Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cộng đồng Khái niệm “cộng đồng” được hiểu là một tập hợp những người sống gắn bó với nhau thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hoá, kinh tế, xã hội truyền thống, phong tục tập quán, có các quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và thường có ranh giới không gian trong một thôn,bản. Khái niệm “cộng đồng dân cư thôn” sử dụng trong luận văn này được qui định tại Điều 3, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004.
đã định nghĩa rằng: “Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương”. Khái niệm LNCĐ Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ) được định nghĩa theo nhiều cách, có lúc còn khác nhau. Những định nghĩa rộng hơn dùng thuật ngữ này để chỉ những hoạt động có liên quan đến mối quan hệ giữa con người với cây cối. Các định nghĩa hẹp hơn tập trung vào việc QLR bởi cộng đồng địa phương có lợi ích của mình.
Theo FAO 1978, Lâm nghiệp cộng đồng (Community Forestry), lâm nghiệp xã hội (Social Forestry) là những thuật ngữ được dùng để chỉ việc QLR có liên quan chặt chẽ với người dân địa phương. Theo Quyết định số: 106/2006 – BNN của Bộ Nông nghiệp và PTNT thì QLR cộng đồng (QLRCĐ) là một hình thức QLR trong đó cộng đồng dân cư thôn với tư cách là chủ rừng tham gia vào các hoạt động giao rừng, lập kế hoạch QLR và tổ chức thực hiện kế hoạch đó, thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi, giám sát và đánh gía rừng Nhà nước giao cho cộng đồng. Nhìn chung lâm nghiệp 4 cồng đồng hay QLR cộng đồng bao gồm hai hình thức đó là 1) QLR của cộng đồng, và 2) Quản lý rừng dựa vào cộng đồng (QLRDVCĐ). Khái niệm QLRCĐ và QLRDVCĐ QLRCĐ là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng, bao gồm: 1) cộng đồng trực tiếp quản lý những diện tích rừng hoặc những đám cây gỗ của họ từ lâu đời; 2) cộng đồng trực tiếp quản lý những khu rừng được Nhà nước giao; 3) các hoạt động mang tính chất lâm nghiệp khác do cộng đồng tổ chức phục vụ lợi ích trực tiếp cho cộng đồng.
QLRDVCĐ là hình thức cộng đồng tham gia quản lý và hưởng lợi từ các khu rừng không thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng sở hữu của các thành phần kinh tế khác nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đến việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng như thuỷ lợi nhỏ hay nước sinh hoạt, vv. Khái niệm đồng quản lý Đồng quản lý là một quá trình tham gia của nhiều đối tác có cùng mối quan tâm đến tài nguyên rừng, trong đó trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn và quyền lợi của các đối tác được thỏa hiệp, thống nhất trên cơ sở khả năng, năng lực của từng đối tác và không trái với luật pháp Nhà nước hiện hành, Công ước Quốc tế nhà nước đang tham gia, nhằm đạt được mục tiêu chung là quản lý tài nguyên rừng một cách tốt nhất, vừa thỏa mãn mục tiêu riêng của từng đối tác. Tổng quan các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới 1.
Sự tham gia trong LNCĐ Trên thế giới, cộng đồng quốc tế đã có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lược bảo tồn từ đầu thập kỷ 80. Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định ưu việt, đó là liên kết quản lý khu rừng đặc dụng; 5 Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và Vườn quốc gia (VQG) với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các hoạt động trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng và ra các quyết định. Từ “Tham gia” có thể phản ảnh nhiều nội dung phong phú, không chỉ đơn thuần chỉ là sự hiện diện hay tham dự trong các hoạt động phát triển lâm nghiệp từ bấy lâu nay vẫn làm như thông qua thuê, khoán thậm trí là làm công ăn lương. Ở khía cạnh khác, tham gia còn có ý nghĩa hành chính, ví dụ như trở thành thành viên của một tổ chức và tham dự các phiên họp.
Như vậy, sự tham gia trong lâm nghiệp không đơn thuần là một thuật ngữ mà đã và đang trở thành một khái niệm, một thực tiễn của LNXH. Tuy nhiên, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm sự tham gia. Theo Ngân hàng thế giới, sự tham gia được định nghĩa như là một quá trình, thông qua đó các chủ thể hay các bên liên qua cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng ra quyết định (dẫn theo Nguyễn Bá Ngãi và cộng sự, 2005). FAO (1982) định nghĩa “Sự tham gia của nhân dân” như quá trình mà qua đó người nghèo nông thôn có khả năng tự tổ chức và như các tổ chức của chính họ, có khả năng nhận biết các nhu cầu của chính mình và tham gia trong thiết kế, thực hiện và đánh giá các phương án tại địa phương”.
Có nhiều cách đánh giá các hình thức của sự tham gia. Chandrase Khavan và Rao (1992) phân biệt hai hình thức tham gia dựa trên cơ sở người ra quyết định gồm tham gia bị động và tham gia tích cực. Meister (1969) phân chia ba hình thức tham gia dựa trên hành vi tham gia gồm tham gia đương nhiên, tham gia tự phát và tham gia tự giác. Một trong những cách đánh giá hình thức của sự tham gia được cho là thực tế và dễ dàng nhất đó là các hình thức của sự tham gia dựa trên sự đóng góp của người dân.
Theo cách đánh giá này thì có thể xác định bốn hình thức 6 tham gia gồm: đóng góp lao động, chia sẻ chi phí, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ quyền quyết định của cộng đồng (dẫn theo Nguyễn Bá Ngãi và cộng sự, 2005). Về mức độ tham gia, Carter (1996) đã dựa trên mức độ kiểm soát của người trong cộng đồng, tiềm lực để hành động và quyền sở hữu của người trong trong cộng đồng để phân chia ra các các mức độ tham gia từ thấp đến cao gồm: tham gia vì nghĩa vụ mang tính hành chính; tham gia từ động lực lợi ích trước mắt; tham gia do thuyết phục, giáo dục; tham gia do nhu cầu học tập và cuối cùng là tham gia vì nhu cầu hợp tác. Động lực để khuyến khích sự tham gia là vấn đề then chốt cần được nghiên cứu trong bất kỳ một chương trình, dự án lâm nghiệp nào. Động lực thúc đẩy có hai loại gồm động lực kết hợp với thị trường và những động lực liên kết với những nhân tố phi thị trường (dẫn theo Nguyễn Bá Ngãi và cộng sự, 2005).
Kinh nghiệm về LNCĐ tại một số nước châu Á - Tại Nepan việc quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng trong đó có rừng và các tài sản khác thường gắn với các thôn bản nhỏ và hiu quạnh. Khi tìm hiểu tính chất của việc quản lý tài nguyên rừng ở cấp thôn bản thì thấy chúng đều có những nét chung và chúng thường có hiệu lực, đặc biệt là về mặt bảo vệ. Các chỉ tiêu về quy chế tổ chức, phần nào dựa trên sự thống nhất ý kiến của những người sử dụng là phần quan trọng nhất của tất cả những hệ thống QLR bản địa. Và những hệ thống QLR bản địa này chỉ mới được xây dựng từ năm 1950.
Từ năm đó tới nay Chính phủ Nepan đã có một thay đổi mạnh mẽ về thái độ đối với rừng vùng đồi, đây là một sự chuyển biến sâu sắc do nạn tàn phá rừng ngày càng rõ nét và ảnh hưởng của nó tới đời sống nông thôn ngày nay. Đầu tiên là việc thi hành luật bảo vệ phát triển rừng thông qua hệ thống pháp luật của chính phủ, nhưng việc đó đã thất bại. Sau đó đã có nhiều thay đổi về chính sách, luật lệ chuyển việc QLR cho chính những người sử dụng chúng ở thôn bản (Brokensha. 7 - Tại Ấn Độ, mặc dầu quá trình hiện đại hóa mang lại nhiều lợi ích cho những thôn bản nằm xung quanh trung tâm chính trị Delhi thì nó cũng đã mang lại một sự bùng nổ về dân số, làm đảo lộn cân bằng tài nguyên và cũng dẫn tới sự tan rã của các tổ chức cổ truyền như các cộng đồng thôn bản.
Ngày càng có sự chuyển mạnh đất công từ sở hữu cộng đồng sang các phương thức sử dụng tư và cả sự chuyển thể đất công từ đất trồng trọt và chăn nuôi sang các phương thức sử dụng khác. Kết quả là diện tích đất hoang hóa ngày một gia tăng. Trong thế kỷ 19, có tới 2/3 đất đai của Ấn Độ đều đặt dưới sự kiểm tra của cộng đồng nhưng quá trình tư nhân hóa và nhà nước sung công đã làm giảm tỷ lệ đó. Nhiều hình thức bản địa và cổ truyền của phương thức quản lý tài nguyên sở hữu công cộng đã bị suy yếu và tan rã, tuy nhiên chúng vẫn đóng một vai trò rất quan trọng trong các hệ thống nông nghiệp và trong đời sống của dân nghèo.
Do đó, để tiến tới việc quản lý tài nguyên sở hữu công cộng bền vững chính phủ Ấn Độ cần dành ưu tiên cao cho việc sửa đổi chính sách và các sự yếu kém, sai sót của các luật lệ hiện hành cũng như hạn chế việc khuyến khích tiếp tục tư nhân hóa. Vào đầu những năm 1970, Chính phủ ban hành nhiều chính sách nhằm khuyến khích phát triển lâm nghiệp công đồng làng bản để giảm sức ép đối với việc tàn phá rừng. Trong khoảng 15 năm, Chính phủ đã đầu tư khoảng 400 triệu USD cho chương trình này (Chandrakanth et al. - Tại Indonesia, người dân ở vùng Kalimantan có tập quán canh tác du canh, lúc ban đầu du canh được tiến hành tại các khu rừng tự nhiên, sau đó các diện tích rừng thứ sinh cũng được sử dụng, từng bước các hộ gia đình đã bắt đầu đòi hỏi quyền được sở hữu nương rẫy và đất bỏ hóa.
Với áp lực dân số ngày càng gia tăng những quyền lợi đó được mở rộng cho thế hệ tiếp theo. Những nguồn lâm sản phụ như song mây, gỗ trầm hương và tổ ong đã có sự cạnh tranh và không thỏa hiệp về lợi ích giữa người dân địa phương và những người bên ngoài.