Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất chương trình truyền hình thực tế phát trên đa nền tảng. Chương 2: Sản xuất chương trình truyền hình thực tế phát trên đa nền tảng ở Việt Nam (khảo sát chương trình “Gõ cửa thăm nha” và “Quy ông hoàn my”) Chương 3: Vấn đề và giải pháp nâng cao hiệu quả chất lượng sản xuất chương trình truyền hình thực tế phát trên đa nén tang. 12 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE SAN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYEN HÌNH THỰC TE PHÁT TREN DA NEN TANG 1. Hệ thống khái niệm 1.
Chương trình truyền hình Thuật ngữ truyền hình (Television) xuất phát từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp. Trong giáo trình The Routledge Companion to British Media History, Gray (2015, 484 - 486) có định nghĩa rang: “Truyén hình là một loại hình truyén thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh di xa bằng sóng vô tuyến. ” Như vậy, sự ra đời của truyền hình vào những năm cuối thé ky 20 và bùng phát mạnh vào những năm sau đó đến nay, cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật truyền hình đã góp phần không nhỏ trong quá trình thúc đây và hình thành nên một phương tiện truyền thông đại chúng cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia. Theo TS Trần Bảo Khánh trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình” [12]: “Chương trình là kết quả cuối cùng của quá trình giao tiếp với công chúng.
Trong cuốn “Giáo trình báo chí truyền hình” [17], tác giả Dương Xuân Sơn định nghĩa: “Chương trình truyền hình là sự liên sự liên kết, sắp xếp hợp lý tư liệu, hình ảnh, âm thanh trong một thời gian nhất định, được mở dau bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ưng yêu câu tuyên truyén của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán gia”. Với sản phẩm báo chí truyền hình, có thể được thực hiện đưới nhiều dạng chương trình và thê loại khác nhau: Nếu phân chia theo tiêu chí tính chất thời sự của thông tin thì gồm có chương trình Thời sự, chương trình Chuyên đề khác nhau. Nếu phân chia theo lĩnh vực phản ánh thì gồm chương trình về Kinh té, Văn hóa, Quân đội, Giáo dục, Y tế, Thể thao. Và nếu phân chia theo tiêu chí 13 mục đích của thông tin thì chủ yếu có các chương trình tin tức thời sự, chương trình giải trí.
Trong luận văn thạc sỹ “Sản xuất chương trình truyền hình chuyên dé trong boi cảnh truyền thông da phương tiện ” của tac giả Bùi Thị Bích Hường có đề cập đến thuật ngữ chương trình truyền hình (Television program) được bao gồm các chương trình “thời sự”, chương trình “kinh tế”, chương trình “văn hóa”, các chương trình “trò chơi truyền hình” (gameshows), v. được phân bồ trên các kênh truyền hình và được thể hiện bằng những nội dung cụ thể thông qua âm thanh và hình ảnh. Qua đó, có thé thấy rõ ràng mỗi một thé dạng chương trình truyền hình đều có chức năng cũng như nhiệm khác nhau, mục đích hướng đến đối tượng tiếp cận sản phẩm khác nhau. Căn cứ vào những yếu tố trên, để sản xuất ra chương trình truyền hình trước tiên sẽ phải xây dựng ra format chương trình với nội dung chính là khung cau trúc chương trình, có nội dung thể hiện, hình thức thể hiện và xác định thời lượng rõ ràng.
Mỗi format chương trình phải có thời gian khung giờ dự kiến phát sóng, kênh dự kiến phát sóng vì mỗi chương trình sẽ được phát trên từng kênh phat sóng khác nhau dé hướng đến đúng đối tượng khán giả khác nhau mà họ đang muốn tiếp cận. Chương trình truyền hình thực tế Thuật ngữ “Thực tế” trong tiếng Anh là Reality, nó mang ý nghĩa là “chân thực”, là “có thực”. Thuật ngữ “Thực tế” trong tiếng Việt mà Từ điển Tiếng Việt (NXB Từ điển Bách Khoa) đã định nghĩa “/à những cái tôn tại trước mắt có thé thấy và kiểm soát được ”. Với chương trình truyền hình thực tế, có nhiều cách tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau nên từ đó nhiều học giả đưa ra nhiều định nghĩa truyền hình thực tế khác nhau: 14 Theo tác giả Nguyễn Thị Hằng [10]có đề xuất khái niệm truyền hình thực tế trong luận văn “Nghiên cứu truyễn hình thực tế ở Việt Nam” (2012) như sau: “Chương trình truyén hình thực tế là các chương trình dé cao tính trải nghiệm.
Miêu tả thực những tình huống, hoàng cảnh và sự kiện không hé sắp đặt trước trong kịch bản. Nội dung các chương trình không thể dự đoán trước và rất hấp dan khán giả” như James Friedman, Mitell. Tuy nhiên, theo Holmes (2015, trang 494) đã khái quát rằng: Chương trình truyền hình thực tế đại diện cho một nên tảng đề khám phá và tranh luận về nhiều khía cạnh của truyền hình đương đại, là thể loại có nội dung trải dài qua các vấn dé liên quan về lịch sw, chính trị, cá nhân đại diện (giới tính, giai cấp, sắc tộc và tình dục), sự hòa giải của các mô hình về bản ngã, cấu trúc văn hóa và kinh tế của những người nổi tiếng đương thời. Đây cũng là sự trỗi dậy của truyền hình tương tác và truyền hình đa nền tảng, cho phép kết nối, người hâm mộ đặt câu hỏi về bộ phận tiếp nhận.
Vào đầu những năm 2000, truyền hình thực tế trên thế giới bắt đầu có sự xuất hiện của tính tương tác với khán giả dưới hình thức bình chọn, đánh giá. Đây cũng được xem là cách thức dé khán giả khám phá phương thức đa nền tảng được kết hợp cả công nghệ truyền thông 'mới' và 'cũ'. Điều này rất quan trọng, nó xoay quanh việc thông qua đánh giá của khán giả kế cả đánh giá về đạo đức của những người tham gia truyền hình thực tế, nhất là khi họ bị “đóng khung” bởi chương trình và góp phần quyết định người thắng hay thua trong một chương trình truyền hình (Wood và Skeggs, 2011). Trong giai đoạn 2001 — 2005, truyền hình thực tế bắt đầu xoay quanh các chủ đề phô biến và đời thường như: hẹn hò, kết hôn, nuôi day con cái và thể hiện bản thân.
Vào thời điểm đó, truyền hình thực tế bắt đầu được mở rộng từ yếu tô cạnh tranh sang thử thách và yếu tố khám phá., truyền hình thực tế cũng đã áp dụng chức năng sư phạm vào trong chương trình, dạy người xem là khán giả cách ứng xử, cách tồn tại trong môi trường khắc nghiệt. Tuy nhiên, chương 15 trình truyền hình thực tế vẫn đảm bảo yếu tố giải trí cho họ thông qua các trò chơi, tình huống, thử thách. Chương trình truyền hình thực tế có nhiều định dạng khác nhau, bên cạnh định dang là một cuộc thi, có thí sinh tham gia bang kha nang ban than va gianh chiến thang. Người chiến thắng trong một chương trình truyền hình thực tế thường là người được xem có năng lực chính của bản thân được họ thể hiện trên truyền hình chứ không phải là thí sinh được xem là người chơi tốt.
Phần lớn những gì mà một số học giả, chuyên gia gọi là chương trình lối sông được truyền hình tìm cách biến đổi như hình ảnh bản thân cá nhân, thay đôi hình ảnh ngôi nhà, công việc kinh doanh, cho đến đứa trẻ, gia đình và cộng đồng. thường được thảo luận dưới nhãn hiệu truyền hình thực tế. Sản xuất chương trình Về phương thức sản xuất chương trình truyền hình, có thé hiểu đây là toàn bộ quá trình sản xuất ra một sản phẩm tiêu thụ, cụ thể là chương trình truyền hình, còn gọi là sản phẩm truyền thông. Đề sản xuất được sản phẩm đáp ứng các tiêu chi đặt ra ban đầu theo nhu cầu, mong muốn của đơn vị sản xuất, nhà đài, nhà tài trợ đặc biệt là đáp ứng được nhu cầu thị hiéu người dùng thì sản phẩm truyền thông phải được sản xuất đúng với quy trình.
Sản phẩm chương trình truyền hình hoàn thiện là kết quả của quá trình sáng tạo, tạo ra sản phẩm của một tập thể trải qua nhiều công đoạn, nhiều bước, nhiều việc khác nhau từ phát triển ý tưởng đến khâu phát hành.TS Duong Xuân Son đã viết trong “Giáo trình báo chí truyền hình ”: “Dựa vào khả năng kỹ thuật và công nghệ, có thể phân chia ra nhiễu loại phương thức sản xuất chương trình truyén hình như: chương trình băng từ, chương trình phim nhựa, chương trình phát trực tiếp. Trong đó, sản xuất chương trình truyền hình thường có hai loại: băng từ và trực tiếp, ngày nay thường gọi là sản xuất truyền hình trực tiếp và ghi hình phát sóng. 16 Theo nội dung tài liệu training lưu hành nội bộ về “Nghiệp vu sản xuất sản phẩm truyền thông” của Tập đoàn truyền thông Kantana — Thái Lan triển khai tại Tổng công ty Lasta Multimedia (2008)[32] cho rang: Sản xuất sả phẩm truyền thông bắt buộc theo hệ thống quy trình thống nhất các bước của mỗi đơn vị tổ chức, mỗi thé loại chương trình, đồng thời cũng chỉ ra “Dé sản xuất được một chương trình truyén hình theo đúng quy trình, don vị sản xuất phải dam bảo có đủ ba yếu tô cơ bản: Nhân sự, kinh phí và hệ thong máy móc thiết bị kỹ thuật ”. Nhân sự: Con người luôn giữ vai trò và cũng là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại của chương trình, nhân sự kêu gọi tài trợ, nhân sự tạo ra hoặc tìm kiếm (mua format), nhân sự tổ chức sản xuất tiền kỳ là xây dựng kịch ban, nhân sự sản xuất, nhân sự trong giai đoạn hậu kỳ và nhân sự trong quá trình kiểm duyệt sản phẩm trước phát hành.
Kinh phí: Yếu tố kinh phí gần như yếu tố quyết định cho việc tiến hành sản xuất sản phẩm truyền thông nói chung, chương trình truyền hình nói riêng. Kinh phí trong sản xuất có ba dòng cơ bản: e Kinh phí Doanh nghiệp tự chủ: Dòng tiền mà đơn vi sản xuất tự bỏ ra để sản xuất chương trình với mục đích kinh doanh sản phẩm qua hình thức cung cấp quảng cáo truyền thông khi sản phâm được phát hành. e _ Kinh phí đến từ nguồn tài trợ: Dòng tiền đến từ các nhà tài trợ, đầu tư vào chương trình để nhận lại quyền lợi tài trợ là được quảng bá truyền thông cho sản pham, sản phẩm xuất hiện trong chương trình gián tiếp tiếp cận công chúng khán giả. e Kinh phí có nguồn từ hợp tác - vận hành: Dòng tiền đến từ kinh phí nhà nước, cung cấp cho nhà đài, chương trình được sản xuất nhăm mục đích phục vụ công tác quảng bá, tuyên truyền theo định hướng, chỉ đạo của cơ quan nhà nước (thường xuất hiện ở các đơn vị trực thuộc địa phương như hệ thống các Đài địa phương).