Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Văn hóa thuộc Khoa Đông Nam Á học (Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh) của tác giả Lê Thị Hải Yến tập trung khảo cứu thiết chế tín ngưỡng Chùa Ông (Quan Đế Miếu) và Lễ hội Nghinh Ông Quan Thánh tại phường Đức Nghĩa, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Vùng đất Phan Thiết được cư dân người Việt khai phá từ đầu thế kỷ XVII và gắn liền với truyền thống khai thác thủy hải sản, chế biến nước mắm từ thời Tổng Đức Thắng (năm 1809). Sau sự kiện nhật thực toàn phần ngày 24/10/1995, địa phương phát triển mạnh mẽ về du lịch nhưng các công trình nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa di tích và lễ hội dân gian địa phương vẫn còn hạn chế. Trong hệ thống di tích cổ tại Phan Thiết, Chùa Ông là trung tâm sinh hoạt văn hóa - tâm linh tiêu biểu của cộng đồng người Hoa và người Việt. Trải qua thời gian gián đoạn do chiến tranh, Lễ hội Nghinh Ông Quan Thánh đã được cộng đồng tổ chức phục hồi lại từ năm 1996.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể nhằm giải quyết các nhiệm vụ:

  1. Làm rõ bối cảnh lịch sử hình thành, nguồn gốc địa danh và đặc điểm tự nhiên - xã hội của vùng đất Phan Thiết.
  2. Khảo sát tiến trình di cư, định cư của người Hoa tại Bình Thuận và lịch sử khởi dựng Chùa Ông (Quan Đế Miếu).
  3. Khảo tả cấu trúc kiến trúc, hệ thống bài trí thờ tự và nguồn gốc các hiện vật cổ tại di tích Chùa Ông.
  4. Tái hiện chi tiết quy trình tổ chức Lễ hội Nghinh Ông Quan Thánh gồm 16 nghi lễ thuộc phần Lễ và quy cách diễu hành của 4 bang hội trong phần Hội.
  5. Phân tích chức năng văn hóa, tầm ảnh hưởng tâm linh của Chùa Ông cùng lễ hội đối với đời sống cư dân, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị gắn với phát triển du lịch.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu chính: Tổng quan lịch sử, kiến trúc Chùa Ông (Quan Đế Miếu), quy trình thực hành Lễ hội Nghinh Ông Quan Thánh và tác động tâm linh - xã hội của di tích, lễ hội.
  • Không gian nghiên cứu: Tập trung chủ yếu tại di tích Chùa Ông và địa bàn phường Đức Nghĩa, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
  • Thời gian nghiên cứu: Quá trình khảo sát điền dã thực hiện từ ngày 10/4/2009 đến 10/6/2009 trong đợt thực tập tốt nghiệp, tiếp tục bổ sung tư liệu lưu trữ đến ngày 25/8/2009. Khảo sát thực địa tại chùa diễn ra vào các ngày rằm, mùng một và một số ngày thường trong tháng 5/2009.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai dựa trên cơ sở quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc và quản lý lễ hội, bao gồm: Chỉ thị số 62-CT/TW ngày 08/11/1995 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường công tác người Hoa trong tình hình mới; Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 06/10/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của hội quần chúng; Kế hoạch số 2957/UBND-TH ngày 19/7/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận về tổ chức lễ hội văn hóa phục vụ du lịch; và Công văn số 297/VHTT-BT của Sở Văn hóa Thông tin Bình Thuận hướng dẫn thực hiện lễ hội. Nghiên cứu vận dụng lý thuyết về tiếp biến văn hóa (acculturation) và các quy luật giao lưu văn hóa giữa cộng đồng di dân người Hoa với người Việt bản địa.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm tái hiện quá trình hình thành di tích và lễ hội theo tiến trình thời gian; phương pháp định lượng trong khoa học xã hội để xử lý số liệu thống kê dân cư, địa lý; phương pháp điền dã dân tộc học (quan sát thực địa, phỏng vấn, khảo sát hành vi tín ngưỡng của khách viếng chùa).

Nguồn dữ liệu sử dụng trong văn bản gồm:

  • Tài liệu thành văn và địa chí: Địa chí Bình Thuận (Sở Văn hóa Thông tin Bình Thuận, 2003); Dân tộc học và những vấn đề xã hội hiện đại (NXB Khoa học Xã hội, 2006); Phan Thiết - Thành phố du lịch (NXB Thông Tấn, 2004); Phan Thiết - Truyền thống đấu tranh cách mạng (1989); Phan Thiết - Thành phố anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (1999); Đại Nam nhất thống chí.
  • Hồ sơ lưu trữ và báo cáo khoa học: Báo cáo khoa học Lễ hội nghinh ông của người Hoa ở Phan Thiết (Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Bình Thuận); Báo cáo số 306/VHTT ngày 10/10/1996 và Báo cáo số 65/VHTT ngày 07/9/2005 của Sở Văn hóa Thông tin Bình Thuận; Báo cáo ngày 28/9/1996 của Phòng Văn hóa Thông tin thành phố Phan Thiết; Đĩa phóng sự lưu trữ Lễ hội nghinh Ông ở thành phố Phan Thiết.
  • Tư liệu hiện vật thực địa: Thần phả của Chùa Ông, văn bia khắc chữ Hán trên xà nóc, niên đại đúc trên chuông đồng cổ và hệ thống hoành phi, liên đối tại Quan Đế Miếu.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu về thành phố Phan Thiết - tỉnh Bình Thuận

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các dữ kiện địa lý, lịch sử, kinh tế, xã hội và di tích văn hóa của thành phố Phan Thiết:

  • Lịch sử và nguồn gốc địa danh: Vùng đất nguyên gốc tiếng Chăm mang tên "Hamu Lithít" ("Hamu" là xóm ruộng bàng, "Lithít" là ở gần biển). Khi người Việt vào định cư, âm cuối "Lithít" ghép với âm "Phan" tách từ hai địa danh Phan Rang, Phan Rí tạo thành tên gọi "Phan Tiết", xuất hiện chính thức từ năm 1693. Địa giới trải qua các mốc: năm 1692 đặt tên Thuận Phủ; năm 1694 đổi thành Thuận Thành trấn; năm 1697 lập phủ Bình Thuận gồm 4 đạo (Phan Rang, Phan Thiết, Ma Ly, Phố Hài); năm 1825 chuyển thành phủ lỵ phủ Hàm Thuận; ngày 20/10/1898 vua Thành Thái ra Dụ công nhận Phan Thiết thành thị xã; ngày 28/11/1933 trở thành thành phố cấp 3 theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương. Sau ngày giải phóng, ngày 25/8/1999 Chính phủ ban hành Nghị định số 81/1999/NĐ-CP nâng cấp Phan Thiết thành thành phố trực thuộc tỉnh Bình Thuận.
  • Địa lý, kinh tế và tài nguyên: Diện tích tự nhiên 206,45 km² (hoặc 19.180 ha), bờ biển dài 57,4 km. Địa hình chia làm 3 dạng chính: đồng bằng ven sông Cà Ty, cồn cát ven biển và vùng đất mặn. Sông Cà Ty chảy qua trung tâm chia thành phố làm hai ngạn (phía Nam là khu thương mại, phía Bắc là cơ quan hành chính, quân sự). Khí hậu nhiệt đới khô hạn, nhiệt độ trung bình năm 26°C - 27°C, số giờ nắng 2.500 - 3.000 giờ/năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 14,04%/năm, Khu công nghiệp Phan Thiết có quy mô 118 ha.
Tiêu chí khí tượng Đặc điểm / Giá trị đo đạc
Nhiệt độ trung bình năm 26,0°C – 27,0°C (nóng nhất tháng 4, tháng 5 lên tới 29°C; mát nhất tháng 2 và tháng 12 đạt 25,5°C)
Độ ẩm tương đối trung bình 78,0% – 80,7%
Lưu lượng mưa hàng năm Giao động từ 890,6 mm đến trên 1.335,0 mm
Tổng số giờ nắng 2.500 đến trên 3.000 giờ/năm
  • Dân cư và đơn vị hành chính: Năm 1999 có 18 đơn vị hành chính (14 phường, 4 xã). Dân số năm 1999 là 187.000 người (lao động phi nông nghiệp chiếm 83,28%); đến năm 2007 đạt 211.026 người, mật độ trung bình 1.026 người/km².
STT Đơn vị hành chính tiêu biểu Khu vực Vùng địa lý Dân số trung bình (2007) Mật độ (người/km²)
1 Phường Mũi Né Ngoại thành Trung du 25.134 784,02
2 Phường Hàm Tiến Ngoại thành Trung du 7.367 708,94
3 Phường Phú Hài Nội thành Trung du 11.795 972,22
4 Phường Đức Nghĩa Nội thành Đồng bằng 11.523 2.084,74
5 Phường Lạc Đạo Nội thành Đồng bằng 14.931 1.732,51
6 Phường Đức Thắng Nội thành Đồng bằng 10.052 8.530,10
7 Phường Đức Long Nội thành Đồng bằng 16.495 1.128,11
  • Hệ thống di tích tiêu biểu: Phan Thiết bảo tồn hơn 150 di tích, trong đó có 6 di tích cấp quốc gia: Trường Dục Thanh, Tháp Poshanư, Lăng mộ Nguyễn Thông, Đình làng Đức Thắng (khởi dựng cuối thế kỷ XVIII, làm lại năm 1841 - 1847, lưu giữ 7 sắc phong triều Nguyễn), Đình làng Đức Nghĩa (dời về Động Cát Thành Đức năm 1864, lưu giữ 13 sắc phong), Dinh Vạn Thủy Tú (xây dựng năm 1762, lưu giữ bộ cốt cá voi dài trên 20m, nặng hàng chục tấn, chuông đồng đúc năm Tự Đức thứ 25 - 1872 và 24 sắc phong triều Nguyễn).

Chương 2: Chùa Ông và lễ hội nghinh Ông Quan Thánh ở Phan Thiết

Chương này đi sâu khảo sát lịch sử di cư của người Hoa, kiến trúc Chùa Ông và toàn bộ quy trình thực hành lễ hội:

  • Lịch sử hình thành Chùa Ông: Người Hoa di cư từ các tỉnh ven biển Hoa Nam (Quảng Đông, Phúc Kiến) đến Bình Thuận vào cuối thế kỷ XVII, định cư ban đầu ở cửa biển Phố Hài và dọc sông Phố Hài đến Phú Long, sau đó chuyển vào định cư xen kẽ với người Việt tại các phường Đức Nghĩa, Đức Thắng, Lạc Đạo, Đức Long. Đến năm 1998, người Hoa ở Bình Thuận có 12.106 người (riêng Phan Thiết có 3.500 người), tổ chức sinh hoạt theo 4 bang hội: Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam. Năm 1725, người Hoa xây dựng chùa Bà Thiên Hậu tại làng Phước Thiện Xuân (sau bị chiến tranh tàn phá). Tháng 11 năm 1778, ngôi miếu thờ Quan Công được chính thức thiết lập tại phường Đức Nghĩa, sách Đại Nam nhất thống chí gọi là "Đền Quan Công", dân gian quen gọi là "Chùa Ông" dù bên trong không thờ Phật và không có sư trụ trì.
  • Kiến trúc và bài trí thờ tự: Di tích có tổng diện tích đất 2.439 m², kết cấu tổng thể hình chữ Kim (金), mái lợp ngói âm dương màu xanh sẫm. Tiền điện gian giữa thờ Quan Thánh Đế Quân, bên phải thờ Thiên Hậu Nương Nương, bên trái thờ Phước Đức Chánh Thần; hậu điện có gian thờ Bà Chúa Sanh (Kim Hoa Thánh Mẫu), Tứ ban hậu quán (thờ Tiền Hiền nam) và Tứ phước hậu quán (thờ Tiền Hiền nữ). Gian chính lưu giữ tượng Quan Công bằng gỗ quý gần 300 năm, tượng Quan Bình cầm ấn "Hán Thọ Đình Hầu" và Châu Xương cầm thanh Long đao. Miếu lưu giữ gần 100 bức hoành phi, câu đối cổ thế kỷ XVIII - XIX và chuông đồng cổ đúc từ tỉnh Quảng Đông thời nhà Thanh.
  • Phần Lễ trong Lễ hội Nghinh Ông: Lễ hội tổ chức định kỳ 2 năm một lần sau ngày rằm tháng 7 Âm lịch. Toàn bộ vật phẩm dâng cúng trong các ngày lễ đều thuần khiết chay tịnh (hương, đèn, hoa quả, bánh ngọt), không dùng vật hiến sinh. Quy trình phần Lễ gồm 16 bước tuần tự:
Thứ tự Tên nghi thức lễ Địa điểm thực hiện Nội dung và chủ thể tiến hành
1 Lễ "Thỉnh Thánh Mẫu" Chùa Ông (gian hữu sang gian giữa) Ban nghi lễ thỉnh lư hương Bà Chúa Sanh sang gian Quan Thánh để chứng giám đại lễ.
2 Lễ "Thỉnh kinh" Chùa Bửu Long Đoàn rước thỉnh bộ kinh và mời nhà sư người Việt uy tín về Quan Đế Miếu làm chủ lễ.
3 Lễ "Thỉnh nước" Giếng nước cổ Hố Lở (cách chùa 2 km) Nhà sư tế Thủy Thần/Long Vương, lấy nước giếng trong lành vào 3 thố sành dâng lên Quan Thánh.
4 Lễ "Thỉnh Chiêu Ứng Công" Hội quán Hải Nam Rước kiệu và bài vị 108 vị linh thần Hải Nam (chết oan trên biển, vua Duy Tân năm thứ 7 phong sắc) về miếu.
5 Lễ "Khai kinh" Chùa Ông Nhà sư tụng kinh Phật giáo, mở đầu tuần lễ tụng niệm cầu an.
6 Lễ "Yết Quan Thánh, cáo Tiền Hiền" Chùa Ông Thắp hương tri ân Quan Thánh, Tiền Hiền; đốt hình nộm Quan Thánh cưỡi chim hạc ("trình trời").
7 Đoàn Hội quán Phúc Kiến ra mắt Chùa Ông Biểu diễn âm nhạc cổ truyền (Sơn Nghiêm Tuấn, A hầu quan nhơn), dâng hương án bái tạ.
8 Đoàn Hội quán Quảng Đông ra mắt Chùa Ông Hơn 100 người diễu hành, thiếu nhi thổi sáo múa nhạc cổ, biểu diễn lân và võ thuật truyền thống.
9 Lễ "Chiêu vong linh Tiền Hiền" Am nhỏ ở Dốc Căng (cách miếu 1,5 km) Nhà sư người Việt và ban nhạc lễ người Việt cúng tế, chiêu hồn các bậc tiền nhân khai phá.
10 Lễ "Phóng đăng" Cửa biển Phan Thiết Thả hoa đăng dâng cúng Thủy Thần, 108 chư vị thần và các linh hồn tử nạn trên biển.
11 Lễ "Phóng sanh" Cửa biển Phan Thiết Nghi thức phóng sinh các loài thủy sản về biển khơi.
12 Đoàn Hội quán Triều Châu ra mắt Chùa Ông Hòa tấu nhạc lễ cồng chiêng, dâng lễ vật yết kiến Quan Thánh.
13 Đoàn Hội quán Hải Nam ra mắt Chùa Ông Trình diễn múa quạt, gánh hoa, dâng hương án bái tạ.
14 Lễ "Cúng thí thực" Sân Chùa Ông Bày hàng chục cộ bánh trên sàn gỗ đỏ, tụng kinh mở 12 cửa ngục, phát lộc cho hàng ngàn người nghèo.
15 Lễ "Cầu quốc thái dân an" Chùa Ông Cầu khẩn đất trời phù hộ quốc gia hưng thịnh, mùa màng bội thu, nhân dân an lạc.
16 Lễ "Phóng thuyền" Biển Phan Thiết Nghi thức thả thuyền giấy cứng chở đầy đủ vật dụng sinh hoạt và vàng mã ra khơi xa.
  • Phần Hội (Diễu hành đường phố): Diễn ra vào sáng sớm ngày thứ 3, quy tụ gần 1.000 người tham gia chính thức, kéo dài gần 1 km qua các tuyến phố chính. Đội hình dẫn đầu bởi cụ già uy tín ngồi xe đẩy cầm cờ lệnh, tiếp sau là hai người mãi lộ, đội múa rồng (con rồng dài 49m - 60m do 150 người thay phiên nhau biểu diễn), đi cà kheo, hoạt cảnh thầy trò Đường Tăng, đoàn xe hoa "Đồng tử bái Quan Âm" của bang Quảng Đông. Đội hình lần lượt gồm đoàn Quan Đế Miếu, Hội quán Phúc Kiến, Hội quán Quảng Đông, Hội quán Triều Châu, Hội quán Hải Nam. Sau đó là các nhân vật hóa trang Quan Bình (người Hải Nam đóng, tay ôm hộp ấn), Châu Xương (người Hải Nam đóng, mặt đen, cầm Long đao), ngựa thần và 6 kiệu rước các vị thần (Quan Thánh, Lưu Bị, Bà Thiên Hậu, Bà Chúa Sanh, Phước Đức Chánh Thần). Lễ diễu hành ghé bái tạ tại 4 hội quán bang hội và hàng trăm bàn thờ do người dân lập trước cửa nhà, có sự tham gia phối hợp của các đoàn nhạc cổ đình làng người Việt (Đức Thắng, Đức Nghĩa, Hưng Long, Vạn Thủy Tú).

Chương 3: Ảnh hưởng của chùa Ông và lễ hội nghinh Ông đến đời sống người dân Phan Thiết

Chương 3 phân tích sâu các giá trị thực tiễn và tác động xã hội:

  • Chức năng văn hóa - xã hội: Chùa Ông đóng vai trò là bảo tàng kiến trúc điêu khắc cổ, nơi bảo tồn các giá trị luân lý Nho giáo (tiêu biểu qua 5 đức tính của Quan Công: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín) và là trung tâm cố kết cộng đồng người Hoa với xã hội bản địa.
  • Tác động đến đời sống tâm linh cư dân:
    • Thực hành xin xăm: Từng có giai đoạn bị chính quyền cơ sở cấm đoán vì xem là mê tín, người dân đã đứng trước cổng chùa bỏ số vào nón lá để lắc xin, sau đó cơ quan quản lý đã cho phép khôi phục lại trong khuôn viên miếu.
    • Tục cúng sao giải hạn và cầu an: Người dân viết họ tên người thân lên giấy đỏ lưu tại chùa.
    • Tục sờ tượng ngựa thần xoa lên người khi ốm đau để cầu sức mạnh vượt qua bệnh tật.
    • Tục chui đầu vào lòng chuông đồng cổ để cụ già giữ miếu đánh 12 tiếng chuông, với niềm tin được tổ tiên bảo bọc, tai qua nạn khỏi trong 12 tháng của năm.
    • Lễ hái lộc đêm Giao thừa kéo dài từ thời khắc chuyển giao năm mới đến tận 2 giờ sáng.
  • Đề xuất bảo tồn và phát triển: Tác giả kiến nghị chính quyền địa phương và ngành văn hóa thông tin cần quy hoạch không gian lễ hội, hỗ trợ kinh phí trùng tu các hạng mục gỗ mục nát, mở rộng quảng bá Lễ hội Nghinh Ông thành sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù của thành phố Phan Thiết.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã đạt được các kết quả cụ thể dựa trên số liệu và dữ kiện thực tế:

  • Khảo cứu niên đại xây dựng chính xác của Chùa Ông vào tháng 11 năm 1778, đính chính các quan niệm nhầm lẫn về chức năng tôn giáo (khẳng định đây là miếu thờ thần linh, không thờ Phật, không có sư trụ trì nhưng có sự dung hợp Phật giáo sâu sắc qua các nghi lễ).
  • Thống kê và hệ thống hóa toàn bộ 16 nghi lễ của phần Lễ và trật tự đoàn diễu hành dài 1 km với sự tham gia của gần 1.000 người trong phần Hội của Lễ hội Nghinh Ông.
  • Ghi nhận chi tiết các thực hành tín ngưỡng dân gian đặc trưng tại địa phương (chui đầu vào chuông gõ 12 tiếng, xoa ngựa thần trị bệnh, xin xăm bằng nón lá).
  • Đóng góp khoa học: Cung cấp tư liệu điền dã thực tế về quá trình cộng cư, giao lưu văn hóa và tinh thần đoàn kết Việt - Hoa tại cực Nam Trung Bộ, bổ sung tài liệu tham khảo cho chuyên ngành Văn hóa Đông Nam Á học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài thực hiện trong giai đoạn thực tập ngắn (tháng 4 đến tháng 6/2009), thời điểm này không trùng vào chu kỳ 2 năm một lần của Lễ hội Nghinh Ông (vốn diễn ra sau rằm tháng 7 Âm lịch). Do đó, dữ liệu về phần hội chủ yếu dựa trên hồi ức nhân chứng, báo cáo khoa học của Sở Văn hóa Thông tin và tư liệu băng hình lưu trữ, chưa thể trực tiếp quan sát toàn cảnh một kỳ hội diễn ra trên thực tế năm 2009.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, quan sát điền dã trực tiếp các kỳ Lễ hội Nghinh Ông tiếp theo để cập nhật những biến đổi về quy mô tổ chức, đồng thời so sánh đối chiếu tín ngưỡng Quan Công tại Phan Thiết với các thiết chế Quan Đế Miếu của người Hoa ở khu vực Tây Nam Bộ và các quốc gia Đông Nam Á.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên và giảng viên các chuyên ngành Văn hóa học, Đông Nam Á học, Dân tộc học, Lịch sử Việt Nam và Quản trị dịch vụ du lịch.
  • Cơ quan quản lý văn hóa, Bảo tàng tỉnh Bình Thuận và Phòng Văn hóa Thông tin thành phố Phan Thiết trong công tác lập hồ sơ di tích, quy hoạch không gian lễ hội dân gian gắn với phát triển du lịch.
  • Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 với bản khảo tả chi tiết 16 nghi lễ truyền thống và Chương 3 về các tập tục tâm linh dân gian độc thọ của cư dân bản địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao Quan Đế Miếu ở phường Đức Nghĩa không thờ Phật và không có sư trụ trì nhưng dân gian vẫn quen gọi là "Chùa Ông"?
Về mặt thiết chế, đây là một ngôi miếu lớn thờ Quan Thánh Đế Quân (Quan Công) cùng các thần linh dân gian Trung Hoa và Tiền Hiền, không có sư trụ trì. Tuy nhiên, do tâm lý sùng bái thần linh sâu sắc của cả người Hoa lẫn người Việt, người dân quen dùng từ "Chùa" theo tập quán dân gian để chỉ các nơi thờ tự tôn nghiêm, đồng thời trong các đại lễ, ban quản lý miếu luôn thỉnh kinh và rước nhà sư Phật giáo người Việt về làm chủ lễ.

2. Nguồn gốc và ý nghĩa của nghi thức "Thỉnh Chiêu Ứng Công" trong phần Lễ là gì?
Nghi lễ này rước kiệu bài vị của 108 vị linh thần người Hải Nam từ Hội quán Hải Nam về Quan Đế Miếu. Đây là 108 người di dân Hải Nam chết oan trên biển do cướp biển và bão tố vào cuối thế kỷ XVII, sau khi mất được xem là hiển linh phù trợ ngư dân và được vua Duy Tân năm thứ 7 ban sắc phong thần. Trong 4 hội quán, duy nhất Hội quán Hải Nam có kiệu thờ và nóc nhà cao hơn để tôn vinh 108 vị thần này.

3. Nghi lễ "Thỉnh nước" trong Lễ hội Nghinh Ông được thực hiện tại địa điểm nào và có ý nghĩa gì?
Nghi lễ được thực hiện tại giếng nước cổ Hố Lở (cách Quan Đế Miếu 2 km về phía Nam). Nhà sư chủ lễ tế Long Vương và Thủy Thần, lấy nước giếng đầu nguồn trong lành đổ vào 3 thố sành dâng lên Quan Thánh nhằm cầu nguyện nguồn nước vĩnh hằng cho sinh hoạt và mùa màng tươi tốt của cư dân.

4. Điểm độc đáo nhất về vật phẩm dâng cúng trong 3 ngày diễn ra Lễ hội Nghinh Ông Phan Thiết là gì?
Toàn bộ lễ vật dâng cúng tại Quan Đế Miếu và 4 hội quán bang hội trong các ngày lễ đều mang tính thuần khiết của Phật giáo gồm hương, đèn, hoa quả, bánh ngọt và sử dụng thức ăn chay; hoàn toàn không sử dụng vật phẩm hiến sinh hay đồ mặn như một số lễ hội dân gian khác.

5. Tập tục "chui đầu vào lòng chuông đồng" tại Chùa Ông mang ý nghĩa tâm linh gì đối với người dân địa phương?
Người dân tin rằng khi chui đầu vào lòng chiếc chuông đồng cổ để cụ già giữ miếu gõ đúng 12 tiếng chuông, tổ tiên và thần thánh sẽ nâng giữ đầu óc thanh tịnh, phù hộ độ trì giúp bản thân và gia đình tai qua nạn khỏi trong suốt 12 tháng của một năm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Hải Yến đã phác họa bức tranh toàn diện về lịch sử, kiến trúc Chùa Ông và quy trình thực hành Lễ hội Nghinh Ông Quan Thánh tại thành phố Phan Thiết. Tác phẩm làm sáng tỏ sự hòa hợp, tiếp biến văn hóa sâu sắc giữa cộng đồng người Hoa và người Việt thông qua các nghi lễ tâm linh thuần khiết và hoạt động hội hè dân gian sống động. Đây là công trình nghiên cứu điền dã có giá trị tư liệu thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho việc nghiên cứu văn hóa dân gian địa phương và định hướng bảo tồn di sản gắn với du lịch bền vững.