Đặt vấn đề Hiện nay, biến đ i khí hậu là vấn đề đang được toàn nhân loại quan tâm. Biến đ i khí hậu đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống, kinh tế - xã hội và môi trường toàn cầu. Trong tình hình đó, rừng càng đóng vai trò quan trọng hơn trong việc giảm thiểu tác động biến đ i khí hậu. Hiện nay, tình trạng giảm dần diện tích rừng trên thế giới cũng như ở Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ.
Rừng đang ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng bởi những hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên rừng vào mục đích kinh tế. Đứng trước tình trạng tài nguyên rừng bị suy thoái như hiện tại biện pháp chống suy thoái và khôi phục diện tích rừnglà trồng rừng thay thế và b sung các loài cây rừng mới vào sản xuất. Ở ĐBSCL đặc biệt là khu vực rừng U Minh Hạ Cà Mau, cây Tràm bản địa vốn là cây có mặt lâu đời tại hệ sinh thái rừng U Minh có vai trò quan trong đối với đời sống dân cư và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ngoài việc tác động tiêu cực của con người, cây Tràm dần dần tỏ ra yếu thế trong việc đem lại nguồn thu cho người dân do chu kỳ khai thác dài và hiệu quả kinh tế thấp so với một số loại cây trồng khác.
Chính vì thế, với mục đích làm gia tăng sản lượng rừng, năm 2009, tỉnh Cà Mau được Bộ NN&PTNT cho phép b sung thêm 2 loại cây lâm nghiệp, trong đó có cây Keo lai, được phép trồng trên đất rừng sản xuất và đến nay toàn tỉnh đã trồng được trên 4. Trong đó khu vực U Minh Hạ đã trồng hơn 2. Cây Keo Lai là một trong những loài cây sinh trưởng và tạo sinh khối nhanh và được phát triển trồng nhiều trong sản xuất hiện nay. Giá trị kinh tế của loài Keo Lai được đánh giá cao, đem lại thu nhập cao cho người sản xuất.
Keo Lai đã và đang trở thành nguồn tài nguyên quan trọng mang tính toàn cầu với diện tích hơn 3,5 triệu ha (Báo cáo của Hội nghị Quốc tế “Duy trì và phát triển rừng trồng các loài Keo trong tương lai”, 2014). U Minh Hạ ngoài là lá ph i xanh thì còn là nơi bảo tồn, tái tạo các giá trị về cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái và đa dạng sinh học của khu vực. Dưới các tán tràm của toàn bộ rừng U Minh Hạ là nơi sinh sống một lượng lớn nguồn lợi cá đồng. Từ lâu cá đồng được xem là một thành phần quan trọng tạo nên sự đa dạng sinh học ở tỉnh Cà Mau nói chung và U Minh Hạ nói riêng.
Cá đồng có mặt trong điều kiên tự nhiên đã tạo ra thương hiệu n i tiếng cho khu vực U Minh nói chung và U Minh Hạ nói riêng. Nguồn lợi cá đồng đã đem lại thu nhập đáng kể cho các hộ hộ dân trong vùng. Tuy nhiên,việc đưa cây Keo Lai vào trồng tại khu vực này đã có nhiều ý kiến cho rằng cây Keo Lai trồng trên đất phèn trong khu vực rừng tràm đã gây một số tác động làm ô nhiễm môi trường nước trong các kênh rạch và đã tác động tiêu cực đến sự đa dạng sinh học và sinh kế của người dân trong khu vực. Trong 1 đó,việc ảnh hưởng đến nguồn lợi cá đồng trong khu vực được các nhà quản lý và người dân đặc biệt quan tâm.
Tuy nhiên, vấn đề đặc ra là tác động tiêu cực từ việc trồng Keo Lai xảy ra như thế nào và mức độ ảnh hưởng ra sau đến nguồn lợi cá đồng trong khu vực vẫn chưa có nghiên cứu nào cụ thể và giải đáp vấn đề này.Với thực tế nêu trên, việc nghiên cứu“ Thành phần và số lượng cá đồng ở khu vực trồng Keo Lai và Tràm tại rừng U Minh Hạ” được thực hiện nhằm làm rõ vấn đề được đặc ra và giúp cho công tác quản lý và quy hoạch khu vực rừng U Minh Hạ tỉnh Cà Mau được tốt hơn.1 Mục tiêu tổng quát Đánh giá ảnh hưởng của việc trồng Keo lai đến nguồn lợi cá đồng trong khu vực rừng U Minh Hạ huyện U Minh Cà Mau nhằm góp phần hỗ trợ cho công tác quản lý khai thác cũng như quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế trong khu vực nói riêng và tỉnh Cà Mau nói chung.2 Mục tiêu cụ thể - Khảo sát đánh giá thực trạng trồng cây Keo Lai và cây tràm tại khu vực rừng U Minh Hạ. - Đánh giá thành phần loài và số lượng cá thể cá đồng làm cơ sở đánh giá tác động của việc trồng cây Keo Lai của đến nguồn lợi cá đồng tự nhiên trong khu vực rừng U Minh Hạ. - Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu tác động của việc trồng cây Keo Lai đến cá đồng tự nhiên tại rừng U Minh Hạ.3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Tập trung nghiên cứu hiện trạng canh tác cây Keo Lai và nguồn lợi cá đồng cũng như các tác nhân ảnh hưởng trong khu vực.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài được thực hiện trong phạm vi khu vực trồng Keo Lai và khu vực trồng tràm thuộc huyện U Minh và Vườn Quốc gia U Minh Hạ, Cà Mau. Thời gian thực hiện nghiên cứu bắt đầu từ tháng 9/2015 đến tháng 9/2016.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1.1 Ý nghĩa khoa học Tìm hiểu và đánh giá được tác động của việc trồng cây Keo Lai đến môi trường tại khu vực rừng U Minh Hạ, đặc biệt là tác động đến nguồn lợi cá đồng.
Từ đó, đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên.2 Ý nghĩa thực tiễn Xác định được sự biến động thành phần loài và số lượng cá thể của cá đồng giữa khu vực trồng cây Keo Lai và khu vực trồng Tràm.Từ đó, đề xuất biện pháp 2 giảm thiểu các tác động về môi trường của khu vực trồng Keo Lai. Đồng thời đề tài còn góp phần bảo tồn nguồn cá đồng vốn mệnh danh là đặc sản rừng U Minh, phát triển sinh kế của người dân trong khu vực trồng rừng.5 Giới hạn nghiên cứu của đề tài - Đề tài chỉ tập trung khảo sát và đánh giá về số lượng và thành phần loài cá đồng của khu vực rừng Keo Lai và so sánh với rừng Tràm tại rừng U Minh Hạ, tỉnh Cà Mau. - Đề tài chỉ phân loại ở mức độ loài. - Trong báo cáo đề tài có sử dụng số liệu về thực trạng canh tác cây Keo Lai, tính chất đất và nước từ dự án “Đánh giá tác động của trồng Keo Lai đến nguồn lợi cá đồng và mật ong trong khu vực rừng U Minh Hạ”, để làm cơ sở phân tích và thảo luận trong đề tài.
3 CHƢƠNG 2 LƢỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Sơ lƣợc về khu vực nghiên cứu 2.1 Vị trí địa lý Rừng tràm U Minh Hạ, Cà Mau có t ng diện tích khoảng 56.000ha, trong đó đất có rừng là 36.500ha nằm trên địa bàn 3 huyện là U Minh, Trần Văn Thời và Thới Bình. Khu vực nghiên cứu (Nguồn: camau.1 Bản đồ hành chính tỉnh Cà Mau Rừng tràm U Minh thuộc hệ sinh thái đất ngập nước nội địa, với rừng tràm trên đất phèn và đất than bùn. Cùng với U Minh Thượng (Kiên Giang là một trong hai nơi duy nhất ở Việt Nam có hệ sinh thái rừng này, đồng thời là vùng đất ngập nước quan trọng và có giá trị trong vùng hạ lưu sông Mê Kông và Đông Nam Á. Đặc trưng cơ bản của bồn trũng U Minh là quá trình nâng lên của thế đất hình dạng lòng chảo, mà trung tâm bồn trũng là hệ sinh thái rừng U Minh Hạ, với địa thế tự nhiên của hệ sinh thái rừng ngập mặn chuyển hẳn sang rừng tràm khi tiến sâu vào nội địa và ngọt hóa dần bồn trũng.
Ngoài diện tích 8.500ha rừng đặc dụng ở Vườn Quốc gia U Minh Hạ quy hoạch nhằm mục đích bảo tồn thiên nhiên, nghiên cứu khoa học, còn lại là rừng sản xuất, phát triển kinh tế, cân bằng hệ sinh 4 thái, n định môi trường. Nơi đây có hệ sinh thái rừng tràm sáu tháng ngập nước và sáu tháng khô hạn. Rừng với giá trị rất cao về đa dạng sinh học, cảnh quan thiên nhiên, môi trường, văn hóa và lịch sử (C ng thông tin điện tử Cà Mau. Trước đây Vườn quốc gia U Minh Hạ là Khu bảo tồn thiên nhiên Vồ Dơi.
Năm 2006 được chuyển thành Vườn Quốc gia U Minh Hạ theo Quyết định số 112/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (ngày 20/01/2006. Vườn có t ng diện tích 8.256 ha nằm trên địa bàn các xã Khánh Lâm, Khánh An thuộc huyện U Minh và các xã Trần Hợi, Khánh Bình Tây Bắc thuộc huyện Trần Văn Thời. Ngoài ra, Vườn quốc gia U Minh Hạ còn có hơn 25.000 ha vùng đệm thuộc Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp U Minh Hạ, Trại giam K1 Cái Tàu và Trung tâm nghiên cứu ứng dụng rừng ngập Minh Hải. Ngày 26 tháng 5 năm 2009, Vườn quốc gia U Minh Hạ được UNESCO đưa vào danh sách các khu dự trữ sinh quyển của thế giới.
Vườn quốc gia U Minh Hạ còn có nhiệm vụ bảo tồn, tái tạo các giá trị về cảnh quan thiên nhiên, môi trường sinh thái và đa dạng sinh học của hệ sinh thái đất ngập nước đặc thù, rừng tràm trên đất than bùn; bảo tồn và phát triển nguồn gen các loài động thực vật quý, các giá trị văn hóa, tinh thần, di tích lịch sử, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, tham quan và phát triển du lịch.2 Hệ thực vật, động vật Rừng ngập ở đây với nét đặc sắc riêng có đất than bùn khá dày, nước đỏ; là nơi trú ngụ của nhiều động, thực vật quý hiếm; nơi cung cấp lâm sản, gieo trồng lúa, trồng các loại cây ăn quả, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản; là nơi sinh sống của các cộng đồng dân cư địa phương.000ha rừng đệm là khu bảo vệ thiết yếu bảo đảm cho sự phục sinh của các giống loài đặc hữu của hệ sinh thái ngập nước với nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam như: Rắn h mang chúa, tê tê, rái cá lông mũi. Hệ thực vật, động vật rừng tràm Vườn quốc gia U Minh hạ rất phong phú; đến nay được ghi nhận: thực vật có 79 họ, với hơn 30 loài cây, tiêu biểu nhất vẫn là cây tràm, móp, năn, sậy, choại.; động vật thuộc lớp thú có 32 loài gồm 13 họ; lớp chim có 74 loài, trong đó có hàng chục loại chim, thú quý hiếm được ghi vào Sách đỏ của T chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN .