ĐẶT VAN DE Biến đổi khí hậu có liên quan đến sự phat thải quá mức khí nhà kính vào khí quyển (chủ yếu là khí CO;) do các hoạt động kinh tế, xã hội của con người đang là mỗi quan tâm hang dau ở nhiều nước trên thể giới. Bởi sự nóng. lên toàn cầu gây ra những hiện tượng như mực nước biển dâng cao, hạn hán, ngập lụt, gia tăng các loại bệnh tật, thiểu hụt nguồn nước ngọt, suy giảm đa. dạng sinh học và gia tăng các hiện tượng khí hậu cực đoan.
Không gì khác, chính những hoạt động không có kiểm soát của con người là nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi đó. Các hoạt động của con người như sử dụng nhiên liệu hoá thạch, sản xuất xi măng, chuyển đổi mục dich sử. dụng và việc phát thải khí trơ trong công nghiệp đã làm gia tăng nồng độ khí nhả kính trong khí quyền. Khí nhà kính có vai trò như một lớp chăn giữ nhiệt ấm cho trái đắt vi chúng có khả năng hấp thụ và phát xạ lại bức xạ hồng ngoại.
trong đó CO; có vai trò lớn nhất gây sự nóng lên toàn cầu. Theo các nghiên cứu đã được công bổ thì khi nồng độ CO; trong khí quyển tăng gấp đôi, thi nhiệt độ bé mặt trái đất tăng lên khoảng 3°C. Hiện nay, theo ước tính của IPCC, CO; chiếm đến 60% nguyên nhân sự nóng lên toan cầu. Nhận thức được vấn dé này, Việt Nam củng với 160 quốc gia trên thé giới đã thông qua Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu.
Công ước nay cụ thể hóa bằng nghị định thư Kyoto (12/1997). Nội dung quan trọng của Nghị định thư là đưa ra chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính có tính ring buộc pháp lý đối với các nước phát triển và cơ chế giúp các nước đang phát triển đạt được sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững thông qua thực hiện “Cơ chế phát triển sạch”. CDM đã mở ra cơ hội lớn cho ngành Lâm nghiệp trong việc bán tin chỉ carbon tích lũy thông qua dự án trồng rừng và tái trồng rừng theo CDM để tạo nguồn sống cho người dân và tái đầu tư phát triển rừng. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto nên được hưởng những quyền lợi đành cho các nước đang phát triển thông qua các dự án CDM, Chính phủ đã thông qua Chi thị số 35/2005/CT-TTg về to chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước khung Liên hợp quốc về biển đổi khí hậu.
Bên cạnh đó, lần đầu tiền việc định giá rừng được đề cập và trở thành vấn dé quan trọng trong Luật bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi năm 2004. Hiện nay, có rất nhiều đề tài nghiên cứu về lượng giá giá trị carbon của rừng, tuy nhiên những nghiên cứu về ảnh hưởng của đất rừng đến lượng carbon tích lũy còn rất hạn chế, mà mối quan hệ giữa đất rừng và lượng. carbon tích lũy có ý nghĩa rất lớn trong việc trồng rừng bán tín chỉ carbon tích. Nhờ mỗi quan hệ nảy chúng ta có thể xác định được loại đất thích hop cho trồng rừng bán tín chỉ carbon cũng như xác định được lượng carbon tích Jug thông qua một số tinh chất đất “Xuất phat từ yêu cầu đó đề tài: “Nghién cứu tương quan giữa một số tính chất đắt và khả năng hấp thy carbon của hai loại rừng tring Keo tai tượng và Bạch đàn urophylla thuần loài làm cơ sở xác định loại đắt thích hợp cho tring rừng theo cơ chế phát triển sạch tại Phú Tho” đặt ra là rất cần thiết và có ý nghĩa.
TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU. Trên thé giới 1. Nghiên cứu về sự biến động CO; trong khí quyền 'Nhà bác học Pháp Lavoisier (1672 - 1725) là người đầu tiên phát hiện ra các thành phần cơ bản của không khí. Không khí của khí quyển chứa nhiều loại khí khác nhau: oxy, nhơ, dioxit carbon, ôzôn, mê tan, oxit nhơ, oxit lưu huỳnh, neon, kripton, radon, heli.
và một lượng hơi nước nhất định. Trải qua nhiễu thé ky, hàm lượng các chat khí vốn có trong không khí bị biển động hoặc xuất hiện những loại khí mới do con người tao ra, Điều đó đã dẫn tới sự ô nhiễm không khí. Người ta đã định nghĩa về ô nhiễm không khí như sau *Không khí gọi là bị 6 nhiễm khi thành phan của nó bị thay đổi hay có sự hiện điện của những chất lạ, gây ra những tác hại mà khoa học chứng minh được hay gây ra sự khó chịu đổi với con người ° [1], Hàm lượng khí CO; trong khí quyển hiện nay là 0,35% va ty lệ này đang có xu hướng gia tăng. Để đánh giá hàm lượng dioxit carbon của không khí trái đất của thời kỳ xa xưa, các nha nghiên cứu Liên Xô cũ đã lấy các mẫu.
băng trong các chom núi băng dây 3400m (có niên đại 160 thiên niên ky) ở các độ sâu khác nhau. Kết quả phân tích các mẫu băng Bắc cực nói trên của. các nhà khoa học Xô Viết và các mẫu băng ở đảo Grinlen của các nhà khoa học ở Grenoble và Berne của Pháp và Thụy Sỹ đều cho thấy rằng không khí bị nhốt trong các khối băng chứa hàm lượng dioxit carbon là 0,02%, tức 200ppm. Các giá trị đó thấp hơn 1/3 sơ với mức ở thời kỳ tiền công nghiệp (trước cuộc cách mạng công nghiệp cudi thé ky 18) là 279 - 280ppm và vào.
cuối thé ky 19, tỷ lệ tăng lên 290ppm. Theo ước tính của IPCC, CO; chiếm tới 60% nguyên nhân của sự nóng lên toàn cầu, nng độ CO; trong khí quyển đã tăng 28% từ 288ppm lên 366ppm trong giai đoạn 1850 - 1998 (IPCC, 2000). Ở giai đoạn hiện nay, nồng độ khí CO; tăng khoảng 10% trong chu kỳ 20 năm (UNFCCC, 2005) Người ta ước đoán đến năm 2030, him lượng dioxit carbon của khí quyén Trái đất lên tới 600ppm (0,06%) gấp đôi hàm lượng của thé ky 19 [18, 42. Sự gia tăng him lượng CO; trong khí quyển là nguyên nhân chính của hiện tượng nóng lên của khí hậu toàn cầu.
Tới một ngưỡng nào đó nó sẽ gây mắt an toàn cho hệ sinh thái và môi trường sống của con người và sinh vật Trong tự nhiên thảm thực vật và đại dương có khả năng hấp thụ CO; nước thải ra chủ yếu do hoạt động sống của con người. Ngày nay, các đo lường của các nhà khoa học đã cho thấy thảm thực vật đã thu giữ 1 trừ lượng CO; lớn hơn một nửa khối lượng chất khí đó sinh ra từ sự đốt cháy các nhiên liệu hóa. thạch trên thể giới. Từ nguyên liệu carbon này hàng năm thảm thực vật trên trái đất đã tạo ra được 150 tỷ tắn vật chất khô thực vật.
Khám phá này càng. khẳng định thêm vai trò của cây xanh: việc trồng nhiều cây xanh làm giảm. ham lượng CO; khí quyển hay ngược lại vi c phá rừng đã làm tăng hàm lượng đồ trong khí quyền 1. Khả năng hắp thy carbon của thực vật Rừng là bé chứa carbon khổng lỗ của trai đắt.
Tổng lượng hap thu được dự trữ của rừng trên toàn thế giới khoảng 830PgC, trong đó carbon trong đất lớn hon 1.§ lần carbon dự trữ trong thảm thực vật (Brown, 1997). Đối với rừng nhiệt đới, có tới 50% dự trữ trong đất (Dioxon et al., 1994, Brown, 1997; IPCC, 2000); Pregitzer và Euskirchen, 2004). Theo ước tính, hoạt động trồng rừng và tái trồng rừng trên thé giới có tỷ lệ hấp thu CO; ở sinh khối là 0.2 tắn/ha/năm ở vùng cực bắc; 1.5 tắn/hainăm ở các ving nhiệt đới. (Dioxon et al.,1994; IPCC, 2000) Brown và cộng sự đã ước lượng tổng lượng carbon mà hoạt động trồng rừng trên thế giới có thể hấp thu tối đa trong vòng 50 năm (1995-2000) là khoảng 60-87 it C, với 70% ở rừng nhiệt đới, 25% ở rừng ôn đới và 5% ở vùng cực bắc (Caims et al,1997).
Tính tổng lại rừng trồng có thể hap thu được 11-15% tổng lượng CO; phát thải từ nguyên liệu hóa thạch trong thời gian tương đương (Brown, 1997). Một số kết quả nghiên cứu về khả năng hấp thụ carbon của các dang rừng: - Năm 1980, Brown và cộng sự đã sử dụng công nghệ GIS dự tính lượng, carbon trung bình trong rừng nhiệt đới Châu A là 144 tắn/ha trong phần sinh khối là 148 tắn/ha trong lớp dat mặt với độ sâu Im, tương đương 42-43 tỷ tấn carbon trong toàn châu lục.A đã chứng minh lượng carbon trong rừng nhiệt đới Châu A là 40-250 tắn/ha, trong đó 50-250 tắn/ha. ở phần thực vật va dat (dẫn theo Phạm Xuân Hoàn - 2005).A và cộng sự đã cho rằng lượng carbon trung bình trong sinh khối phần trên mặt dat của rừng nhiệt đới Châu A là 185 tắn/ha và biến động từ 25-300 tắn/ha. Kết quả nghiên cứu của Brown (1991) cho thấy rừng nhiệt đới Đông Nam A có lượng sinh khối trên mặt dat từ 50-430 tan/ha (tương đương 25-215 tắn C/ha) và trước khi có tác động của con người thì các trị số tương ứng là 350-400 tắn/ha (tương đương 175-200 tin C/ha).
- Brown và Pearce (1994) đưa ra các số liệu đánh giá lượng carbon và tỷ lệ thất thoát đối với rừng nhiệt đới. Theo đó, một khu rừng nguyên sinh có thé hắp thụ được 280 tấn carbon/ha và sẽ giải phóng 200 tin C/ha nếu bị chuyển thành du canh, du cư và sẽ giải phóng carbon nhiều hơn một chút nếu được chuyển thành đồng co hay dat nông nghiệp. Rừng trong có thé hip thụ khoảng 115 tắn carbon và con số này sẽ giảm từ 1/3 đến 1⁄4 khi đất rừng. chuyển sang canh tác nông nghiệp.
- Năm 1995, Murdiyarso D đã nghiên cứu và đưa ra dẫn liệu rừng Indonesia có lượng carbon hấp thụ từ 161-300 tắn/ha trong phần sinh khối trên mặt đất = Tại Phillippines, năm 1999 Lasco R cho biết rừng tự nhiên thứ sinh có 86-201 tắn/ha trong phan sinh khối trên mặt dat, ở rừng giả con số đó là 185- 260 tan C/ha (tương đương 370-520 tắn sinh khối /ha, lượng carbon ước chiếm 50% sinh khối) ‘ai Thái Lan, Noonpragop K. đã xác định lượng carbon trong sinh khối trên mặt dat là 72-182 tắn/ha. - Ở Malaysia, lượng carbon trong rừng biến động từ 100-160 tin/ha và tính cả trong sinh khối và dat là 90-780 tắn/ha (Abu Bakar, R). - Năm 2000, tại Indonesia Noordwijk đã nghiên cứu khả năng tích lũy carbon của các rừng thứ sinh, các hệ nông lâm kết hợp và thâm canh cây lâu năm.
Kết quả cho thấy lượng carbon hấp thụ trung bình là 2. - Công trình nghiên cứu tương đối toàn diện và có hệ thống về lượng arbon tích lũy của rừng được thực hiện bởi Tlie (2000) và Me Kenzie (2001).