MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài Vấn đề nghiên cứu cá nước ngọt ở nước ta cũng đã được các nhà khoa học trong nước và nước ngoài quan tâm, công bố trên nhiều thủy vực khác nhau. Tuy nhiên, mới chỉ tập trung vào các con sông lớn và các loài cá kinh tế, còn ở các khu vực vùng sâu, vùng xa, miền núi và đặc biệt nguồn lợi cá suối, cá hang động còn ít được các nhà khoa học nghiên cứu [1]. Tại các lưu vực suối, có rất nhiều loài cá quý hiếm nằm trong Sách Đỏ Việt Nam nhưng kết quả nghiên cứu và ghi nhận còn rất hạn chế. Mặt khác, hiện nay phương thức quản lý, khai thác sử dụng, đánh bắt của người dân cùng với sự thay đổi bất thường của điều kiện tự nhiên, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, môi trường và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội như: xây dựng thủy điện, phát triển du lịch, xây dựng cơ sở hạ tầng.
đã và đang tác động không nhỏ đến môi trường sống của cá cũng như đến sự đa dạng, phong phú và nguồn lợi cá tự nhiên. Đặc biệt là tổ hợp rừng trên núi đá vôi Na Hang nằm trong hệ sinh thái rừng cận nhiệt đới Bắc Đông Dương, nơi mà Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới của Mỹ (WWF-US) đã xác định đây là một trong 233 hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới [2]. Đối với nghiên cứu về cá, trước đây đã có nhiều nghiên cứu về cá ở sông Năng, sông Gâm, sông Lô và các thủy vực khác trên địa bàn Na Hang nhưng sau khi thủy điện Tuyên Quang được hoàn thành năm 2008 đến nay, việc nghiên cứu và đánh giá lại thành phần loài cá tại đây có rất ít công trình công bố và môi trường sống của cá tại đây đang chịu những tác động từ phát triển du lịch và thủy điện Tuyên Quang, cũng như việc đánh bắt và nuôi trồng thủy sản trong hồ thủy điện của người dân địa phương. Xuất phát từ thực tiễn đó, để góp phần bổ sung thêm dẫn liệu cho khu hệ cá nước ngọt và cung cấp thông tin thêm về nguồn lợi cá bản địa, đồng thời góp phần bảo tồn đa dạng sinh học động vật hoang dã nói chung và khu hệ cá của khu vực rừng đặc dụng Na Hang nói riêng, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần loài và phân bố của cá trong các thủy vực tại khu vực rừng đặc dụng Na Hang và vùng phụ cận, tỉnh Tuyên Quang”.
2 Mục tiêu Xác định được thành phần loài và sự phân bố của cá trong các thủy vực thuộc rừng đặc dụng Na Hang và vùng phụ cận. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng: Các loài cá trong các thủy vực khu vực rừng đặc dụng Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Phạm vi nghiên cứu: Các nhánh suối và lòng hồ thủy điện khu vực rừng đặc dụng Na Hang và vùng phụ cận. Nội dung nghiên cứu 1) Xác định thành phần loài tại khu vực rừng đặc dụng Na Hang và vùng phụ cận.
So sánh mức độ tương đồng (Sorensen) thành phần loài cá giữa khu vực rừng đặc dụng Na Hang và các khu vực khác. 2) Đánh giá đặc điểm phân bố của cá trong các thủy vực và đai độ cao. 3) Đánh giá giá trị bảo tồn. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Kết quả đạt được của luận văn góp phần nghiên cứu hoàn thiện hơn khu hệ cá Na Hang, nhằm cung cấp cơ sở khoa học cần thiết phục vụ cho việc quy hoạch, quản lý, bảo tồn khu hệ cá nước ngọt nói chung và khu hệ cá rừng đặc dụng Na Hang nói riêng.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ TRÊN THẾ GIỚI. Cá nước ngọt là một thành phần quan trọng của đa dạng sinh thái toàn cầu, chiếm khoảng 25% tất cả các loài động vật có xương sống [3]. Công trình nghiên cứu đầu tiên về cá được công bố là cuốn sách lịch sử động vật của Aristote (384-322 Tr.
Ông đã giới thiệu được 115 loài cá với những dẫn liệu về môi trường sống, sinh sản, di cư, nơi ở. Đến nửa sau thế kỉ XVI, sau thời kì Phục Hưng của Châu Âu, cùng với sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên khác, công tác nghiên cứu ngư loại ngày càng phát triển một cách có hệ thống cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Về phân loại cá phải kể đến như: Artedi, Cuvier, Valenciennes, Bleeker, Günther, Jordan, Berg, Rainboth [4]. Từ thế kỷ XIX cho đến nay, những công trình nghiên cứu cá được công bố ngày càng nhiều và mở rộng hơn những nghiên cứu về phân loại, sinh học, sinh thái và phân bố của các loài cá.
Về phân loại có các công trình của các tác giả nổi tiếng như: Jordan (1854-1931) giới thiệu khu hệ cá ở Bắc và Trung Mỹ; Boulenger (1851) với 15 tập sách giới thiệu 6.834 loài cá ở Viện bảo tàng Anh [4]. Ở Trung Quốc có nhiều tác giả nghiên cứu về cá như Chu Nguyên Đỉnh, Trương Xuân Lâm, nhưng đầy đủ nhất có lẽ là cuốn “Ngư loại phân loại học” do Vương Dĩ Khang biên soạn vào năm 1958 (Nguyễn Bá Mão dịch năm 1963). Trong cuốn sách này, ông đã đưa ra khoá phân loại và mô tả hai lớp cá sụn và cá xương gồm 70 bộ, 239 họ, 679 giống và 1800 loài cá phân bố ở các thuỷ vực nước ngọt và biển ở Trung Quốc [4]. Ngoài ra, nhiều vùng địa lí trên thế giới cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu.
Theo Nelson et al. (2006), thành phần cá nước ngọt Bắc Mỹ khoảng 1. Một số châu lục khác như Châu Phi (2.533 loài), Châu Âu khoảng 330 loài [6]. Năm 1996, Rainboth nghiên cứu khu hệ cá sông Mê Kông mô tả tới 500 loài [7].
Tiếp sau đó, nhiều tác giả khác như Kottelat (1998, 2000, 2001, 2003) và Robert tiếp tục nghiên cứu khu hệ cá Đông Dương [8]. Về hệ thống phân loại cá hiện sống được xem là đầy đủ, bao gồm hệ thống phân loại cá của hai giáo sư người Nga Rass, Lindberg (1971). Năm 1998, Tổ chức Lương nông Thế giới (FAO) đã công bố danh lục loài cá Thế giới và những tra cứu thống nhất của chúng trong 4 2. Đây là công trình nghiên cứu về đa dạng sinh học cá đầy đủ nhất từ trước tới nay [8].
Từ năm 1976, trung bình có khoảng 305 loài cá được mô tả là mới cho khoa học mỗi năm [3].769 loài cá có giá trị đã được mô tả trên thế giới [9]. Trong đó, khoảng 43% các loài cá trên thế giới là cá nước ngọt và cá nước lợ [5]. Nước ngọt chỉ chiếm 0,3% lượng nước trên toàn cầu nhưng lại có gần 15.000 loài cá nước ngọt.956 trên tổng số các loài cá (30%) chỉ có trong 6 trên 515 họ phân loại. Đặc biệt, khoảng 6.
Điều này phản ánh mức độ phong phú và đa dạng sinh học của môi trường sống nước ngọt [11]. Công tác nghiên cứu để bổ sung về phân bố cá trên Thế giới vẫn đang được tiến hành. Đến thời điểm hiện nay, đã có 34.000 loài cá được mô tả trên trang web dữ liệu về cá fishbase. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ NƯỚC NGỌT VIỆT NAM.
Việc nghiên cứu phân loại cá ở Việt Nam được thực hiện khá sớm. Công trình đầu tiên nghiên cứu về cá nước ngọt ở nước ta là của Sauvage (1881) trong tác phẩm "Nghiên cứu về khu hệ cá Á Châu và mô tả một số loài mới ở Đông Dương". Tác giả đã thống kê 139 loài cá chung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở Miền Bắc Việt Nam. Tirant (1883) công bố và mô tả 70 loài cá ở sông Hương (Thừa Thiên Huế) trong đó có 3 loài mới.
Những năm tiếp theo có nhiều công bố về thành phần loài cá ở các thủy vực khác nhau hoặc mô tả loài mới của nhiều tác giả như Sauvage (1884) thu thập 10 loài ở Hà Nội, trong đó mô tả 7 loài mới; Vaillant (1881-1904) thu thập 6 loài, trong đó mô tả 4 loài mới ở Lai Châu (1891), 5 loài ở sông Kỳ Cùng và có 1 loài mới (1904). Năm 1937, công trình "Góp phần nghiên cứu các loài cá nước ngọt Bắc Bộ Việt Nam" của Chevey và Lemasson đã giới thiệu 98 loài cá thuộc 71 giống, 17 họ và 10 bộ cá ở miền Bắc Việt Nam. Đây là công trình lớn và có giá trị nhất về khu hệ cá nước ngọt thời kỳ này [13]. 5 Giai đoạn năm 1954 - 1975, công tác nghiên cứu cá chủ yếu do các nhà khoa học Việt Nam tiến hành.
Công tác điều tra về cá ở miền Bắc do các cơ quan như Trạm nghiên cứu cá nước ngọt thuộc Tổng Cục thuỷ sản, Khoa Sinh vật trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, trường Đại học Thủy sản thực hiện. Các nghiên cứu này đã tiến hành điều tra ở hầu hết các vùng sinh thái như Đông Bắc, Tây Bắc và Khu bốn cũ; ở các loại hình vực nước khác nhau như sông, suối, hồ chứa, hồ tự nhiên, ao, đầm ruộng.Ở các vùng sâu, vùng xa như Lai Châu, Hà Giang, Cao Bằng, Móng Cái, Quảng Bình còn khá nhiều điểm chưa được điều tra. Các công trình tiêu biểu gồm: Dẫn liệu sơ bộ ngư giới sông Bôi (1959), dẫn liệu sơ bộ ngư giới Ngòi Thia (1960) của Đào Văn Tiến, Mai Đình Yên; Điều tra nguồn lợi sinh vật Hồ Tây của Đặng Ngọc Thanh, Mai Đình Yên (1961); Sơ bộ điều tra thành phần, nguồn gốc và phân bố của chủng quần cá sông Hồng của Mai Đình Yên (1962) [13]. Thời kỳ từ 1975 đến nay, các điều tra khu hệ cá đã tiến hành mở rộng hơn đến hầu hết các điểm mà thời kỳ trước chưa có điều kiện điều tra cũng như quy mô.
Công tác điều tra nghiên cứu cá được tiến hành trong phạm vi cả nước do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I (Viện NCNTTS I) - Bắc Ninh, Viện NCNTTS II - Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều trường đại học cũng như các viện nghiên cứu tham gia. Tiêu biểu như một số công trình có thể kể đến như: + Khu hệ cá miền Bắc: Theo tài liệu sách “Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam” của Mai Đình Yên (1978) gồm có 201 loài, 27 họ và 11 bộ [14]. Năm 2001, trong cuốn “Freshwater fishes of Northern Vietnam” của Kottelat, ông đã tổng hợp và đưa ra được 268 loài cá ở các thủy vực nước ngọt cho khu vực phía Bắc nước ta (từ lưu vực sông Cả trở ra) và vùng liền kề ở Lào, Trung Quốc [15]. Trong cuốn sách này, tác giả đã đính chính và bổ sung 86 loài cho nghiên cứu của Mai Đình Yên (1978).