Chương 1 TONG QUAN VE VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu ở các nước trên thé 1. Nghiên cứu về đặc điểm và phân loại họ Diu (Dipterocarpaceae) Ho Dau (Dipterocarpaceae) là họ thực vật rat đặc trưng trên thé giới và đặc biệt là khu vực Đông Nam A. Trên thé giới và các nước thuộc khu vực Đông Nam A đã có nhiều công trình nghiên cứu về họ Dau.
Các công trình. nghiên cứu về đặc điểm nhận biết, phân lớp, phân loại hình thái thực vật họ Dau như; ‘Theo hệ thống phân loại của dầu tiên của Armen Takhtajan (1973) thì họ Dau (Dipterocarpaceae) thuộc Bộ Chè (Theales). Khi đó họ Dau được xếi cùng bộ với các họ khá quen thuộc ở Lao, Việt Nam như họ Chè (Theaceae), họ Mang cụt (Clusiaceae), ho Ban (Hypericaceae). Hệ thống phân loại mới nhất (phiên bản 2) của Takhtajan năm 2009 (Armen Takhtajan, 2009) [15].
Theo quan điểm phân loại APG III (Angiosperm Phylogeny groups) và quan điểm của Armen Takhtajan (2009) [26], họ Dầu thuộc bộ Bông (Malvales) nằm trong lớp Hai lá mim (Magnoliopsida) bao gồm khoảng 600 loài, thuộc 16 chi phân bo rộng rãi trên toàn thé giới nhưng tập trung nhỉ nhất ở các vùng nhiệt đói và đặc biệt là khu vực Đông Nam A trong đó có CHDCND Lào, Vé hệ thông phân loại, một số công trình nghiên cứu về phân loại họ Dầu như Crongiat (1981), Maury - Lechon & Curter (1998)[23], Ashton (1982)(16], Armen Takhtajan (1973, 1997, 2009) [1S], đều thống nhất phân chia họ Dau thành 3 họ phụ là: (1); Dipteroparpoideae với 13 chỉ và khoảng 470 loài, phân bố chủ yếu ở. Các chỉ lớn trong họ phụ này là: Shorea 194 loài, Hopea 102 loài, Dipterocarpus 69 loài và Vatiea 65 loài. Họ phụ thứ hai là Monotoideae gồm 3 chỉ và 34 loài phân bố chủ. yếu ở Châu Phi và 1 loài ở Nam Mỹ (Pseudomonotes tropinbossii).
Họ phụ thứ ba là Pakaraimacoideae gồm ] loài duy nhất là Pakaraimaea dipterocarpa được ghi nhận ở Nam Mỹ: Một số nghiên cứu về từng lĩnh vực của họ Dầu như Woon và Keng (1979) nghiên cứu về hình thái Nhị của 42 loài thuộc 13 chỉ họ Dầu tại Châu A, hay công trình của Whitmore (1962, 1963) [27] [28] nghiên cứu về hình thái vỏ của 130 loài trong họ Dầu. Kết quả nghiên cứu của Ashton, P. Những cây gỗ lớn, thường xanh hoặc bán thường xanh, thường rụng lá vào mùa khô, thân thing, lá đơn, nguyên mọc xen á có hình mạng lông chim, mép lá nguyên hoặc có khía. cu: bao lấy chdi, lá kèm không rụng hoặc rụng sớm.
Gi), Hoa lưỡng tính, mẫu 5, đối xứng, chim tụ tấn, cánh hoa màu trắng, dính bên hoặc dính lién với dé, nhiều nhị đực mang trung đớ nhị rời hay đính với cánh hoa, bầu trên thường có 3 ô. Trái có lá đài trưởng thành 2, 3 hoặc 5 cánh lớn, hạt không có phôi nhũ, rế Đầm bướng về phía tồn hại. Gỗ cũ các loài họ Dầu có sự biển đổi màu sắc, tỷ trọng và cường độ phù hợp với cấu trúc của ching. Gỗ từ mầu vàng nhạt đến nâu đỏ, tỷ trọng gỗ cũng khác nhau từ 40poundwm3 (wong đương 640kg/m3) đến 60pounds/m3 (tương đương 960kg/m3).
Một đặc điểm cơ bản của gỗ cây họ Dau là sự có mat các ống nhựa xếp thang đứng, khi cất ngang các ống nhựa này là những điểm màu trắng nằm rải rác, hoặc nằm song song với nhau. 112, Nghiên cứu thành phầm và phân BỔ loài cấp họ Đầm ipterocarpaceae) “Tác giả Ashton, P. 8, (1982) , (1988) [I6], [I7]: nghiên cứu về phân bổ loài cây họ Dầu, ghỉ nhận rằng loi cây họ Dầu có pẩn bỖ tập trung ở vùng khí hậu nhiệt đới với lượng mưa bình quân trên năm lớn hơn 1000mm và mùa mưa đưới 6 tháng, các loài không phân bồ trên độ cao quá 1000m so với mực nước biển. Theo ông, Ho Diu chia làm 3 phân họ phụ: (1).
Dipterocarpoideae là phân họ lớn nhất gồm 13 chỉ và 475 loài, phân bố ở vùng châu Á nhiệt đới: (2). Monotoideae có 3 chỉ và 30 loài, phân bổ ở vùng châu Phi và Madagasca và (3). Pakaraimoideae chí có một chỉ và một loài, phân bổ ở vùng Nam Mỹ. Tại Việt Nam, tài nguyên rừng đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiễu nguyên nhân, trong đó có nạn khai thác gỗ trái phép mà những loài trong họ Dau là một trong những đối tượng chính.
Các nghiên cứu về thành phan loài cây họ Dâu cũng được tiến hành trong những năm qua. Thái Văn Trừng (1986), Báo cáo tổng quát về họ Diu Việt Nam theo các thảm thực vật rừng Việt Nam, theo ghi nhận của tác gid, thành phan loài cây họ Dau rat da dang, có phân bồ rộng từ Nam ra Bắc, trong số đó có nhiều. loại cây gỗ lớn, có giá trị kinh tế cao, vùng sinh thái rộng. Nguyễn Đình Cường (1987) [4].
đã nghiên cứu kỹ thuật trồng một số loại cây họ Sao Dầu. Kết quả trồng thử nghiệm cho thấy, một số loài cây có. khả năng sống, sinh trưởng và phát triển tốt, nếu ở nơi trồng thuận lợi, cây trồng gia đoạn đầu sinh trưởng và phát triển tốt hơn so với rừng tự nhiên. phát triển nhân rộng số lượng loài cây họ Dau, cần tiền hành trồng bé sung.
một số loải nhằm tăng độ che phủ ngày cảnh bị suy giảm tại Việt Nam. Smiunand, T et al (1990) [25], nghiên cứu vé số lượng và phân bố họ. Dau ở 3 nước Đông Dương (Lào, Campuchia và Việt Nam), ghi nhận 3 nước Đông Dương thành phần loài họ Dẫu phân bé có 6 chỉ và 46 loài. Nghiên cứu của tắc giả cũng chi ra: Ở châu A, họ Dau tập trung chủ yếu ở vùng rừng.
nhiệt đới ẩm như Malaysia gồm các chỉ: Anisoptera, Balanocarpus Cotylelobium, Dipterocarpus, Hopea, Parashorea, Shorea, Stemonoporus, Upuna, Vateria, Vateriopsis, Vatica, trong đó các chỉ lớn nhất là Shorea (196 loài), Hopea (105 loài), Dipterocarpus (70 loài) và Vatiea (65 loài). Nghiên cứu đặc điểm phân bố tự nhiên họ Dau tại miền Đông Kalimantan, Indonesia dự vào mối tương quan tuyến tính khi sử dụng dữ liệu từ công. nghệ viễn thám kết hợp với số ô tiêu chuẩn điều tra thực địa, kết quả nghiên. cứu của các tác giả đã chỉ ra, họ Dầu tại khu vực nghiên cứu được phân bố.
chủ yếu băng 1/4 tổng diện tích tự nhiên trong khu vực. Phân bổ tự nhiên họ Dầu tại đây ảnh hưởng lớp bở các nhân tổ địa hình như độ cao, độ dốc, hướng. phơi, lượng nước mưa, thành phan loại dat, họ Dau chỉ phân bố trên địa hình, thổ những phù hợp với đặc tính sinh thái của chúng. Ở khu vực châu Phi và Madagasca với 2 chi Marquesia và Monotes, ở khu vực Nam Mỹ với chi đặc trưng là Pakaraimaea (Guyana), Pham Hoàng Hộ (1999) [6], tập công trình nghiên cứu về “Cay cỏ Việt Nam”, tác gid đã thống kê, mô tá 40 loài thuộc 6 chỉ trong ho Diu phân bổ tai Vigt Nam, các lod được thống kẽ, mô tả chỉ tết theo chi Tran Hợp (2002) [8], trong cuốn “Tài nguyên cây gỗ Việt Nam” đã mé tả đặc điểm hình thái thân, cành lá, hoa quả của 42 loài cây gỗ thuộc họ Dau có phân bố ở Việt Nam.
Tác giả cũng đã dé cập tới một số đặc điểm về phân bố. theo địa danh (đến tinh) của từng loài ở Việt Nam Dựa trên số liệu nghiên cứu của các tác giả di trước, Nguyễn Hoàng Nghĩa (2005) (10], đã có những nhận định dựa trên kết quả nghiên cứu về thành phân loài cây họ Dâu thì loài Dau thanh (Diprerocarpus gracilis) và Dau Ke (Dipterocarpus kerii) hiện có thể, biến mắt không còn phân bố tại 'Việt Nam, tác giả nhận định số loài trong họ Dau tại Việt Nam đã bị suy giảm, cần có các giải pháp bảo tồn trong tự nhiên để phát triển đa dạng sinh học. Hoàng Văn Sâm và Cs (2009) [12] đã nghiên cứu hệ thống phân loại và bảo tin các loài cây thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) tại Việt Nam. Kết qua nghiên cứu đã làm rõ tính da dạng thành phần loài, chỉ trong họ Dầu tại Việt Nam, Nghiên cứu được thực hiện theo hệ thống phân loại trên quan điểm mới của quốc tế.
Bên cạnh đó dé tải cũng đã phát hiện được một số loải mới. Nghiên cứu sự phan bổ, giá trị sử dụng và tình trang bảo tồn các loài trong ho Dầu có tại Việt Nam, v. Đã xây dựng bộ cơ sở dữ liệu bao gồm thông tin, mô tả, hình ảnh và thu thập hệ thống mẫu tiêu bản để phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứa, bảo tồn và phát triển. Trin Ngọc Hai và Cs (2018) [5], Nguyễn Văn Trung (2018) [13], có công trình công bổ về thực vật ho ‘Varin Quốc gia Phú Q Kiên Giang.
Kết quả nghiên cứu về các loài thực vat hộ Dầu (Dipterocarpaceae) tại VQG Phú Quốc đã ghi nhận được 19 loài, chiếm 1,46% số loài tại VQG Phú. Chỉ Yên vên (Anisoptera) có 1 loài, chi Dầu (Dipteroearpus) có 5 loài, chỉ Sao (Hopea) có 5 loài, chỉ sến (Shotea) có 5 loài và chỉ Táu (Vatica) có 3 loài. Có 06 loài trong Sách Bo Việt Nam (2007), 02 loài thuộc Nghị định số 160/2013/NĐ-CP. Có 14 loài trong Danh lục Đỏ IUCN (2017).
C: loài trong họ Dầu phân bố ở hầu hết các hệ sinh thái rừng hiện có tại VQG Phú Quốc. Tijana Cvetkovic et al (2019) [26], đã nghiên cứu, đánh giá về đặc tính đa dạng và tiến hóa của các loài cây họ Dau tại Trung Quốc thông qua phân tích trình tự gene của thế hệ tái s ih. Kết quả đã chi ra, họ Dau phân bố tại Trung Quốc, quá tình tiền hóa chậm v nguồn gene. Nguồn tai nguyên gene ổn định của những loài cây này đã giúp ích cho Trung Quốc bảo tồn và phát triển cây họ Dau vốn có gid trị kinh tế cao.
Nghiên cứu họ Dầu ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Tài nguyên rừng của Lio được đánh giá rit đa dạng và phong phú, nhiều loài cây có giá trị kinh tế rit cao. Tuy nhiên, cũng giống như các nước. trên thé giới, tài nguyên rừng của Lào đã bị suy giảm một cách nghiêm trong do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó khai thác quá mức ting cây gỗ quý hiếm, trữ lượng lớn, nhất là các cây họ Du. Cây họ Dầu thường có giá trị kinh t o, lên sau những năm 1975, đất nước Lào được giải phóng, cây ho Dầu đã được các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu.
Những nghiên cứu về cây họ Dầu ở Lào tập trung vào các linh vực chính yếu sau. Nghiên cứu về đặc điểm và phân loại ho Dầu (Dipterocarpaceae) ‘Theo hệ 1 1g phân loại của dầu tiên của Armen Takhtajan (1973) thì họ Dau (Dipterocarpaceae) phân bố tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào cũng. thuộc Bộ Ché (Theales).