mở đầu cho mọi cuộc vận động vĩ đại trong lịch sử loài người, tức coi giao lưu – tiếp biến văn hóa là các tác nhân kích thích xã hội tiến bộ. Công trình nghiên cứu này ít nhiều đề cập đến khía cạnh “hóa thạch ngoại biên” của hệ thống các thực hành văn hóa di dân (người Hoa gốc Quảng Đông) trong bối cảnh văn hóa Việt Nam tại Nam Bộ. Trong quá trình phân tích, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố tác động qua lại giữa “trung tâm” và “ngoại vi” hơn là sự truyền bá hay tương tác một chiều, tức coi trọng tác động tương hỗ giữa cộng đồng đa số và cộng đồng thiểu số, đặc biệt là trong bối cảnh văn hóa – xã hội đặc thù của Thành phố Hồ Chí Minh cũng như của cả khu vực Nam Bộ.2 Khái niệm tín ngưỡng thờ Mẫu Tín ngưỡng được hình thành từ mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình. Tín ngưỡng dân gian khá phong phú, nó là tâm thức tôn sùng các lực lượng siêu nhiên như tôn sùng tự nhiên, tôn sùng vật tổ, tôn sùng tổ tiên, tôn sùng sự sinh sản, tôn sùng Mẫu, tôn sùng các anh hùng dân tộc.
Khái niệm “Mẫu” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng. “Mẫu” trước hết là nữ thần. Tác giả Mai Ngọc Chúc cho rằng “thần khác với ma”, “có thể phân làm thiên thần và nhân thần”. “Thiên thần là những nữ thần sáng tạo vũ trụ, sáng tạo loài người”, còn “nhân thần là những người có nhiều ân đức với nhân dân: đánh giặc, mở mang ngành nghề, trinh thục, tiết liệt, cứu dân độ thế v.
7-12] Tác giả Ngô Đức Thịnh thì khẳng định “Mẫu là nữ thần, nhưng không phải tất cả nữ 18 thần đều là Mẫu” [99, tr. Theo đó, tín ngưỡng thờ mẫu được nâng thành “đạo Mẫu”, là “hình thức tín ngưỡng “nâng cao”, “lên khuôn” từ cái nền thờ nữ thần vốn rất phổ biến và cổ xưa”. Trong công trình của chúng tôi, “Mẫu” ban đầu là “mẹ” (mother), là nữ thần, song khi “mẹ”, “nữ thần” được nâng lên thành “Mẫu” (Mother Goddess) thì ý nghĩa biểu tượng của “Mẫu” đã được mở rộng thêm. “Mẫu” gắn liền với sự sinh sôi, với sự bảo vệ, với phúc lành và sự sống.
Do vậy, “Mẫu” trong nghiên cứu của chúng tôi được hiểu là hết thảy các nữ thần đã “nâng cao”, “lên khuôn” thành “Mẫu” có trong các tín ngưỡng truyền thống các dân tộc, vừa là những người mẹ tổ tông, những nữ anh hùng dân tộc được thần thánh hóa, những vị phúc thần, những hình mẫu của phồn thực, những vị tiên nữ trong văn hóa dân gian v. Nhiều học giả phương Tây đã nói “Đông Nam Á là xứ sở của mẫu hệ” (le Pays du Matrircat) [92, tr. Nhận xét này có thể được kiểm chứng đầy đủ trong văn hóa tín ngưỡng hầu hết các quốc gia Đông Nam Á, từ mẫu Liễu Hạnh, Hai Bà Trưng, Ponagar, Tam phủ (Việt Nam) đến nữ thần Hainuwele (Ceram, Indonesia) [126], nữ thần Nata Meser, Nakta Dampracsa ở văn hóa Khmer [54, tr. 12], thần Nang Nak ở Thái Lan.
Hoa Nam xưa, cùng với dãy đất nam Dương Tử - bắc Ngũ Lĩnh, có truyền thống thuộc văn hóa – văn minh Đông Nam Á cổ [127]. Chính tính chất nữ tính ấy của cộng đồng Bách Việt cổ tại Hoa Nam đã để lại cho lớp dân Hán mới đến nhiều thành quả đáng kể. Lớp dân mới đến dù khoác trên mình chiếc áo tư tưởng Nho giáo trọng nam khinh nữ song tại nơi ở mới này họ đã tự điều chỉnh mình cho phù hợp và dần dà tiếp nhận và phát triển tín ngưỡng thờ mẫu sẵn có, cũng như phát triển thêm các tín ngưỡng mới. Tất nhiên, trong quá trình ấy, một số tín ngưỡng thờ mẫu (hoặc nữ thần) địa phương bị mất đi, chẳng hạn tục thờ một nữ thần cổ vùng Tân Hội (Quảng Đông), tục thờ hai nữ thần cổ ở Chao-chou (Quảng Tây) vào khoảng giữa thế kỷ thứ VI, có ghi trong cuốn Việt Tây Tùng Tải (粤西丛载) của Uông Thâm (汪森, TK.
Ngược lại cũng có một số ít các tục thờ nữ thần phương Nam thẩm thấu vào văn hóa Hán phương Bắc, chẳng hạn như tục 19 thờ Tất Phi (宓妃, còn gọi là Tất Hy(宓羲) - con gái Phục Hy), nữ thần sông Lạc (như trong bức tranh Lạc thần phú (洛神赋) của Tào Trực). Trong các triều đại Minh, Thanh về sau, tục thờ Thiên Hậu dần dà cũng bám rể ở một số khu vực nhất định ở Hoa Bắc (chẳng hạn ở Thiên Tân, Sơn Đông). Xuất phát từ cội nguồn nền văn minh lúa nước, người Việt xưa quan niệm đất, nước, lúa đều mang yếu tố âm, từ đó, hình ảnh người mẹ được chọn làm đấng sáng tạo, đấng sinh thành của vũ trụ, đất nước và con người. Từ tâm thức sùng bái đó, trong các cộng đồng hình thành các phong tục tập quán và nghi lễ thờ cúng Mẫu.
Theo tác giả Nguyễn Đăng Duy “tín ngưỡng thờ Mẫu chỉ có thể ra đời khi con người có ý thức về sự sinh sôi nảy nở. Mà tư duy của cư dân nông nghiệp thường biện lý từ những cái cụ thể, cho nên giá trị về sự sinh sôi nảy nở không có gì khác ngoài mẹ cụ thể mang nặng đẻ đau sinh sôi nguồn nhân lực. Và những cái gì sinh sôi nuôi sống, che chở, bảo vệ con người chiến thắng thiên tai và thú dữ ấy là mẹ” [25, tr. Như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu được hiểu là một loại hình tín ngưỡng dân gian thờ Nữ thần nảy sinh trên cơ tầng văn hóa của nền văn minh nông nghiệp lúa nước đậm màu sắc nữ tính (Mẹ) trong đó tích hợp các lớp tín ngưỡng để tạo nên một đấng tối thượng niềm tin thiêng liêng vào quyền năng của Mẫu - đấng sáng tạo, bảo trợ cho sự tồn tại và sinh thành của vũ trụ, đất nước và con người [98].
Như vậy, Thờ Mẫu là sự phát triển lên từ thờ nữ thần, song không phải nữ thần nào cũng là Mẫu. Theo Malinowski thì “tín ngưỡng - tôn giáo là một hình thức thực hành tổng thể của hai tầng nhận thức và ứng xử với thế giới thực tại, ở đó, các bài học giáo dục đạo đức xã hội, truyền thống chữ hiếu, truyền thống đoàn kết dòng tộc và ý thức tự hào dân tộc luôn được truyền tải một cách âm thầm, lặng lẽ nhưng đầy sức sống bởi chúng khéo được dung hòa trong tầng nhận thức và ứng xử thứ hai – cái thiêng, cái tâm linh”.3 Khái niệm người Hoa Khái niệm người Hoa dùng để chỉ tất cả những người có nguồn gốc Trung Quốc ở hải ngoại, có nhiều tên gọi cho họ như người Tàu, người Trung Quốc, người Trung Hoa, người Đường, người Thanh. Nhiều khu phố người Hoa được bản thân 20 họ gọi là Đường nhân giai 唐人街 (giai = con đường, khu phố). Năm 1995, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra chỉ thị số 62-CT/TW “Về tăng cường công tác người Hoa trong tình hình mới” đã nêu rõ: “Người Hoa bao gồm những người gốc Hán và những người thuộc dân tộc ít người ở Trung Quốc đã Hán hóa di cư sang Việt Nam và con cháu của họ sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, đã nhập quốc tịch Việt Nam, nhưng vẫn còn giữ những đặc trưng văn hóa, chủ yếu là ngôn ngữ, phong tục tập quán của dân tộc Hán và tự nhận mình là người Hoa” [119, tr.
Trong công trình này, ngoài việc căn cứ vào quy định pháp quyền, chúng tôi sử dụng khái niệm người Hoa còn với một hàm ý khác: khái niệm người Hoa để phân biệt với người Trung Quốc (công dân nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, bao gồm cả Hồng Kông, Macau và lãnh thổ Đài Loan). Trong nghiên cứu trường lịch sử văn hóa, khái niệm người Hoa dùng để chỉ khối người Hoa Nam vốn dĩ là người Hán vùng Hoa Bắc đã thiên di xuống miền Hoa Nam và dung hợp văn hóa với nhiều cộng đồng phương Nam như Bắc Việt, Miêu Man; trong khi để chỉ người Hoa Bắc người ta đặc biệt sử dụng khái niệm “người Hán”. Các quốc gia Đông Nam Á khác (Malaysia, Indonesia và Singapore) cũng sử dụng khái niệm “người Hoa 華人/Huaren” để gọi tên nhóm cộng đồng này.2 Quá trình hình thành cộng đồng người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh 1.1 Sự hình thành cộng đồng người Hoa ở Nam Bộ Người Hoa có mặt ở Việt Nam từ rất lâu và khó xác định chính xác thời điểm nào người Hoa bắt đầu di cư đến Việt Nam, đặc biệt là các thương cảng trung cổ như Vân Đồn, Phố Biến (Bắc Bộ), Hội An (Trung Bộ) trước khi có mặt ở Nam Bộ. Quá trình hình thành, phát triển và biến động của các nhóm cộng đồng người Hoa là một quá trình lâu dài, liên tục và gắn liền với nhiều đợt di cư trong lịch sử.
“Hiện tượng này thường xảy ra trong ba hoàn cảnh chính, một là trong thời gian Việt Nam bị Bắc thuộc, nhiều thái thú, thái sử sang làm quan đã mang theo gia quyến, thân tộc rồi định cư, lấy mảnh đất phương Nam xa xôi này làm quê hương thứ hai. Không ít người đã trở thành người Việt và cũng nhiều người đóng góp công sức phát triển 21 kinh tế, mở mang văn hóa, được nhân dân và chính sử Việt Nam ghi công… Hai là những người Hoa “tị nạn chính trị” trong khoảng thời gian Trung Quốc xảy ra loạn lạc hay những phen “thay đổi sơn hà”. Những đợt di dân tương đối lớn này đã xảy ra vào các thời Tam quốc, cuối đời Tống, cuối thời Minh và trong đại chiến thế giới thứ hai khi Nhật đánh vào Trung Hoa… Ba là những thường dân đi tìm đất làm ăn” [71, tr. Ở Nam Bộ, những người Trung Hoa di cư đến vào khoảng thế kỷ 17 và kéo dài trong những thế kỷ tiếp theo, những người di dân đến miền Nam Việt Nam phần lớn là những người nông dân, thợ thủ công nghèo đói vì chiến tranh, vì thiên tai, dịch bệnh, là những thương nhân kiếm tìm một vùng đất mới, là những phần tử bất hảo, những kẻ tội phạm đang bị truy nã, là quan lại và binh lính ra đi với tư tưởng “phản Thanh phục Minh” (còn gọi là “bài Thanh phục Minh).
Các chúa Nguyễn đã thực hiện những chính sách khôn khéo và ôn hòa với người Hoa di cư, giao cho họ quyền cai quản từng vùng đất, biến họ thành một bộ phận dân cư của mình, mặc khác sử dụng họ vào việc khai khẩn và bảo vệ những vùng đất mới.