh không chỉ thể hiện sự tôn kính mà còn là cách người dân thể hiện niềm tin vào sức mạnh siêu nhiên. Những câu chuyện về hành trạng và tiểu sử của các vị thánh thường được truyền miệng và ghi chép lại trong các tài liệu, tạo nên một kho tàng văn hóa phong phú. Các di sản văn hóa này không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn là nền tảng cho sự phát triển của các lễ hội và phong tục tập quán trong cộng đồng.

II. Hành trạng và tiểu sử của ba vị thánh

Tiểu sử của ba vị thánh Từ Đạo Hạnh, Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không được ghi chép trong nhiều tài liệu lịch sử và truyền thuyết. Mỗi vị thánh có một hành trình riêng, nhưng đều có điểm chung là những công lao lớn lao đối với cộng đồng. Từ Đạo Hạnh được biết đến như một thiền sư có khả năng cứu chữa bệnh tật, trong khi Dương Không Lộ nổi bật với những huyền thoại về khả năng chữa bệnh kỳ diệu. Nguyễn Minh Không cũng không kém phần nổi bật với những câu chuyện về việc giúp đỡ người dân trong những lúc khó khăn. Những câu chuyện này không chỉ tạo nên sự kính trọng mà còn làm phong phú thêm tâm thức dân gian về các vị thánh. Việc thờ phụng các vị thánh này đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người dân Bắc Bộ.

2.1. Những truyền thuyết nổi bật

Các truyền thuyết về ba vị thánh thường liên quan đến những phép màu và sự cứu giúp. Chẳng hạn, câu chuyện về Từ Đạo Hạnh chữa khỏi bệnh cho vua đã trở thành một phần quan trọng trong tín ngưỡng dân gian. Điều này không chỉ thể hiện niềm tin vào sức mạnh của các vị thánh mà còn phản ánh mong muốn của người dân về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Những câu chuyện này thường được kể lại trong các lễ hội, tạo nên không khí linh thiêng và thu hút đông đảo người dân tham gia. Điều này cho thấy sự kết nối giữa tâm linh và văn hóa trong đời sống hàng ngày của người dân Bắc Bộ.

III. Biểu hiện của tâm thức dân gian về ba vị thánh

Tâm thức dân gian về ba vị thánh được thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau, từ không gian thờ phụng cho đến các nghi thức cúng bái. Các ngôi chùa tiền Phật hậu Thánh thường có kiến trúc đặc trưng và không gian thờ cúng riêng biệt cho các vị thánh. Nghi lễ thờ phụng không chỉ diễn ra trong các dịp lễ hội mà còn trong đời sống hàng ngày, thể hiện qua các lá sớ và lời khấn cầu. Người dân đến chùa không chỉ để cầu phúc mà còn để thể hiện lòng biết ơn đối với các vị thánh. Những thông điệp trong các lá sớ thường phản ánh những mong muốn và ước vọng của người dân, từ cầu tự, cầu sức khỏe đến cầu công danh.

3.1. Nghi thức thờ phụng

Nghi thức thờ phụng các vị thánh thường được tổ chức rất trang trọng, với sự tham gia của đông đảo người dân. Các nghi lễ này không chỉ mang tính tôn giáo mà còn là dịp để cộng đồng gặp gỡ, giao lưu. Trong các lễ hội, người dân thường tổ chức các hoạt động văn hóa, như múa rối nước hay các trò chơi dân gian, tạo nên không khí vui tươi và phấn khởi. Điều này cho thấy sự kết hợp giữa tín ngưỡng và văn hóa trong tâm thức dân gian, phản ánh rõ nét bản sắc văn hóa của vùng châu thổ Bắc Bộ.

IV. Tác động của kinh tế thị trường đến tâm thức thờ thánh

Trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay, tâm thức thờ thánh cũng có sự thay đổi nhất định. Việc thờ phụng các vị thánh vẫn giữ được giá trị truyền thống, nhưng cũng chịu ảnh hưởng từ các yếu tố kinh tế và xã hội. Nhiều người dân vẫn giữ thói quen đi lễ, nhưng động cơ và cách thức thực hiện có thể khác đi. Sự xuất hiện của các dịch vụ liên quan đến thờ cúng, như cúng thuê hay viết sớ, cho thấy sự chuyển mình trong cách mà người dân tương tác với các vị thánh. Điều này cũng phản ánh sự hỗn dung tôn giáo trong tâm thức dân gian, khi mà các yếu tố hiện đại và truyền thống giao thoa với nhau.

4.1. Xu hướng thánh hóa trong xã hội hiện đại

Xu hướng thánh hóa trong xã hội hiện đại đang dần trở nên phổ biến, với nhiều người tìm đến các vị thánh để cầu mong sự giúp đỡ trong cuộc sống. Các vị thánh không chỉ được coi là phúc thần mà còn là những người bảo trợ cho các ngành nghề và lĩnh vực khác nhau. Điều này thể hiện sự cần thiết của người dân trong việc tìm kiếm sự an ủi và hỗ trợ từ các thế lực siêu nhiên trong bối cảnh cuộc sống ngày càng áp lực. Sự thánh hóa này không chỉ là một hiện tượng tôn giáo mà còn là một phần của đời sống văn hóa, phản ánh nhu cầu tâm linh của người dân trong xã hội hiện đại.

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương 2: Bối cảnh hình thành tâm thức dân gian về ba vị thánh ở vùng châu thổ Bắc Bộ Chương 3: Hành trạng của ba vị thánh Chương 4: Các biểu hiện của tâm thức dân gian về ba vị thánh Chương 5: Tâm thức dân gian thờ ba vị thánh: Một số vấn đề truyền thống và đương đại 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tình hình nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu tâm thức dân gian về các vị thánh thần Có khá nhiều công trình nghiên cứu về tín ngưỡng đa thần, tục thờ thần thánh, các nghi thức thờ phụng các đối tượng được thờ cúng trong đình, đền, chùa, qua đó thể hiện tâm thức dân gian trong đời sống tôn giáo người Việt. Theo học giả Toan Ánh, “đạo thờ thần là một đạo thuần túy Việt Nam và đạo này có từ khi có người Việt Nam [4, tr. Tác giả Trần Quốc Vượng thì khẳng định: “Thờ thần là một đường hướng tôn giáo chính của dân Việt” [118], còn Vũ Ngọc Khánh thì cho rằng ở Việt Nam có một “Đạo Thánh” với một hệ thống các thánh, thờ các anh hùng dân tộc, các nhân vật lịch sử. Trong Đạo Thánh ở Việt Nam [47], Vũ Ngọc Khánh khảo sát 62 vị thánh thông qua truyền thuyết, thần tích, lễ hội và các di tích thờ thánh, phân chia hệ thống các vị thần, thánh thành các thánh ở địa phương, các Thánh Mẫu và các thánh thuộc hệ thống khác.

Theo tác giả, người Việt tôn vinh các anh hùng, đức tổ, và cả những lực lượng siêu trần thành thánh là mang tính “tự nguyện, tự phát”: Đạo Thánh mặc nhiên tự hình thành, nhân dân đã phong thánh. Dù triều đình có phong các vị là phúc thần, là thành hoàng. thậm chí đến đại vương đi nữa, thì đó cũng chỉ là thánh. Thần có thể là hạ đẳng, trung đẳng và thương đẳng… dân đều không quan tâm.

Họ trân trọng và xem tất cả đều là thánh của họ, của địa phương, của dân tộc [47, tr. Thờ thần, thánh bao gồm việc thờ phụng những nhân vật lịch sử, những người có công với dân với nước và được hóa thánh, những nhân vật huyền thoại, hoặc thờ các vị thần tự nhiên, vật tổ, vật thần như thần Mưa, Gió, Sấm, Sét, thần Cây, thần Đá, các vật tổ, vật thần (thần Rắn, Rùa, Rồng) v. Có hai xu hướng trong tâm thức dân gian về các vị thần, đó là xu hướng “lịch sử hoá huyền thoại”, trong đó các nhiên thần được khoác lên mình những tiểu sử có tính lịch sử, và xu hướng “huyền thoại hoá lịch sử”- các vị nhân thần được huyền thoại hoá với các chi tiết kỳ bí và khả năng siêu nhiên [86]. Về tục thờ nhiên thần, theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ: “Thiên thần là những vị thần chỉ nghe nói có sự thiêng liêng nhưng không sinh ra ở đời”, “thần có nguồn gốc từ núi gọi là Sơn thần; có nguồn gốc từ nước là Thủy thần; có nguồn gốc từ đất hoặc án ngự trên đất gọi là Thổ thần.

Các thần được gọi tên gắn với các hiện tượng tự nhiên như: Vân thần (mây), Vũ thần (mưa), Phong thần (gió)” v. 9 [dẫn theo 69, tr. Các nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng người Việt đều cho rằng các thần tự nhiên được nhân hóa. Qua thời gian, không gian và qua các bối cảnh lịch sử, văn hóa, các vị thần tự nhiên có thêm những tính cách mới, công năng mới nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân về sự che chở, sự cầu phúc, cầu tài.

Điển hình trong tâm thức dân gian, người Việt thờ các vị thần đại diện cho các hiện tượng tự nhiên như thần mưa, thần sấm, thần chớp gắn với hệ thống thờ Tứ Pháp: Pháp Vân (thần Mây) thờ ở chùa Bà Dâu, Pháp Vũ (thần Mưa) thờ ở chùa Bà Đậu, Pháp Lôi (thần Sấm) thờ ở chùa Bà Tướng, Pháp Điện (thần Chớp) thờ ở chùa Bà Dàn (các chùa này đều thuộc tỉnh Bắc Ninh) [71, tr. Ngoài thờ các hiện tượng tự nhiên, người Việt còn thờ các vị thần biểu trưng cho không gian và thời gian như: Ngũ hành nương, ngũ phương chí thần, ngũ đạo chi thần, thập nhị hành khiển, v., thể hiện khát vọng về sự kéo dài và bảo tồn trạng thái cân bằng trong cuộc sống của họ. Thờ sơn thần là một hiện tượng phổ biến ở Việt Nam, thể hiện thành một hệ tương đối thống nhất - hệ Sơn Tinh - Tản Viên. Ở Việt Nam, Tản Viên được người Kinh và người Mường thờ cúng ở nhiều nơi, nhưng tập trung nhất là ở đồng bằng sông Hồng, đặc biệt là khu vực núi Ba Vì - vùng đất gốc của hệ sơn thần ở nước ta.

Trong bài viết “Mấy ghi nhận về thánh Tản Viên trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam”, tác giả Ngô Đức Thịnh đã lý giải quá trình hình thành và lan tỏa thờ phụng thánh Tản Viên trong cộng đồng người Việt - Mường. Từ cốt lõi một vị thần núi, Tản Viên hội nhập vào hệ thống thần thoại Việt - Mường để trở thành vị thần mang tính khai sáng. Sau đó vị thần núi hội nhập vào dòng Đạo giáo dân gian để trở thành một đạo nhân có phép thuật “đi mây về gió” cứu giúp nhân sinh. Và dần dần, vị thần núi trở thành một vị thành hoàng linh thiêng được nhiều làng thờ phụng.

Cao hơn tất cả, vị thần núi đã được dân gian tôn thờ là một trong “tứ bất tử” trong hệ thống tín ngưỡng người Việt [99, tr. Trong hệ thống thờ, người Việt còn thờ động, thực vật. Hình tượng con rắn, con hổ khá đậm đặc trong tín ngưỡng dân gian, du nhập vào hệ thống tam phủ, tứ phủ. Trong văn hóa dân gian của người Việt ở đồng bằng sông Hồng, rắn là một hình tượng phổ biến và có sức ám ảnh mạnh mẽ nhất.

Chúng ta có thể nhận diện được tục thờ rắn thông qua thờ phụng Ông Lốt trong các đền dọc theo sông Hồng, sông Cầu, sông Đuống và qua các di tích, lễ hội [71, tr. Các cây đại thụ như cây đa, cây si, cây nhãn, cây sấu v., được tin là những nơi có ma trú ngụ. “Thần cây đa, ma cây gạo” là câu ngạn ngữ khá phổ biến trong dân gian để ám chỉ những hồn ma linh thiêng và được linh hóa bằng những câu chuyện, huyền thoại. Gốc cây đại thụ cũng là nơi thờ con tinh, hồn của người con 10 gái chết trẻ.

Theo tác giả Cadière, “loại này thì được xếp vào ma, rất đáng sợ. Chúng đòi phải được cúng tế. Chúng trả thù người sống” [16, tr. Những nơi thờ cúng này vẫn còn hiển hiện ở các con đường, ngõ xóm ở thành phố, nông thôn, thậm chí trên một số đường cao tốc mà khi san ủi làm đường, một số cây to ở giữa đường, nhưng những người thi công cũng không dám chặt bỏ vì sợ “bị trừng phạt”.

Bên cạnh các vị thần tự nhiên được thờ, việc thờ cúng các nhân thần khá phổ biến. Trong Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, nhân thần “là những vị thần có họ tên, công trạng, quan tước rõ ràng: lúc sống có công lao, trang tiết, lúc chết vẫn thiêng liêng phù trợ cho nước, cho dân. Nhân thần gồm có âm thần (các thần nữ) và dương thần (các thần nam)” [dẫn theo 68, tr. Việc thờ cúng nhân thần xuất phát từ niềm tin vào sự trường tồn của linh hồn.

Các nhân vật được thờ lúc sống đều là các danh nhân có công với nước với dân. Người Việt thờ cúng nhằm tưởng nhớ công lao, ân đức của các nhân vật này. Các nhân vật được nhân dân và triều đình “phong thần” “đều là những người lúc sống có tài năng, đức độ, khí chất hơn người, lại đốc thành dốc sức làm việc giúp dân vô vùng đáng kính” [68, tr. Trong hệ thống thờ thần thánh của người Việt, phải kể đến hệ thống thờ Thánh Mẫu.

Tín ngưỡng thờ nữ, mẫu phát triển từ rất sớm, từ thờ nữ thần tới Mẹ, Thánh Mẫu và một trong những biểu hiện sớm nhất là sự hiện diện của Tứ Pháp, bà Man Nương, vua Bà [68], [101]. Các vị thánh nữ có thể là công chúa, là hoàng hậu, nhưng cũng có thể là một nhân vật tượng trưng như Ngọc Hoa Công Chúa giáng trần, hay một tạo hóa của con người. Quan trọng hơn cả trong tâm thức người Việt là ý thức về một nhân vật có quyền cao, có sức mạnh phi thường, có thể che chở và ban phát tài lộc cho con người ở dương gian. Về việc này, chúng ta đã khá quen thuộc với thực hành thờ Mẫu của người Việt mà thần chủ là Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong điện thờ Mẫu tại trung tâm là Phủ Dầy.

Mẫu trong tâm thức của người Việt nói chung và của các con nhang đệ tử là sự cao thượng, lòng độ lượng từ bi mà các con của Mẫu luôn được bình an và được sự che chở. Hệ thống thờ Mẫu cùng với các vị thánh khác như các Quan, các Chầu, các ông Hoàng, các Cậu được thờ trong điện thần Tứ Phủ [101]. Chẳng hạn như Cô Bơ Thoải, trong tâm thức dân gian, Mẫu Thoải hiển ứng ở khắp mọi miền số ngước để phù hộ cho người trên sông nước [28, tr. Bên cạnh hệ thống thờ Mẫu tam phủ, tứ phủ, trong tâm thức người Việt, các vị Thánh Mẫu có công xây dựng và bảo vệ đất nước như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Dương Vân Nga, Ỷ Lan, Bùi Thị Xuân, Bà Chúa Kho v.

cũng được thờ phụng. Họ không chỉ được dân gian tôn thờ là vị Thánh Mẫu, che chở cho dương gian, họ còn được triều đình sắc phong thành các vị thần, thành hoàng của nhiều làng [66]. Ngày nay, thực hành thờ Mẫu trong đó tiêu biểu nhất là lên đồng và lễ hội vào dịp 11 tiệc quan, đã trở nên phổ biến và thu hút nhiều người tham dự cũng như thực hành, tạo thành những bản hội ông đồng bà đồng với những hoạt động, sinh hoạt tín ngưỡng phổ biến trong bối cảnh đương đại [31]. Bên cạnh hệ thống thờ nữ thần và Thánh Mẫu, một số nhà nghiên cứu phân tích tâm thức dân gian của người Việt qua hiện tượng thờ thành hoàng (Nguyễn Duy Hinh [37], Cadière [14]).

Trong tâm thức người Việt, thờ thành hoàng làng cũng là một hình thức thờ nhân thần hoặc các vị thần tự nhiên. Các vị thành hoàng có thể là một nhân vật lịch sử, huyền sử, hay một cái cây (bách tùng). Những vị thần này là do nhân dân tự phong, là những người được mến mộ và được thánh hóa phong thần. Những vị thần này của cả làng, cả xã, là vị thần địa phương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ "Luận án tiến sĩ về ba vị thánh trong chùa và tâm thức dân gian ở châu thổ Bắc Bộ" của tác giả Khúc Mạnh Kiên, dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Quỳnh Phương và TS. Phạm Thu Hương, tập trung vào nghiên cứu về ba vị thánh trong các ngôi chùa và mối liên hệ với tâm thức dân gian tại vùng châu thổ Bắc Bộ. Nghiên cứu không chỉ làm rõ vai trò của các vị thánh trong tín ngưỡng địa phương mà còn phản ánh sự giao thoa giữa văn hóa dân gian và tôn giáo, giúp người đọc hiểu rõ hơn về những giá trị văn hóa tâm linh trong cộng đồng.

Để mở rộng thêm kiến thức về tín ngưỡng và văn hóa tâm linh, bạn có thể tham khảo bài viết Nghiên Cứu Tín Ngưỡng Thờ Mẫu Qua Các Đền Ở Hà Nội Hiện Nay. Bài viết này đề cập đến tín ngưỡng thờ Mẫu, một phần quan trọng trong văn hóa tâm linh của người dân Hà Nội.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm qua bài viết Luận án tiến sĩ về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Giày, nơi nghiên cứu sâu về tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh, một biểu tượng văn hóa tâm linh đặc sắc.

Cuối cùng, bài viết Nghiên cứu di sản tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ từ lý thuyết các bên liên quan cũng sẽ mang đến cho bạn cái nhìn toàn diện về di sản tín ngưỡng dân gian, liên quan mật thiết đến các chủ đề được đề cập trong luận án. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có thêm nhiều góc nhìn và kiến thức bổ ích về văn hóa và tín ngưỡng dân gian Việt Nam.