MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Xã hội phát triển, đời sống con người tăng lên, chất lượng cuộc sống của con người được nâng cao, con người có điều kiện chăm sóc sức khỏe và đáp ứng tôi đa nhu cầu cơ bản của mình. Cùng với chủ trương của Nhà nước trong việc hạn chế sinh đẻ đã làm cho số lượng người cao tuổi ở nước ta tăng lên đáng kẻ. Ở nước ta, theo du bao dân số của Tổng cục Thống kê (2010) thi tỷ lệ người cao tuổi so với tổng dân số ở Việt Nam sẽ đạt đến con số 10% vào năm 2017, hay dân 36 Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn “gia hóa” từ năm 2017.
Việt Nam đang bước vào thời kỳ già hóa dân số với số người từ 60 tuổi trở lên là 9.604 người, chiếm tỷ lệ 10. Cùng với sự phát triển về kinh tế, xã hội của đất nước, phần lớn người cao tuổi ( NCT) có cuộc sốn 6n định về vật chat, tinh than. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận NCT đang phải lao động kiếm sống, sống cô đơn và đối mặt với nhiều nguy cơ bat lợi cho sức khỏe. Người cao tuổi Việt Nam hiện nay có tỷ lệ 6m đâu, tình trạng khỏe mạnh thấp.
Trung bình mỗi người phải chịu 14 năm bệnh tật trong tông số 73 năm trong cuộc sông (Tổng cục thống kê 2012, kết quả điều tra biến động dân số và nhà ở năm 2012, Hà Nội). Người cao tuổi được xem như vốn quý của xã hội bởi những đóng góp của họ về kinh nghiệm, kiến thức cho sự phát triển. Đồng thời là động lực tinh thần cho các thế hệ mai sau và là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình. Người cao tuổi cũng cần nhận được sự quan tâm, hỗ trợ từ gia đình, cộng đồng, Nhà nước trong việc đáp ứng về kinh tế, sự tham gia xã hội, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe dé đảm bảo chat lượng cuộc sống.
Ở Khánh Hòa, người cao tuổi tuy tudi cao, sức khỏe yếu nhưng NCT van luôn có nhiều đóng góp thiết thực cho sự phát trên của toàn tinh và cho đất nước. Trải qua một thời kỳ bom đạn, NCT Khánh Hòa là những nhân chứng trong từng giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Trong thời bình, họ tiếp tục cống hiến , đóng góp cho sự nghiệp quê hương, đất nước. Hòa trong dòng chảy của nhiệt huyết và công hiến ấy, NCT Khánh Hòa cũng phát huy “nguồn nội sinh” của mình bằng việc tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội, góp công sức trong sự nghiệp phát triển địa phương.
Nhận thức được tầm quan trong của người cao tuổi, các cấp, các ban ngành, và đặc biệt là các cấp hội NCT đã rất quan tâm và chăm lo đến đời sống, sức khỏe của hội viên. Nhiều hoạt động thiết thực nhằm tạo điều kiện để các cụ hưởng thụ văn hóa, được thông tin, sống vui, sống khỏe, sống hạnh phúc, đồng thời phát huy trí tuệ, kinh nghiệm sống, lao động, chiến dau của NCT trong gia đình va xã hội. Tuy vậy, hiện nay công tác chăm sóc, hỗ trợ xã hội của Nhà nước đối với người cao tuôi tại cộng đồng còn rất khó khăn. NCT vẫn chịu nhiều thiệt thòi ngay cả khi họ có sự trợ giúp từ phía xã hội.
Mặc dù tuổi đã cao song họ vẫn phải đi làm tự kiếm sống, nhiều người không được con cháu tôn trọng, nuôi dưỡng nên sống trong cô đơn, các cụ phải đối mắt với nhiều mối đe dọa từ thiên tai, thời tiết khi trái gió trở trời, các cụ thường ốm đau nhưng chưa được quan tâm một cách chu đáo dẫn đến khi phát hiện ra bệnh đã quá muộn. Trước thực trạng đó, cần hơn bao giờ hết những sự quan tâm về một mặt từ phía xã hội, gia đình dé NCT tại Khánh Hòa có một cuộc sống 4m no và an toàn. Tại xã Vĩnh Ngọc, Thành phố Nha Trang, nhiều hoạt động, nhiều chính sách dành cho NCT, đời sông của NCT đã phần nào được cải thiện rõ rệt. Họ được hỗ trợ về mặt vật chất, tài chính, về tinh thần va số lượng các cụ tham gia các sinh hoạt động đã có tính gia tăng một cách nghiêm túc, nhiệt tình.
Tuy vậy, NCT tại xã Vĩnh Ngọc vẫn đang gặp không ít những khó khăn trong cuộc sống, trong sinh hoạt hàng ngày. Nhiều cụ vẫn phải đi làm thuê làm mướn, nhiều cụ bán hàng tạp hóa, có cụ đi phụ hồ.đời sống thiếu an toàn đối với các cụ. Nhận thấy rõ điều này, NCT cần có sự quan tâm thiết thực hơn, cần có các chính sách thực tế hơn, mạnh hơn, đến với từng cụ, từng hoàn cảnh của các cụ để các cụ được sống một cuộc sống thoải mái hơn. Với những vấn đề thực tế trên, rõ ràng NCT cần được quan tâm, được chăm sóc, được bảo vệ dé họ hưởng thụ những ngày cuối đời dep dé, dé họ cống hiến chút kinh nghiệm quý báu của mình cho xã hội.
Vì vậy, tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Trợ giúp xã hội doi với Người cao tuổi tại cộng đồng ( Nghiên cứu trường hợp Xã Vĩnh Ngọc, Thanh phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoa)”. Với nghiên cứu này, tác giả mong muốn được tìm hiểu những chính sách mà NCT được hưởng trên địa bàn, từ đó tìm ra những hạn chế và đồng thời đưa ra những giải pháp mới nhằm khác phục những hạn chế trong công tác trợ giúp xã hội đối với NCT trên địa bàn nghiên cứu. Tông quan về van đề nghiên cứu 2. Nghiên cứu kinh nghiệm chăm sóc người cao tuổi trên thế giới Đề tài đã phân tích kinh nghiệm nghiên cứu của các nước trên thế giới thông qua báo cáo hội thảo “Nghién cứu tổng quan về vai trò gia đình và Nhà nước trong chăm sóc Người cao tuổi: Những van đề thực tiễn và chính sách” của tác giả Trần Thị Minh Thi (2014).
Vì lý do không có điều kiện dé tiếp cận cụ thé các nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, đề tài đã dựa vào những khái quát của tác giả Trần Thị Minh Thi những hoạt động chăm sóc NCT tại một sỐ quốc gia, cu thé như sau: Tại Han Quoc: trién khai hệ thông bảo hiểm chăm sóc suốt đời (long — term care insurance). Ở Hàn Quốc có một hình thức chăm sóc, trợ giúp NCT đó là “ Bảo hiểm chăm sóc trọn đời” cụ thé như sau: Dành cho NCT từ 65 tuổi trở lên phải nhờ sự trợ giúp trong hoạt động sinh hoạt hằng ngày. Bao gồm dịch vụ tại nhà, tại cơ sở chăm sóc, và trợ cấp tiên mặt ( giúp NCT và gia đình chi phí chăm sóc y tế tại những vùng xa ít có các dịch vụ chăm sóc suốt đời; và giúp NCT không thể /không phù hợp sinh hoạt ở các cơ sở chăm sóc suốt đời do các điều kiện sức khỏe, tỉnh thần hay tâm lý; chi phí một phan cho các dịch vụ chăm sóc không đăng ký tại nhà hay tại các cơ sở. Các cơ sở chăm sóc bao gồm: trung tâm chăm sóc suốt đời, y tá tại nhà, nhà dưỡng lão.
Các dịch vụ bao gồm: y tá chăm sóc tại nhà, chăm sóc ngày và đêm,chăm sóc ngắn hạn, dịch vụ chăm sóc tại nhà hoặc di động). Tại Thái Lan: Theo truyền thông, chăm sóc NCT là trách nhiệm của gia đình. Hiện nay, gia đình vẫn đóng vai trò chính. Người chăm sóc chính là thành viên gia đình, chủ yếu là phụ nữ.
Cộng đồng cũng đóng vai trò quan trọng, cộng đông bao gôm hàng xóm, bạn bẻ, các hội tự nguyện, các câu lạc bộ tự nguyện, các mạng lưới theo nhóm hay vùng dân cư, các tổ chức tình nguyện và phi lợi nhuận. Dịch vụ công của Nhà nước: nhà ở công của chính phủ cho người cao tuôi (National Government Admnistrated Public Elderly Home), cho người cao tuôi cô đơn không nơi nương tựa. Nhà ở công của địa phương. Hệ thống miễn thuế thu nhập cá nhân: cho người làm việc phải nuôi dưỡng, chăm sóc cha mẹ: qua hai kênh miễn giảm; miễn giảm chi phí chăm sóc cha me; và chi phí bảo hiểm sức khỏe cho cha mẹ( trẻ em cũng tương tự).
Tại Nhật Bản: Hệ thống chăm sóc cho NCT nhận phúc lợi rất thấp. Thành viên trong gia đình chăm sóc cho người cao tuôi. Gánh nặng chăm sóc Người cao tuôi rất lớn. Năm 1989, chính phủ xây dựng kế hoạch vàng cho NCT.
Nhà nước chăm sóc cải thiện phúc lợi cho NCT.Thay đổi trong phân công lao động giới trong gia đình: người chịu chăm sóc chính van là phụ nữ nhưng tỷ lệ giảm dan. Trước kia, phụ nữ là người chăm sóc chính về mọi mặt, hiện nay vai trò chăm sóc chuyển dần cho các tô chức chuyên nghiệp. Truyền thống tại Nhật Bản là vợ hoặc con cái chăm sóc (con dâu cả). Nhưng ngày nay tập tục truyền thống và thực tiễn xã hội đã có sự thay đôi đó là sự thừa kế bình đăng.
Tại Mỹ: theo các nghiên cứu, phần lớn người cao tuổi đều muốn sống độc lập đến một lúc nao họ không tự phục vụ được bản thân. Trong khi nhiều người chỉ yêu cầu dịch vụ tối thiểu để đảm bảo sự độc lập của mình thì những người nhiều tuổi hơn khác lại phụ thuộc vào những hàn hóa và dịch vụ đặc biệt cho phép họ tồn tại trong cộng đồng. Những dịch vụ này trợ giúp việc chăm sóc cá nhân, cung cấp thuốc, các hoạt động thường ngày và các hoạt động duy trì sức khỏe. Ngoài ra, các dich vụ khác được cung cấp cho NCTdé duy trì hoặc quay trở về cuộc sống độc lập như các bữa ăn, trông coi nhà cửa, giúp đỡ vệ sinh cá nhân va đi lại.
Tại Trung Quốc: hệ thông phúc lợi xã hội được thiết lập bởi chính phủ, cung cấp các quỹ nhằm đảm bảo cuộc sống cho những người cao tuổi, trẻ em mồ côi cả cha lẫn mẹ và những người có hoàn cảnh túng quan. Dé đảm bảo quyền lợi cho những đối tượng đặc biệt này chính phủ đã ban hành về quyền và lợi ích của người cao tuổi. Bộ luật quy định rang tại các thành phố, người cao tuổi goa không có con cái, không có sự giúp đỡ và sống cô đơn sẽ được giúp đỡ và sinh sống trong những ngôi nhà tập trung đặc biệt. Tại Hong Kông: các dịch vụ phúc lợi cung cấp cho người cao tuéi ở Hồng Kông đều được điều hành bởi các tổ chức phi chính phủ với sự tài trợ phần lớn từ chính phủ.
Chính phủ điều hành một kế hoạch an sinh xã hội, cung cấp khoản trợ cấp cho những người từ 60 tuổi trở lên và sự giúp đỡ cộng đồng cho những người cao tuổi thuộc diện nghẻo.