mở đầu cho nền y dƣợc cổ truyền Việt Nam. Ông đã biên soạn bộ sách “Hồng Nghĩa giác tƣ y thƣ”biên soạn bằng quốc âm, trong đó có 630 vị thuốc, giới thiệu 13 đơn thuốc chữa tạp bệnh, 37 đơn thuốc chữa bệnh thƣơng hàn (Thập tam phương thuốc gia giảm và tam thập thất tùy pháp) [56], [35]. Đến thời vị Hoàng đế thứ 11 của nhà Lê trung hƣng, ở ngôi từ năm 1705 đến năm 1729 thời vua Lê Dụ Tông lại đƣợc biết đến Danh y Hải Thƣợng Lãn Ông, [56], [33]. Ông để lại nhiều tác phẩm lớn nhƣ “Y tông tâm lĩnh” (1770), nay ngƣời ta gọi là “Hải Thƣợng y tông tâm lĩnh” đƣợc viết trong vòng 10 năm, gồm 28 tập, 66 quyển chắt lọc tinh hoa của y học cổ truyền, đƣợc đánh giá là công trình y học xuất sắc nhất trong thời trung đại Việt Nam và“không chỉ có giá trị về y học mà còn có giá trị văn học, lịch sử, triết học”[33].
Thời kỳ Tây Sơn (1788-1802) có Danh y Nguyễn Quang Tuân có tập “Nam Dƣợc”, “Nam dƣợc chỉ danh truyền”, “La khê phƣơng dƣợc” ghi chép 500 vị thuốc nam trong dân gian dùng để chữa bệnh [38],[120]. Danh y Gia Phan (1748 – 1817), ông là tác giả các bộ sách “Liệu dịch phƣơng pháp toàn tập” viết về bệnh truyền nhiễm; “Hộ Nhi phƣơng pháp tổng lục”, viết về Nhi khoa và “Lý Am phƣơng pháp thông lục” về Phụ khoa [116]. Thời nhà Nguyễn (1802-1884) có quyển “Xuân Đình y án kinh trị chủ chứng‟‟ chuyên về bệnh ôn dịch và thời khí của Lê Kinh Hạp [116]. 10 luan an Thời Pháp thuộc (1884 – 1945), Y học cổ truyền Việt Nam bƣớc vào thế kỷ XX, ngoài những tác phẩm y học biên soạn bằng chữ Hán Nôm nhƣ: “Vệ sinh yếu chỉ‟‟ (1901) của Bùi Văn Trung ở Nam Định, “Bí truyền tập yếu‟‟ (1906) của Lê Tƣ Thúy ở Hà Nam, còn có những tài liệu y học viết bằng chữ Quốc ngữ: “Việt Nam Dƣợc học‟‟ của Phó Đức Thành, “Nam Dƣợc bộ‟‟ của Nguyễn An Cƣ, “Trung Việt Dƣợc tính hợp biên‟‟ gồm 1500 vị thuốc của Đinh Nho Chấn…[119].
Giai đoạn từ năm 1945 đến nay đã có nhiều nhà khoa học, nghiên cứu về cây thuốc, có nhiều tác phẩm nhƣ : “Thuốc Nam châm cứu‟‟ (1960) của Viện Đông y, 450 cây thuốc (1962) của Phó Đức Thành, “Sổ tay thuốc nam thƣờng dùng ở cơ sở” của Bộ Y tế ghi chép các loài cây thuốc đƣợc dùng chữa trị ở các địa phƣơng, [14], Võ Văn Chi (1991) đã tổng hợp các mô tả cây thuốc của tỉnh An Giang [18];“Tính kháng khuẩn của cây thuốc Việt Nam‟‟ (1975) của Nguyễn Đức Minh [60], “Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc (1976) " của Vũ Văn Chuyên [27], "Sổ tay cây thuốc Việt Nam" (1980) của Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chƣơng đã giới thiệu 519 loài cây thuốc trong đó có 150 loài mới phát hiện [10], "Danh lục cây thuốc Miền Nam Việt Nam", tập "Atlas cây thuốc" đã công bố về danh sách cây thuốc ở Miền Bắc là 1114 loài, Miền Nam là 1119 loài. Tổng hợp trong cả nƣớc đến năm 1985 là 1863 loài và dƣới loài, phân bố trong 1033 chi, 236 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành [25], tác giả Trần Đình Lý và cộng sự (1993) cho xuất bản cuốn "1900 loài cây có ích ở Việt Nam" [57]. Năm 1993, Đỗ Huy Bích đã công bố kết quả nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc Việt Nam [9]. Năm 2003, Đỗ Huy Bích và các công sự của Viện dƣợc liệu đã giới thiệu 920 loài cây thuốc, 80 loài động vật làm thuốc và giới thiệu gần 1.000 bài thuốc chữa các bệnh thƣờng gặp trong bộ "Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam" [11].
Năm 2011, Đỗ Tất Lợi đã tiếp tục tái bản bổ sung cuốn "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" đã đƣợc nhận giải thƣởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật, ông mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hóa học của 792 loài cây thuốc chia theo các nhóm bệnh khác nhau [56]. Năm 2012, Võ Văn Chi,đã cho tái bản có bổ sung cuốn “Từ điển cây 11 luan an thuốc Việt Nam”, gồm 2 tập, là công trình đồ sộ ghi chép 4472 loài cây thuốc có ở Việt Nam [21]. Những năm gần đây đã có rất nhiều các nghiên cứu sâu về cây thuốc nhƣ công trình “Nghiên cứu thành phần hóa học và tác dụng dƣợc lý theo hƣớng điều trị loét dạ dày của rễ cây sâm báo (Abelmoschus sagittifolius ) họ Bông (Malvaceae)” của Đào Thị Vui (2007) [102]; “ Nghiên cứu thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây cao cẳng (Ophipogon confertifolius, họ Mạch môn – Convallariaceae” Nguyễn Thị Vinh Huê (2009), [47]; „Nghiên cứu một số tác dụng dƣợc lí của Tam thất hoang (Panax stipuleanatus Tsai et Feng), họ Araliaceae” củaNguyễn Thị Thu Hƣơng(2009) ;“Nghiên cứu đặc điểm thực vật, thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây vọng cách Premna sp. thu hái ở Nam Định”của Nguyễn Thị Bích Hằng (2010) [38]; “ Tài nguyên cây thuốc họ Na ở Việt Nam” của Đỗ Ngọc Đài, Phạm Hồng Ban (2011) [29] và “Nghiên cứu đa dạng cây thuốc Tây Bắc Nghệ An [2012]; „Nghiên cứu tác dụng trên bệnh Gút thực nghiệm của cây hy thiêm (Siegesbeckia orientalis )” của Nguyễn Thị Thùy Dƣơng (2012) [28]; “Nghiên cứu thành phần hóa học và một số tác dụng dƣợc lý của cây mạ mân (Aganope balansae )” của Trần Quốc Toản (2012) [84]; Nghiên cứu thành phần hóa học và một số tác dụng dƣợc lý của loài trám hồng (Canarium bengalense) củaHoàng Thị Lê (2012) [54]; “ Nghiên cứu tác dụng hạ Glucose huyết của rễ cây chóc máu nam (Salacia cochinchinensis )”của Đỗ Thị Nguyệt Quế (2013) [71].
Năm 2014, Nguyễn Thị Thu Hƣơng đã công bố kết quả nghiên cứu “ Nghiên cứu tính đa dạng nguồn cây thuốc đƣợc sử dụng trong cộng đồng dân tộc ở tỉnh Thái Nguyên nhằm bảo tồn và phát triển bền vững” [48]. Tình hình nghiên cứu, trồng bảo tồn, phát triển cây thuốc và bài thuốc ở Việt Nam 1. Công tác điều tra Đến nay, đã có nhiều công trình điều tra về cây thuốc dân tộc của các nhà khoa học trên khắp cả nƣớc. Theo thống kê sơ bộ của Nguyễn Bá Hoạt (2013) đã có một số kết quả nghiên cứu nhƣ: cây thuốc của Ngƣời Dao (khu vực Vƣờn Quốc gia Ba Vì): 579 loài và 125 bài thuốc; ngƣời Mƣờng (Cẩm Liên, Cẩm Thủy, 12 luan an Thanh Hóa): 206 loài và 32 bài thuốc; ngƣời Tày:(Vị Xuyên, Hà Giang): 292 loài; Ngƣời Tày - Nùng (Tràng Đinhk, Lạng Sơn): 126 loài và 51 bài thuốc; Bản Mƣờng (xã Vĩnh Lạc, Lục Yên, Yên Bái): 40 loài và 40 bài thuốc; 85 bài thuốc của cộng đồng ngƣời Dao; 72 bài thuốc của cộng đồng ngƣời H'Mông; 16 bài thuốc của cộng đồng ngƣời Thái và Khơ Mú; 11 bài thuốc của cộng đồng Bru - Vân Kiều [94].
Từ năm 1961 đến năm 1985 là giai đoạn điều tra cơ bản, Viện Dƣợc liệu tiến hành điều tra dƣợc liệu và công bố ở Miền Bắc từ năm 1961 đến 1974 đã điều tra ở 1905 xã, thuộc 20 tỉnh và thành phố. Kết quả đã phát hiện đƣợc 1114 loài thực vật đƣợc dùng làm thuốc [91]. Năm 1985, công tác điều tra cơ bản lần thứ nhất về dƣợc liệu trên toàn quốc đã đƣợc hoàn thành. Tổng số các địa phƣơng đã đƣợc tổ chức điều tra bao gồm 2715 xã - phƣờng, thuộc 357 huyện - quận và 42 tỉnh - thành phố.
Kết quả đã ghi nhận đƣợc Danh lục cây thuốc gồm 1863 loài thực vật bậc cao cũng nhƣ bậc thấp đƣợc sử dụng làm thuốc, thuộc 1033 chi, 236 họ, 11 ngành [92], [93]. Sau khi kết thúc giai đoạn điều tra cơ bản lần thứ nhất, từ năm 1986 đến nay công tác điều tra dƣợc liệu không tiến hành một cách rộng rãi nhƣ trƣớc kia. Tuy nhiên, trong khuôn khổ các đề tài nghiên cứu, Viện Dƣợc liệu vẫn phối hợp với các địa phƣơng và các ngành có liên quan tiếp tục tiến hành công việc điều tra cây thuốc tại các tỉnh Thanh Hóa, Hà Giang, Lào Cai… và đồng thời nghiên cứu sâu về khả năng khai thác, tái sinh và phát triển nhiều cây thuốc có giá trị nhƣ Chè hoa vàng, Sa nhân, Bảy lá một hoa, Sâm ngọc linh, Bình vôi…[95]. Đến năm 2001, Viện Dƣợc liệu đã tiến hành tổng hợp kết quả điều tra thu thập cây thuốc, đã thống kê đƣợc 3850 loài thực vật và Nấm lớn có công dụng làm thuốc ở Việt Nam[95].
Trong hội nghị dƣợc liệu toàn quốc lần thứ nhất(2003) “Phát triển dƣợc liệu bền vững trong thế kỷ 21”, Viện Dƣợc liệu đã tổng hợp quá trình phát triển dƣợc liệu; công tác quản lý và chế độ chính sách về dƣợc liệu; nguồn tài nguyên dƣợc liệu Việt Nam; trồng cây thuốc tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp dƣợc và chế biến sau thu hoạch; nghiên cứu sản xuất và hiện đại hóa thuốc Y học cổ truyền; đánh giá chất lƣợng dƣợc liệu ; cách trồng và chế biến; vai trò của dƣợc liệu 13 luan an tham gia vào cơ cấu cây trồng trong vƣờn gia đình, vƣờn trang trại; tình hình thị trƣờng dƣợc liệu tham gia xuất khẩu; bảo tồn nguồn gen và cây thuốc cổ truyền [94]. Từ năm 2001-2004, Nguyễn Tập với đề tài "Điều tra, đánh giá về tiềm năng và hiện trạng nguồn dược liệu Việt Nam. Đề xuất các giải pháp khai thác hợp lý đi đôi với việc bảo vệ, phát triển và sử dụng lâu bền”đã tiến hành điều tra ở một số vùng rừng của 7 tỉnh nhƣ: Bắc Kạn, Đắk Lắk, Gai Lai, Kon Tum, Lai Châu, Lâm Đồng, Tuyên Quangtổng hợp toàn bộ kết quả điều tra của Viện Dƣợc liệu từ 1961 đến 2004, cùng với từ các nguồn tài liệu đã đƣợc công bố, đã xây dựng đƣợc Danh lục cây thuốc Việt Nam (3948 loài), trong đó chỉ có 500 loài là cây thuốc trồng hoặc cây trồng khác đƣợc sử dụng để làm thuốc và có 136 loài nguy cấp cần đƣợc bảo vệ [77] Ngoài ra Nguyễn Tập cũng đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về cây thuốc nhƣ “Nguồn lợi cây thuốc trong rừng Việt Nam ” [78].“Tổng quan về nguồn tài nguyên dƣợc liệu Việt Nam”,[81] “ Cẩm nang cây thuốc cần đƣợc bảo vệ ở Việt Nam”[83],…các công trình đã công bố thực trạng dƣợc liệu ở Việt Nam, đồng thời mô tả chi tiết đặc điểm sinh học, công dụng, nơi phân bố của các loài thực vật quý cần đƣợc bảo vệ nhƣ cây từ mỏng (Dioscorea membranacea), tỏa dƣơng (Balanophora laxiflora), thủy xƣơng bồ lá to (Acorus macrospadiceus)…[83]. Gần đây, có nhiều công trình khoa học nghiên cứu theo hƣớng trồng và bảo tồn cây thuốc.