Chương 1: Lý luận chung về tô chức sản xuất các chương trình tư van sức khỏe người cao tuôi trên truyền hình. Chương 2: Thực trạng tổ chức sản xuất các chương trình tư vấn sức khỏe người cao tuôi trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam. Chương 3: Những van đề đặt ra và giải pháp nâng cao hiệu quả của việc TCSX các chương trình tư van sức khỏe người cao tuôi trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam. 21 CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VE TO CHỨC SAN XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH TƯ VAN SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUOI TREN TRUYEN HÌNH 1.
MOT SO THUAT NGỮ, KHÁI NIỆM LIEN QUAN DEN DE TAI 1. Cac khai niém 1. Chương trình truyền hình Trước tiên cần làm rõ khái niệm “truyền hình”. Nghĩa của từ “truyền hình” trong cuốn Từ điển Tiếng Việt là “truyén hình ảnh, thường đông thời có cả âm thanh di xa bằng radio hoặc bằng đường dây.TS Dương Xuân Sơn biên soạn cuốn Giáo trình Báo chí Truyền hình (NXB Đại Học Quốc Gia, 2009) đã nêu: Thuật ngữ truyền hình có nguồn gốc từ tiếng La- Tinh và tiếng Hy Lạp.
Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là ”ở xa” còn “videre” là "thay được”, còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa. Ghép hai từ đó lại “Televidere” có nghĩa là xem được ở xa. Tiếng Anh là “Television”, tiếng Pháp là “Television”, tiếng Nga gọi là “TeneBwxeHwe”. Dù có phát triển bat cứ ở đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi của “truyền hình” cũng có chung một nghĩa là nhìn được từ xa.
Cũng theo PGS.TS Dương Xuân Sơn: “Truyền hình là một loại hình truyén thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thé hoặc một cảnh di xa bằng sóng vô tuyến điện”. Cũng theo tác giả PGS.TS Dương Xuân Sơn, “Truyền hình không phải là một không gian thảo luận mà là một không gian dé thé hiện: nó là phương tiện truyền thông đại chúng thiết yếu để phổ biến những mô hình văn hoá và giải thích thế giới. Những mô hình văn hoá này hoà nhập vào trong mỗi từ, mỗi hình ảnh, mỗi âm thanh do truyền hình phát ra, như trong những ngôn ngữ thường ngày” [32, tr. Nhà báo, Thạc sĩ Vũ Quang - Trung tâm dao tao Đài Truyền hình Việt Nam đã nêu: “Truyén hình vay mượn của điện ảnh ngôn ngữ cùng các thủ pháp dựng phim, nhưng nó lại có sự khác biệt la kha năng đưa những hình anh của cuộc sống hiện 22 tại lên màn hình, tạo ra sự hành động và cùng sống với nhân vật và sự kiện.
Đó chính là tính chất đặc biệt của truyền hình giữa không gian tiếp nhận và màn hình” PGS.TS Nguyễn Văn Dững, tác giả cuốn giáo trình “Cơ sở lý luận báo chí”, đã nêu như sau: “Truyén hình là kênh truyền thông truyền tải thông điệp bang hình ảnh động với nhiều màu sắc vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động. Vậy nên, truyền hình đem lại cho công chúng bức tranh sống động với cảm giác như đang trực tiếp tiếp xúc và cảm thụ. Đó là bức tranh về cuộc sống thật nhưng được thu nhỏ, được “rút gọn”, được “làm giàu thêm về ý nghĩa, làm sáng rõ hơn về hình thức ”, được chat lọc hơn vẻ ý tưởng và làm phong phú hơn về giá trị tinh than giúp người xem nhận thức rõ hon, đúng hơn và gan gũi sinh động hơn về những sự kiện và van dé của cuộc sống”. Đối với nghĩa của “chương trình” thì trong Từ điển Tiếng Việt thì đó là “toàn bộ những dự kiến hoạt động theo một trình tự nhất định và trong một thời gian nhất định”.
Và trong thực tiễn của đời sống báo chí, cụ thể là phát thanh và truyền hình thì thuật ngữ “chương trình” thường được sử dụng phổ biến. Trong cuốn Sản xuất chương trình truyền hình của tác giả TS. Trần Bảo Khánh có nêu: “Chương trình truyền hình là sản phẩm truyền hình, là kết quả của hoạt động của truyền hình, trong đó bao hàm cả quá trình sáng tạo ra nó từ nhiễu công đoạn khác nhau, ton tại ở nhiều mức độ khác nhau. Mỗi chương trình truyền hình phục vụ cho đối tượng nào cũng phải trả lời được các câu hỏi: - Cái gì? Nội dung.
- Như thế nào? Thể loại, hình thức thể hiện. - Cho ai? Toàn thé công chúng hay đối tượng chuyên biệt. - Khi nào? Thời gian phù hợp hay bắt buộc. Cũng như các sản phẩm báo chí khác, truyền hình tác động đến công chúng và ngược lại, thông qua quan hệ: Nhà báo - tác phẩm - công chúng.
Bởi vì chu trình thông tin diễn ra liên tục, nên bất cứ chương trình truyền hình nào cũng cần mang “tính định kỳ” dé cập nhật, bổ sung đầy đủ những sự kiện đã và đang diễn ra mà công chúng quan tâm. Rôi sau đó, công chúng sẽ xem thời gian phát sóng của 23 chương trình đó dé tiếp tục theo dõi van dé họ đang quan tâm. Từ những tải liệu nghiên cứu được phân tích ở trên kết hợp với thực tiễn, tác giả luận văn rút ra định nghĩa: “Chương trình truyền hình là một sản phẩm báo chỉ mà thông điệp được truyền tải bằng hình ảnh động và âm thanh giúp người xem cảm nhận được bức tranh sống động vé cuộc sống tạo nên những cảm xúc chân thật và gần gũi cho người xem. Truyén hình là một sản phẩm mang tinh tập thể, bao hàm nhiều công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn déu là một mắt xích quan trọng dé tạo nên được một sản phẩm hoàn chỉnh, có chất lượng và tạo nên những giá trị cho người xem ”.
Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình Trong cuốn Lý Thuyết Tổ Chức (NXB Chính Trị 2013) — PGS. TS Nguyễn Hữu Tri nêu “tổ chức” là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức”. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tổ chức là việc sắp xếp, bồ trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung” [30,tr. Tổ chức còn được hiểu theo một số nghĩa sau: - Sap xép và bố tri những bộ phận khác nhau dé cung thuc hién 1 nhiém vu hoặc cùng 1 công việc chung.
- Sap xép, bồ trí dé làm cho có trật tự, nề nếp. - Tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự. Còn hiểu theo nghĩa thông thường thì “tổ chức” là liên kết nhiều người lại dé thực hiện 1 công việc nhất định đã dé ra theo kế hoạch. Tô chức đặt ra dé thực hiện nhiệm vụ.
Mỗi tổ chức đều có mục đích, nhiệm vụ riêng va dựa trên một quy chế nhất định. Và người nắm vai trò tổ chức sẽ trực tiếp thực hiện việc điều phối các bộ phận, nhân sự dé triển khai công việc với chức năng, quyền hạn nhất định. Cũng theo Từ điển Tiếng Việt: “Sản xuất là tạo ra vật phẩm cho xã hội bằng cach dùng tu liệu lao động tác động vào đối tượng lao động [30,tr.342], là hoạt động bằng sức lao động của con người hoặc băng máy móc, chế biến các nguyên liệu thành ra của cải vật chất cần thiết. Sản xuât là quá trình mà con người làm ra sản phâm đê sử dụng hoặc đê trao đôi 24 trong thương mại.
Dựa vào những vấn đề chính, sản xuất bao gồm việc: Sản xuất cái gi? Sản xuất như thé nào? Sản xuất cho ai? Giá thành sản xuất và làm thé nào dé tôi ưu hóa việc sử dung và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản pham? Muốn tô chức sản xuất tạo ra sản phẩm, đầu tiên cần phải phân chia quá trình sản xuất tạo nên sản phẩm thành các quá trình riêng. Căn cứ vào phương pháp, kỹ năng khác nhau, dựa trên lao động máy móc sẽ hình thành nên loại hình sản xuất, cơ cấu sản xuất, lập kế hoạch sản xuất và t6 chức công tác điều độ sản xuất. Dé sản xuất ra sản phẩm cũng cần các bước tiến hành có tính chất bắt buộc theo một trình tự nhất định băng việc như: T Tập hợp các nhóm người, các phương thức tốt nhất, phù hợp nhất và sử dụng sức lao động (chân tay, trí óc) với các tư liệu sản xuất hiện có (máy móc, thiết bị) để sản xuất ra một sản phâm có hiệu quả theo đúng yêu cầu đã đặt ra. Do vậy, từ khái niệm “chương trình truyền hình” ở trên ta có thể hiểu “sản xuất chương trình truyền hình chính là quá trình hình thành một chương trình truyén hình.
Trong đó quá trình này gồm nhiều các công đoạn khác nhau dựa trên khâu tổ chức ”. Tất cả các chương trình do các đài truyền hình hay do hãng truyền hình sản xuất đều trải qua 03 giai đoạn chính là: Tién kỳ (còn gọi là giai đoạn chuẩn bị), ghi hình và hậu ky. TONG x TRIEN KHAI So đô 1.1: Quy trình sản xuất một chương trình truyền hình 25 Dé sản phâm truyén hình đên được với công chúng cân trải qua 6 bước như sơ đồ trên tương ứng với 3 khâu cơ bản, đó là: Triển khai 2. Phân phối Bat cứ một hoạt động sản xuất nào cũng cần có kế hoạch tô chức sản xuất ti mi, trong đó cần phải cân bằng tốt các vai trò của những bộ phận trong dây chuyền sản xuất nhằm tạo ra sức mạnh liên kết đặc biệt.
Bên cạnh yếu tố con người thì máy móc, phương tiện kỹ thuật cũng là yếu tố quan trọng. Hơn nữa, để tạo ra một chương trình truyền hình, cần phải có một nguồn lực tài chính lớn hơn nhiêu so với sản phâm báo chí khác. Tổng đạo diễn (PV, BTV, QP, KT.2: Sơ đồ các nhân sự cùng tham gia sản xuất chương trình truyén hình Có nhiều dạng chương trình truyền hình nếu phân chia theo phương thức sản xuất có chương trình hậu kỳ và chương trình phát trực tiếp. Chương trình trực tiếp được tổ chức sản xuất dựa trên sự phát triển nhanh của công nghệ.
Tuy nhiên thì giá thành của loại chương trình này rât cao, đòi hỏi sự chuân xác lớn nhân sự 26 chuyên nghiệp, chuẩn bị kỹ về kịch bản, quan sát hiện trường, dự kiến các tình huống có thé xảy ra. Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình bao gồm những nhiệm vụ như sau: - Tổ chức nhân sự: phân công, giám sát, đôn đốc và liên kết đội ngũ nhân sự trong quá trình sản xuất - Tổ chức kỹ thuật: (máy móc, trang thiết bị truyền hình): + Yêu cau về kỹ thuật tiền kỳ + Yêu cầu về kỹ thuật hậu kỳ - Tổ chức nội dung: Lựa chọn, sắp xếp thông tin theologic, trình tự nhất định; định hướng nội dung; dự toán chi phí sản xuất.