Chương 1 TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CUU 1. Đặc điểm sinh học loài Xá Xi Xá xi, lên khoa học là Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn. Tên gọi khác là Co chấu, Re đầu, Re hương, thuộc họ Re hay họ Long não (Lauraceae). Xã xi là cây gỗ, kích thước trung bình hoặc lớn; thân hình trụ thing, cao 20 - 25 m, đường kính thân (40 - 70) em; rụng lá nhiều hay it; gốc cây phình to và đôi khi có bạnh gốc.
Vỏ ngoài màu nâu. nâu xám đến xám đậm, thường nứt dọc và bong ra từng mảng; thịt vỏ có mau nâu đỏ nhạt. Cành non tròn, thô, có cạnh, màu lục xám. Lá đơn nguyên, mọc cách: phiến lá hình trứng hay hình bau dục thuôn; kích thước 5 - 15 x 2,5 - 8em; đầu có mũi nhọn, ngắn; gốc hình nêm hay nêm rộng: hai mặt nhẫn; gân bên 3 - 8 đôi; cuống lá dai 1,2 - 3em.
Cụm hoa dạng chuỷ hay tán; mọc ở đầu cành hay nách 14; mỗi cụm mang khoảng 10 hoa. Hoa lưỡng tính; bao hoa 6 thuỳ, màu trắng vàng; nhị 9, bao phấn4 6, chi nhị có lông, 3 nhị vòng trong có 2 tuyến mật; nhị lép 3. Quả mong, hình | đường kính 0,6 - Lem; đi răng, khi chín mẫu xanh vàng hoặc. fm den (Hình 1.
Cành mang hoa và qua cây. xj ở Tam Đảo, Vĩnh Phúc Xá xi cho gỗ tốt, có vân đẹp, khi khô ít bị nút nẻ hay bị én dạng, khong bị mối mọt, chịu nước, gia công chế biế Lá dùng làm thuế máu, chữa đau da dày, phong thấp, mẫn ngửa ngoài da. Quả được dùng chữa cảm, sốt, ly, ho gà. Tinh dầu Xá xj được.
ir dung rộng rai trong công nghệ hoá mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm, do đó có giá trị thương mại rat lớn trê thị trường thé giới (Nguyễn Tién Bai 2003; Phạm Hoàng Hộ, 1999). Phân bố tự nhiên trong rừng mưa nhiệt đới, thường ở độ cao 300 - 900m, cây ưa sống trên đất có ting dày, độ phì cao, tơi xốp, 4m, thoát nước tốt và ở những nơi khuất gió. Cây tra sáng, sinh trưởng tốt trong những rừng. có mật độ trung bình.
Có thể tái sinh bằng hạt hoặc chdi, tái sinh chdi mạnh. Ở Việt Nam cây phân bố ở một số như Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quang Nam, Bình Thuận, Lâm Đồng, ông Nai, Bình Phước. Tổng quan về ADN mã vạch (ADN barcodes) 1. Giới thiệu về ADN mã vạch: Nam 2003, Paul Heber - nhà nghiên cứ tại Đại học Guelph, Ontario Lin đầu tiên đưa ra thuật ngữ *ADN mã vạch”.
ADN mã vạch sử dụng một trình tự ADN ngắn nằm trong geneome của sinh vật như là một chuỗi ký tự duy nhất giúp phân biệt hai loại sinh vật với nhau, nó tương tự như máy quet trong siêu thị đọc hai mã vạch của hai sản phẩm mà nhìn bên ngoài của chúng rất giống. nhau nhưng thực sự là khác nhau. Như vậy mã vạch ADN là một phương pháp định danh mà nó sử dụng một đoạn ADN chuẩn ngắn nằm trong bộ genome của sinh vật dang nghiên cứu nhằm xác định sinh vật đó thuộc loại nào. và cộng sự (2007), ệ thống mã vạch ADN lý tưởng phải dap ứng các yêu cầu sau đây: + Thứ nhất, đoạn ADN chỉ thị phải đủ độ biến thiên để phân biệt giữa các loà nhưng cũng phải không khác nhau quá mức giữa các cá thể trong cùng loài.
+ Thứ hai, hệ thống định danh bằng ADN phải được chuẩn hóa, với cùng một vùng ADN có thể được sử dụng cho nhóm phân loại khác nhau. + Thứ ba, đoạn ADN chỉ thị cần chứa đủ thông tin phát sinh loài để có thé dé đàng định danh loài vào các nhóm phân loại (ch, ho.) + Thứ tư, có khả năng áp dụng với các mẫu vật thô, với vị trí cặp mỗi nhân gen có độ bảo thủ cao, dễ àng thực hiện phản ứng khuếch đại và đọc trình tự ADN, * Đoạn ADN nghiên cứu nên có kích thước ngắn để quá trình nhân bản ADN không bị sai lệch. Thông thường, đoạn ADN nghiên cứu có kích thước 150bp trở lại, nếu dài hơn sẽ dễ bị sai lầm trong quá trình nhân bản ADN. Đặc điểm quan trọng nhất của ADN mã vạch là phái phổ biển và đặc hiệu trong các biển dị và đễ dang sử dụng.
Điều này có nghĩa là các đoạn gen được sử dụng như một mã vạch nên thích hợp cho nhiều đơn vị phân loại. có sự biến đổi giữa các loài nhưng én định và bảo thủ cao bên trong loài hoặc biến đổi không đáng kể. Do đó, ADN mã vạch lý tưởng là một đoạn ADN có trình tự nucleotide ngắn, bắt cặp được với cặp mỗi được thiết kế đặc hiệu dé cr làng khuếch đại bing PCR, ADN mã vạch được sử dụng để giải quyết vin đề bảo tồn đa dang sinh học theo hai cách sau: (1) La một phương tiện giám xát đa dạng sinh học chỉnh xác và nhanh chóng cả trước và sau các hành động bảo Ôn, (2) Cung cá dữ liệu để hỗ trợ trong việc ước tính sự đa dạng phát sinh loài để it lập các tru tiên bảo tồn (Krishnamurthy và Francis, 2012). 6 thực các đoạn ADN mã vạch có thể là những đoạn ADN nằm trong hệ gen nhân (28S rDNA, /TS,.) (Chen, 2010; Schoch et al., 2012) hoặc hệ gen lúc lap (matK, rbcL, trnH - psbA, rpo, traL-wnE, yeƒ.
Ba mã vạch ADN là röcL, matK, trmH-psbA được ir dụng để đánh giá sự đa dạng của các loài cây trong một lô rừng mưa nhiệt đới tại Queensland, Uc và kết luận rằng ADN mã vạch là một trợ giúp đáng kể trong đánh giá đa dạng sinh học và xác định các quần thể yy ngay cả khí chúng không thể phân biệt được tắt cả các loài trong lô (Costion et al. Giới thiệu về chỉ thị trnH-psbA và ứng dụng của chỉ thị trnH-psbA Đoạn trình tự œnH-psbA có kích thước trung bình khoảng 450 bp, nhưng thay đổi từ 296 đến 1120 bp, trnH-psbA được chứng minh là có khả năng xác định loài cao. Locus trnH-psbA đã được khuếch đại thành công ở nhiều thực vật hạt kín và hạt ‘Tuy nhiên, trong nhiều thực vật hạt kín trnH-psbA lại có kích thước rit ngắn (~ 300 bp), kích thước của trinh tự này thay đổi lớn do sự có mặt của gen rpS19 hoặc các gen giả nằm giữa vùng gen của hai gen tH và psbA. Trong nhiều nghiên cứu gần đây đã để xuất việc sử dụng trnFL-psbA như chỉ thị mà vạch độc lập cho thực vật hay kết hợp với ‘matK.
CBOL (Consortium for the Bareode of Life) thấy ring khả năng phân biệt loài của rrnH-psbA là cao nhất (69%) trong số 7 locus được thử nghiệm. va do đó đề nghị nó như là chỉ thị ma vạch bo sung. Chỉ thị znH: IsbA có thể sử dụng trong hệ thống mã vạch ba locus khi hệ thống mã vạch hai locus không cung cấp diy đủ khả năng phân tích (Kress W. và cs, 2008; Vijayan K.2010), Vùng gen trnH-psbA cho thấy tỷ lệ khuếch đại thành công cao nhất (100%) va tỷ lệ sai khác là 83% trong số chín locus thử nghiệm, bao gồm cả ITS, rbeL và matK.
Vì vậy, truH-psbA được coi như một trình tự hữu ích để phân biệt các loài thảo mộc với loài giả mạo. Trình tự này được ding dé phân biệt loài giả mạo Shihu Bulbophyllum odoratissimum (Sm. (Orchidaceae) có nguồn gốc từ loài Dendrobium Sw. với tỷ lệ sai khác trong trình tự là từ 2% đến 3,1%.Nghiên cứu về đa dang di truyền của các loài thuộc chỉ Cinnamomum Long não (Cinnamomum) là một chỉ lớn trong họ Long não (Lauraceae), gồm tối 250 loài phân bổ từ đại lục châu A đến khắp vùng Đông Nam Á, Australia và khu vực Tây Thái bình dương.
Tại miền Nam châu Mỹ. chỉ có một số ít loài, nhưng riêng khu vue Malesian đã phát hiện được khoảng 90 loài. Đến nay chỉ có khoảng 150 loài đã được nghiên cứu ở những chừng mực nhất định từng khía cạnh khác nhau.) là một loài thuộc chi Long não (Ciamamomum). họ Long não (Laurace: , được xếp trong danh lục đỏ của IUCN (1994) ở phân hang DD (Data Deficient, ver 2.
Ở Trung Quốc, Xá xj đã được mô tả chỉ đặc điểm hình thái. Các nghiên cứu s loài Xá xị chưa được. ‘quan tâm nhiễu. Trên đối tượng các loài thuộc họ Long Não (Lauraceae), nhóm nghiên cứu của Liu (Liu và es, 2016) đã sử dụng 04 trình tự ADN mã vạch là marK, zbcL, trnH-psbA và ITS2 đề đánh giá hiệu quả phân biệt loài.
Kết quả cho thấy, inh tự /7S2 không phù hợp để lầm ma vạch cho các loài thuộc họ Long não. Trình tự ømarK và rbcLL có tý lệ định danh loài thành công lần lượt là 30.0%, Trong khi đó trình tự zrnH-psbA có khả năng xác định loài với tỷ lệ đạt 84.0% ở cấp loài đối với 175 mẫu từ 117 loài huộc 35 chỉ trong họ Lauraceae. Nghiên cứu cũng cho thấy việ sử dụng chỉ thị /nI- psbA có hiệu quả xác định loài trong họ Long não cao hơn hin các chỉ thị ‘matK, rbcLL, hay sự kết hợp của cả matK và rbeL. Swetha và cộng sự (2014) áp dụng phương pháp mã vạch ADN 48 phát hiện những chất tạp nhiễm là một loại gia vị có giá trị cao, thường bi pha trộn với các loài kếm chất lượng như Cinnamomwm cassia và Cinnamomum malabatrum, Họ sử dụng các locus mã vạch rbcL, matK và psbA-trnH dé đánh gi iém năng của từng locus mã vạch để xác thực C.
verum tir các chất tạp nhiễm liên quan của nó. Khả năng khuếch đại và giải trình tự thành công là 100% đối với rbcL. và psbA-trnH trong khi marK không thể khuếch đại trong các mẫu thị trường do đó xác nhận sự hiện diện của tap nhiễm C> cassia trong các mẫu thương mại của qué thật. Trong số ba locus, locus rbcL tỏ ra hiệu quả trong việc tìm ra những chất tạp nhiễm trong qué được buôn bán.
Các vị trí da hình nucleotide đơn trong vùng này có thé được khai thác trong việc thiết kế các mỗi đặc hiệu cho C. cassia, cho phép phát triển bộ kit dé dé dàng phát hiện các chất tạp nhiễm ở chính cắp độ vùng bang do đó bỏ qua chi phí giải trình tự. Sudmoon và cộng sự (2014) đã sử dụng các vùng ;poB, rbcLL và matK để xác định bảy loài đã biết là Cinnamomum aromaum (dầu cassia), C. verum) và C, burmannii và bày loài chưa biết là các loài quế (họ long.
Nghiên cứu này nhằm điều tra sự da dang về loài của Cinnamomum được sử dụng trong các loại thuốc truyền thống, chất tạo hương cho thực phẩm và chưng cất dé lấy dầu thơm ở Thái Lan bằng kỹ thuật RAPD.