MỞ ĐẦU Dãy Hoàng Liên Sơn có chiều dài 280 km chạy từ Phong Thổ (Lai Châu) về đến tỉnh Hoà Bình, bề ngang chân núi ở đoạn rộng nhất lên tới 75km và đoạn hẹp nhất là 45km. Dãy đƣợc hình thành từ 3 khối núi lớn là khối Bạch Mộc Lƣơng Tử, khối Phan- Xi-Păng và khối Pu Luông cho nên Hoàng Liên Sơn đƣợc mệnh danh là nóc nhà của Tổ quốc. Ngoài ra, nơi đây còn đƣợc biết đến nhƣ một trung tâm đa dạng sinh học bậc nhất tại Việt Nam. Thực vậy, Hoàng Liên chứa đựng đa dạng nguồn gen về động thực vật rất phong phú.
Ƣớc tính có khoảng 25% loài thực vật đặc hữu và khoảng 50% các loài lƣỡng cƣ xác định ở Việt Nam đƣợc tìm thấy ở Hoàng Liên. Ngoài ra, dãy Hoàng Liên còn biết đến với hàng ngàn những cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ. Trong đó, khu vực dãy Hoàng Liên Sơn thuộc địa phận tỉnh Lào cai là nơi tập trung nhiều khu du lịch nhất, là điểm đến lý tƣởng cho khách du lịch khám phá : VQG Hoàng Liên, đỉnh Phan Xi Păng, vƣợt đèo Ô Quy Hồ, khám phá văn hóa các dân tộc thiểu số sinh sống trong vùng đệm của vƣờn,…Chính vì những ƣu ái của thiên nhiên nhƣ vậy, mà dãy Hoàng Liên Sơn thuộc địa phận tỉnh Lào cai đƣợc biết đến nhƣ là khu du lịch sinh thái, nghỉ dƣỡng tuyệt vời. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội, khi mà con ngƣời chƣa chú trọng bảo vệ đa dạng sinh học, đề cao lợi nhuận kinh tế đã khai thác, chặt phá rừng bừa bãi và sự phát triển không kiểm soát của du lịch.
Dẫn đến nguồn tài nguyên thiên nhiên bị phá hủy tới mức không thể tự phục hồi. Đặc biệt, một số loài cây quý hiếm, nhất là cây dƣợc liệu bản địa tại khu vực Hoàng Liên Sơn, đang có dấu hiệu suy giảm, đẩy nhiều loài vào nguy cơ tuyệt chủng. Hơn nữa, khi không có những cánh rừng giữ nƣớc, thì với địa hình đặc trƣng nhiều dốc đứng nhƣ nơi đây, thì rất dễ xẩy ra lũ lụt, xói mòn đất,…,và hàng loạt những phụ hệ khác sẽ đẩy con ngƣời vào những nguy cơ phải chịu thiên tai nặng nề. Vậy khi những cánh rừng không đƣợc đề cao bảo vệ đúng mức, thì chính cuộc sống, sức khỏe, kinh tế,… của con ngƣời sẽ suy giảm trầm trọng.
Nhận thức đƣợc tầm quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững tại khu vực Hoàng Liên Sơn thuộc địa phận tỉnh Lào Cai, đã có nhiều nghiên z cứu đƣợc thực hiện. Bởi chúng ta nhận thấy rằng, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững chính là đích tới cho sự phát triển kinh tế cân bằng với tự nhiên. Đồng nghĩa, đó là đem lại cho con ngƣời sức khỏe, cuộc sống tốt và nguồn lợi kinh tế bền vững,.Và để định hƣớng bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững thì chúng ta phải hiểu rõ các yếu tố sinh thái nơi đây. Chính vì lý do đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “ Bước đầu nghiên cứu sự thay đổi một số nhân tố sinh thái theo các đai độ cao ở khu vực dãy Hoàng Liên Sơn (thuộc địa phận tỉnh Lào Cai) phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững” với các mục tiêu đề ra: 1.
Bƣớc đầu tiếp cận với những nghiên cứu về một số nhân tố sinh thái ở Việt Nam và tại dãy Hoàng Liên Sơn (thuộc địa phận tỉnh Lào Cai). Đánh giá sự biến đổi một số nhân tố sinh thái theo đai độ cao địa hình. Bƣớc đầu đề ra một số định hƣớng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững ở khu vực dãy Hoàng Liên (thuộc địa phận tỉnh Lào Cai). TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. Đa dạng sinh học Thuật ngữ đa dạng sinh học (biodiversity) đƣợc đƣa ra lần đầu tiên bởi 2 nhà khoa học Norse và McManus vào năm 1980. Định nghĩa này bao gồm hai yếu tố có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lƣợng các loài trong một quần xã sinh vật). Cho đến nay đã có hơn 25 định nghĩa nữa cho thuật ngữ "đa dạng sinh học" này.
Trong đó, định nghĩa của tổ chức Lƣơng nông Liên hiệp quốc (FAO) cho rằng: "đa dạng sinh học là tính đa dạng của sự sống dƣới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái"[15]. Tính đa dạng có thể hiểu là một số lƣợng xác định các đối tƣợng khác nhau và tần số xuất hiện tƣơng đối của chúng. Đối với đa dạng sinh học, những đối tƣợng này đƣợc tổ chức ở nhiều cấp độ, từ các hệ sinh thái phức tạp đến các cấu trúc hoá học là cơ sở phân tử của vật chất di truyền. Do đó, thuật ngữ này bao hàm các hệ sinh thái, các loài, các gen khác nhau và sự phong phú tƣơng đối của chúng.
Đa dạng sinh học còn là sự đa dạng của các sinh vật trên trái đất, bao gồm cả sự đa dạng về di truyền của chúng và các dạng tổ hợp. Đây là một thuật ngữ khái quát về sự phong phú của sinh vật tự nhiên, hỗ trợ cho cuộc sống và sức khoẻ của con ngƣời. Khái niệm này bao hàm mối tƣơng tác qua lại giữa các gen, các loài và các hệ sinh thái (nhƣ quan niệm của Reid & Miller, 1989) Tại Hội nghị Thƣợng đỉnh Rio de Janerio ngày 05/06/1992, với sự thông qua cảu 157 quốc gia và vùng lãnh thổ, công ƣớc về ĐDSH đã đƣợc thông qua. Theo công ƣớc ĐDSH thì “ ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong HST z trên cạn, trong đại dƣơng và các hệ sinh thái thuỷ vực khác cũng nhƣ các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần trong đó.
Từ đó thuật ngữ này trở lên phổ biến[15]. Định nghĩa do Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế (WWF,1989) quan niệm ĐDSH là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và những HST vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trƣờng”. Do vậy, ĐDSH bao gồm 3 cấp độ: đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng HST. Đa dạng loài bao gồm toàn bộ các loài sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm.
Ở mức độ vi mô hơn, ĐDSH bao gồm cả sự khác biệt về gen giữa các loài, khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly về địa lý cũng nhƣ sự khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. ĐDSH còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, các HST nơi mà các loài cũng nhƣ các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự khác biệt của các mối tƣơng tác giữa chúng với nhau[15]. ĐDSH có ý nghĩa rất to lớn với sự tồn tại của sự sống trên trái đất. Cụ thể: Giá trị bảo vệ nguồn gen động thực vật quý hiếm: ĐDSH đƣợc thể hiện với sự đa dạng về các loài động và thực vật, trong đó có các loài rất có giá trị.
Chính vì vậy nếu gìn giữ đƣợc đa dạng sinh học chúng ta có thể lƣu giữ đƣợc nguồn gen này cho các thể hệ tƣơng lai. Bảo vệ tài nguyên đất và nước, giảm thiểu xói mòn và làm điều hòa khí hậu: Các quần xã sinh vật đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ rừng đầu nguồn, những HST vùng đệm, giảm nhẹ mức độ lũ lụt và hạn hán cũng nhƣ duy trì chất lƣợng nƣớc. Tán cây và các lớp lá rụng dƣới đất ngăn cản sức rơi của những giọt mƣa làm giảm tác động của mƣa lên đất; rễ cây và các vi sinh vật đất làm thông thoáng không khí trong đất và giảm bớt khả năng xảy ra lũ lụt khi có mƣa lớn và làm cho dòng chảy chậm lại đến hàng ngày, hàng tuần sau khi mƣa. Quần xã thực vật có vai trò rất quan trọng trong việc điều hoà khí hậu địa phƣơng, khí hậu vùng và ngay cả khí hậu toàn cầu.
z Cung cấp các nguồn lợi kinh tế có giá trị: ĐDSH trực tiếp phục vụ đời sống của con ngƣời góp phần xoá đói, giảm nghèo…. Với vai trò quan trọng của ĐDSH nhƣ vậy nên tính cấp bách của việc bảo tồn đa dạng phải đƣợc đề cao. Bởi nếu bị hủy hoại thì cuộc sống của sinh vật sẽ bị phá hủy, trong đó có cuộc sống của con ngƣời. Chính vì vậy, việc duy trì ĐDSH chính là trách nhiệm của con ngƣời nếu muốn tồn tại.
Các phƣơng án bảo vệ gìn giữ ĐDSH thực tế phải đƣợc đặt ra và đƣợc thực hiện trên phạm vi toàn cầu.2 Bảo tồn đa dạng sinh học trong mối quan hệ với phát triển bền vững. Bảo tồn đa dạng sinh học là quá trình quản lý mối tác động qua lại giữa con ngƣời với các gen, các loài và các hệ sinh thái nhằm mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của các thế hệ tƣơng lai. Để có thể tiến hành các hoạt động quản lý nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, điều cần thiết là phải tìm hiểu những tác động tiêu cực, các nguy cơ mà loài hiện đang đối mặt và từ đó xây dựng các phƣơng pháp quản lý phù hợp nhằm giảm đi các tác động tiêu cực của các nguy cơ đó và đảm bảo sự phát triển của loài và hệ sinh thái đó trong tƣơng lai. Dƣới áp lực ngày càng tăng của sự thay đổi khá nhanh các điều kiện môi trƣờng đã khuyến khích tính thích nghi của loài đƣợc thể hiện.
Đặt các quần thể bảo tồn trong quá trình chọn lọc tự nhiên và trong quá trình tiến hóa theo các hƣớng khác biệt chuẩn bị cho việc thích nghi rộng hơn của loài đối với các điều kiện môi trƣờng khác nhau. Ủy Ban Môi Trƣờng và Phát Triển Thế Giới ( Elliott, 1994) đã định nghĩa phát triển bền vững nhƣ sau : “ Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hƣởng đến khả năng phát triển của các thế hệ tƣơng lai”[4][13].