Tổng quan nghiên cứu

Xã Đạ Tông, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng sở hữu diện tích tự nhiên rộng lớn 14.423,44 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tới 83,71% tương đương 11.932,23 ha. Khu vực này giữ vị trí chiến lược xung yếu khi trực tiếp bảo vệ nguồn nước đầu nguồn hệ thống sông Sêrêpốk và tiếp giáp Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà với 1.080 ha rừng đặc dụng. Tuy nhiên, sức ép từ việc gia tăng dân số nông thôn đạt 51 người/km2 cùng nhu cầu mở rộng đất canh tác nông nghiệp của đồng bào dân tộc thiểu số bản địa đã gây áp lực nặng nề lên tài nguyên rừng. Trong giai đoạn 2015 - 2018, cơ quan chức năng đã ghi nhận 43 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trên địa bàn, làm thiệt hại hơn 34,76 ha rừng và thất thoát 40,86 m3 gỗ thương phẩm.

Trước bối cảnh đó, nghiên cứu được triển khai nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý rừng dựa vào cộng đồng, phân tích mức độ tham gia của người dân tại 3 thôn điểm Mê Ka, Đạ Nhinh 1 và Đạ Nhinh 2, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng gắn với cải thiện sinh kế. Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu thực địa trong giai đoạn 2015 - 2018 với đối tượng trọng tâm là các mô hình khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và nhóm hộ. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc xây dựng cơ sở khoa học giúp nâng tỷ lệ hộ dân tham gia quản lý bảo vệ rừng từ mức 47,98% hiện tại lên trên 75%, hướng đến mục tiêu giảm thiểu 50% số vụ vi phạm lâm luật hàng năm và bảo tồn bền vững hệ sinh thái rừng Tây Nguyên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết Quản lý rừng cộng đồng do Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc phát triển từ năm 1978 và mô hình Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng. Khung lý thuyết này khẳng định tài nguyên rừng chỉ được bảo vệ hiệu quả khi cộng đồng cư dân bản địa - những người trực tiếp phụ thuộc sinh kế vào rừng - được tham gia vào quy trình ra quyết định và hưởng lợi ích kinh tế thỏa đáng. Bên cạnh đó, tác giả vận dụng Lý thuyết thang bậc tham gia của Carter kết hợp với nguyên tắc Đồng quản lý tài nguyên để phân tích các cấp độ can thiệp của người dân từ hình thức tham gia bị động theo hợp đồng khoán đến mức độ tự giác hợp tác bảo tồn.

Nội dung lý thuyết làm sáng tỏ bốn khái niệm cốt lõi:

  • Cộng đồng dân cư thôn theo quy định tại Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004;
  • Lâm nghiệp cộng đồng và Lâm nghiệp xã hội;
  • Quản lý rừng dựa vào cộng đồng theo Quyết định số 106/2006/QĐ-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
  • Cơ chế đồng quản lý và chia sẻ lợi ích theo định hướng Nghị định 99/2010/NĐ-CP về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2015 - 2018 của Hạt Kiểm lâm huyện Đam Rông, UBND xã Đạ Tông và Ban Quản lý rừng phòng hộ Sê Rê Pốk kết hợp nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập năm 2018. Khảo sát thực địa áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích tại 3 thôn đặc trưng gồm thôn Mê Ka (162 hộ, đa số là người Chil), thôn Đạ Nhinh 1 (186 hộ, đa số là người M'Nông) và thôn Đạ Nhinh 2 (123 hộ, đa số là người M'Nông). Tổng dung lượng mẫu gồm 471 hộ dân được phân tầng thành 3 nhóm kinh tế: hộ khá, hộ trung bình và hộ nghèo.

Tại mỗi phân tầng, tác giả chọn ngẫu nhiên 3 - 5 hộ để tiến hành phỏng vấn sâu bằng bảng hỏi bán cấu trúc; đồng thời thực hiện 3 cuộc thảo luận nhóm tập trung với 5 - 7 người có uy tín trong buôn làng và phỏng vấn sâu 9 cán bộ quản lý lâm nghiệp chuyên trách. Phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia kết hợp ma trận phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và công cụ thống kê mô tả trên phần mềm Excel 2017 được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác mối quan hệ giữa sinh kế hộ gia đình và mức độ cam kết bảo vệ tài nguyên rừng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra bức tranh toàn cảnh về công tác quản lý tài nguyên rừng tại xã Đạ Tông qua bốn nhóm phát hiện chính:

  • Cơ cấu chủ thể quản lý và quy mô giao khoán: Toàn bộ 12.173,00 ha rừng trên địa bàn xã hiện thuộc quyền quản lý của 7 đơn vị chủ rừng nhà nước và doanh nghiệp; trong đó Ban Quản lý rừng phòng hộ Sê Rê Pốk quản lý diện tích lớn nhất với 10.614,32 ha (chiếm 87,20%), Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà quản lý 1.080 ha rừng đặc dụng và 5 doanh nghiệp tư nhân quản lý 462,06 ha. Cộng đồng địa phương không được giao quyền sở hữu rừng trực tiếp mà tham gia bảo vệ qua hợp đồng giao khoán theo nhóm hộ với tổng diện tích 4.823,76 ha cho 226 hộ dân thuộc 16 tổ nhóm tại 3 thôn khảo sát, đạt tỷ lệ tham gia 47,98% trên tổng số 471 hộ.

  • Tình hình vi phạm quy định quản lý bảo vệ rừng: Giai đoạn 2015 - 2018 ghi nhận 43 vụ vi phạm lâm luật với diễn biến phức tạp. Năm 2016 là thời điểm đỉnh điểm với 17 vụ phá rừng (chiếm 39,53% tổng số vụ cả giai đoạn), gây thiệt hại 9,04 ha rừng và làm thất thoát 13,65 m3 gỗ. Năm 2017 xảy ra 2 vụ cháy rừng gây thiệt hại 17,93 ha (chiếm 83,55% tổng diện tích rừng bị cháy giai đoạn 2015 - 2018 là 21,46 ha với giá trị thiệt hại ước tính trên 112 triệu đồng). Năm 2018, tình trạng khai thác lâm sản trái phép tiếp tục ghi nhận 15,93 m3 gỗ bị chặt hạ trái phép.

  • Hiệu quả công tác tuyên truyền và xây dựng quy ước: Chính quyền địa phương phối hợp cùng lực lượng chức năng tổ chức 27 buổi tuyên truyền trực tiếp qua họp thôn thu hút 2.572 lượt người tham gia, triển khai 37 lượt tuyên truyền lưu động bằng xe loa và vận động 891 cá nhân ký bản cam kết bảo vệ rừng. Toàn bộ 9 thôn trên địa bàn xã đã xây dựng và phê duyệt được 9 bản Quy ước quản lý bảo vệ rừng kết hợp giữa luật tục địa phương và pháp luật nhà nước.

  • Đánh giá của cán bộ chuyên trách về năng lực quản lý: Khảo sát đối với đội ngũ cán bộ lâm nghiệp cơ sở cho thấy 63,3% ý kiến khẳng định việc xác định đúng đắn mối quan hệ tương hỗ giữa sinh kế người dân và rừng là ưu tiên hàng đầu; trong khi đó 36,7% cán bộ chỉ ra điểm yếu lớn nhất hiện nay là tình trạng thiếu kiến thức chuyên sâu về nghiệp vụ quản lý rừng dựa vào cộng đồng và 23,3% phản ánh sự thiếu hụt nhân lực tuần tra bảo vệ rừng.

Thảo luận kết quả

Thực trạng vi phạm đất rừng và suy thoái tài nguyên tại xã Đạ Tông xuất phát chủ yếu từ áp lực nghèo đói và hạn chế về tư liệu sản xuất nông nghiệp. Năm 2017, thu nhập bình quân đầu người tại xã chỉ đạt 6,1 triệu đồng/người/năm, tương đương 58,10% so với mức bình quân chung của huyện Đam Rông là 10,5 triệu đồng/người/năm. Tỷ lệ hộ nghèo tại 3 thôn nghiên cứu chiếm tới 47,77% (225/471 hộ), trong đó đất trồng cây lâu năm chỉ chiếm 8,69% tổng diện tích tự nhiên của xã, dẫn đến tình trạng người dân lén lút phá rừng để canh tác cà phê.

So sánh với các công trình nghiên cứu của nhiều học giả tại các vùng đệm vườn quốc gia khu vực miền núi phía Bắc, kết quả tại Đạ Tông tái khẳng định sự phụ thuộc lớn của đồng bào thiểu số vào nguồn tài nguyên thiên nhiên xung quanh. Để phục vụ việc theo dõi và minh họa trực quan trong báo cáo học thuật, dữ liệu biến động diện tích rừng bị phá và bị cháy qua các năm từ 2015 đến 2018 có thể được thể hiện thông qua biểu đồ hình cột kết hợp đường xu hướng; trong khi cơ cấu thu nhập hộ gia đình và tỷ lệ đóng góp từ tiền khoán dịch vụ môi trường rừng nên được mô tả chi tiết qua biểu đồ tròn phân tầng theo từng nhóm hộ. Điều này khẳng định chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng là đòn bẩy kinh tế then chốt nhưng mức chi trả hiện tại chưa bù đắp đủ chi phí cơ hội của người dân nếu không có các mô hình kinh tế nông lâm kết hợp bổ trợ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng và bảo tồn tài nguyên bền vững tại xã Đạ Tông, bốn nhóm giải pháp hành động được đề xuất thực hiện:

  • Mở rộng quy mô phát triển sinh kế nông lâm kết hợp dưới tán rừng: Ủy ban nhân dân xã Đạ Tông chủ trì phối hợp với Ban Quản lý rừng phòng hộ Sê Rê Pốk triển khai trồng xen cây dược liệu bản địa như sa nhân tím, đẳng sâm dưới tán 4.823,76 ha rừng nhận khoán. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ trọng thu nhập từ kinh tế lâm nghiệp của các hộ nghèo thêm 25 - 30% trong lộ trình thực hiện từ quý I/2019 đến hết năm 2022.

  • Hoàn thiện cơ chế thanh toán và nâng cao định mức chi trả tiền giao khoán bảo vệ rừng: Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo các đơn vị chủ rừng chi trả tiền khoán bảo vệ rừng đầy đủ và đúng hạn định kỳ 3 tháng một lần; đồng thời kiến nghị nâng hệ số hỗ trợ tài chính thêm 15% cho các tổ nhận khoán tuần tra tại những tiểu khu giáp ranh hiểm trở, hoàn thành điều chỉnh khung chính sách trước quý II/2020.

  • Tăng cường năng lực chuyên môn và phương tiện tuần tra phòng cháy chữa cháy rừng: Hạt Kiểm lâm huyện Đam Rông điều phối tổ chức 12 khóa tập huấn nghiệp vụ lâm sinh, kỹ năng định vị tọa độ GPS và dập lửa hiện trường cho 525 thành viên thuộc 25 tổ nhận khoán quản lý bảo vệ rừng thôn bản, phấn đấu kéo giảm 40% số vụ vi phạm lâm luật hàng năm trong giai đoạn 2019 - 2023.

  • Nâng cao hiệu lực thực thi 9 bản Quy ước thôn bản gắn với chế tài xử phạt hành chính: Ban Lâm nghiệp xã Đạ Tông rà soát, chuẩn hóa các điều khoản trong quy ước của 9 thôn, lồng ghép luật tục của đồng bào dân tộc Chil và M'Nông với quy định xử phạt vi phạm hành chính, duy trì hoạt động họp bình xét kiểm điểm công khai 6 tháng một lần dưới sự giám sát của Ủy ban nhân dân huyện Đam Rông.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chuyên môn sau:

  • Cán bộ quản lý nhà nước ngành lâm nghiệp và lực lượng Kiểm lâm địa bàn: Cung cấp bức tranh thực tế về 43 vụ vi phạm lâm luật cùng cơ chế tổ chức 25 tổ tuần tra cấp thôn, làm căn cứ điều chỉnh quy hoạch bảo vệ 11.932,23 ha đất lâm nghiệp và bố trí lực lượng kiểm lâm phụ trách vùng trọng điểm.

  • Lãnh đạo Ban quản lý rừng phòng hộ và Vườn quốc gia: Cung cấp khung phương pháp phân bổ 4.823,76 ha diện tích khoán bảo vệ rừng và giải pháp kết nối 226 hộ nhận khoán thành các nhóm tự quản hiệu quả tại vùng đệm giáp ranh các khu rừng đặc dụng.

  • Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên môi trường: Tham khảo nguồn tư liệu thực địa có độ tin cậy cao về điều kiện tự nhiên, hệ số đất đai cùng quy trình ứng dụng phương pháp Đánh giá nông thôn có sự tham gia trong nghiên cứu sinh kế miền núi.

  • Các tổ chức phi chính phủ và điều phối viên dự án phát triển nông thôn: Khai thác mô hình phân tích kinh tế hộ gia đình của 3 cộng đồng dân tộc thiểu số để thiết kế các dự án tài trợ phát triển sinh kế bền vững gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng tại khu vực Tây Nguyên.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng tại xã Đạ Tông có bản chất pháp lý như thế nào?
Mô hình tại Đạ Tông là hình thức người dân địa phương tham gia quản lý và hưởng lợi từ diện tích 12.173,00 ha rừng thuộc sở hữu của 7 chủ rừng nhà nước và doanh nghiệp thông qua hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng từng năm, thay vì cộng đồng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng trực tiếp.

Tỷ lệ hộ gia đình tham gia nhận khoán bảo vệ rừng tại các thôn nghiên cứu đạt bao nhiêu?
Theo kết quả điều tra tại 3 thôn khảo sát gồm Mê Ka, Đạ Nhinh 1 và Đạ Nhinh 2, có 226 trên tổng số 471 hộ gia đình tham gia vào 16 nhóm nhận khoán bảo vệ 4.823,76 ha rừng, tương ứng tỷ lệ tham gia đạt 47,98%.

Đâu là nguyên nhân chính dẫn đến 43 vụ vi phạm lâm luật giai đoạn 2015 - 2018 tại địa bàn?
Nguyên nhân chủ yếu do mức thu nhập bình quân đầu người của xã còn rất thấp chỉ 6,1 triệu đồng/người/năm, tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới 47,77% tại các thôn điểm, khiến người dân chịu áp lực mở rộng nương rẫy trồng cà phê và khai thác lâm sản trái phép.

Quy ước quản lý bảo vệ rừng thôn bản phát huy tác dụng ra sao trong thực tế?
Toàn xã đã ban hành 9 bản quy ước tại 9 thôn với sự tham gia thảo luận của các già làng và trưởng thôn. Kết hợp tuyên truyền cho 2.572 lượt người và tổ chức kiểm điểm đối tượng vi phạm trước buôn làng giúp nâng cao đáng kể tính tự giác chấp hành pháp luật.

Cần giải pháp gì để duy trì tính bền vững của các tổ nhận khoán bảo vệ rừng?
Cần kết hợp nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng định kỳ theo quý với mô hình trồng xen cây dược liệu bản địa dưới tán 4.823,76 ha rừng nhận khoán, giúp hộ dân tăng thêm 25 - 30% thu nhập và yên tâm gắn bó với công tác tuần tra.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc thực trạng quản lý 11.932,23 ha đất lâm nghiệp tại xã Đạ Tông, làm rõ vai trò của 226 hộ nhận khoán bảo vệ 4.823,76 ha rừng qua 16 tổ nhóm tự quản.
  • Nghiên cứu chỉ ra những rào cản nội tại khi thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 6,1 triệu đồng/người/năm và tỷ lệ hộ nghèo chiếm 47,77%, là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới 43 vụ vi phạm lâm luật trong giai đoạn 2015 - 2018.
  • Đánh giá thực trạng cho thấy 63,3% cán bộ chuyên trách coi trọng việc hài hòa mối quan hệ dân sinh - tài nguyên rừng, đồng thời ghi nhận hiệu quả tích cực của 9 bản Quy ước quản lý bảo vệ rừng cấp thôn.
  • Đóng góp khoa học then chốt của đề tài là xây dựng hệ thống giải pháp liên hoàn kết hợp giữa giao khoán rừng, ứng dụng công nghệ giám sát và phát triển mô hình sinh kế dược liệu dưới tán rừng nhằm nâng cao 25 - 30% thu nhập cho người dân bản địa.
  • Về lộ trình triển khai tiếp theo, chính quyền địa phương và các chủ rừng cần hoàn thiện cơ chế nghiệm thu khoán và triển khai thí điểm sinh kế mới trong giai đoạn 2019 - 2023.

Để bảo vệ bền vững lá phổi xanh đầu nguồn sông Sêrêpốk, các cơ quan ban ngành và chính quyền địa phương cần nhanh chóng thể chế hóa các đề xuất của luận văn, mở rộng nguồn lực đầu tư cho cộng đồng và nhân rộng mô hình đồng quản lý rừng trên toàn huyện Đam Rông.