mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. Vào thời gian này, Tomachev A. được giao 3 nhiệm vụ nghiên cứu hệ thực vật vùng Taimua nằm ở tọa độ địa lý 74 o20’-25o độ vĩ bắc và 102o 30’ độ kinh đông (ghi theo Lê Trần Chấn – 1990) [4]. Trong những năm gần đây hàng loạt các tổ chức, các hiệp hội bảo tồn, các hội nghị quốc tế đã được thành lập, diễn ra các hoạt động vì mục đích cao cả đó.
Nổi bật và đáng chú ý nhất là Hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và đa dạng sinh vật đã được tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 6/1992, 150 nước đã ký vào Công ước về đa dạng sinh vật [5, 8,9]. Để phục vụ cho mục đích bảo tồn, WWF (1990) đã cho xuất bản cuốn sách Tầm quan trọng của đa dạng sinh vật (The importance of biological diversity); IUCN, UNEP, WWF đưa ra Chiến lược bảo tồn toàn cầu (World conservation strategy, 1990), Hãy quan tâm tới trái đất (Caring for the earth, 1991); WCMC đã Đánh giá đa dạng sinh vật toàn cầu (Global biodiversity assessment, 1995). Bên cạnh đó, hàng ngàn những công trình khoa học và các báo cáo khác lần lượt được xuất bản và rất nhiều cuộc hội thảo khác nhau đã được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, về phương pháp luận cũng như thông báo các kết quả đã đạt được trong nghiên cứu về đa dạng sinh vật và bảo tồn trên toàn thế giới. Các kết quả nghiên cứu được công bố trong các báo cáo và hội nghị hội thảo đã cơ bản thiết lập nên một hệ thống thông tin đa dạng sinh vật trên toàn thế giới đã và đang góp phần nâng cao nhận thức đa dạng sinh vật và bảo tồn, khôi phục lại một số hệ sinh thái, hệ thực vật trên các vùng lãnh thổ cấp quốc gia.
Ở Việt Nam: Về thành phần loài và đa dạng trong cấu trúc hệ thống hệ thực vật: Đến nay đã thống kê được gần 12.000 loài thực vật [10, 32], nhiều nhóm có tính đặc hữu cao, nhiều loài đặc hữu có giá trị khoa học và thực tiễn lớn [66,67]. Những công trình nghiên cứu về thực vật Việt Nam, trước hết phải kể đến những tác phẩm cổ điển như các công trình của Loureiro (1790), của Pierre (1879 - 1907) [27] hay của Lecomte với bộ “Thực vật chí Đông Dương” [27]. Sau đó, các nhà thực vật học người Việt Nam cùng với các nhà thực vật học quốc tế khác đã tiếp tục kế thừa và nghiên cứu bổ sung: Thái Văn Trừng (1978) đã thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ [27], về sau Humbert đã bổ sung, chỉnh lý để hoàn 4 thiện việc đánh giá thành phần loài cho toàn vùng [27]; Bộ “Thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam” do Aubréville khởi xướng và chủ biên (1960 - 1997) cùng với nhiều tác giả khác đã công bố 29 tập gồm 74 họ cây có mạch. Tiếp theo có thể kể đến bộ “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên (1969 - 1976) [16] hay “Cây gỗ rừng Việt Nam” (1971 - 1988, 7 tập) [16] của Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, “1900 cây có ích ở Việt Nam” của Trần Đình Lý và tập thể (1993) [16], “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi (2012) [6].
Trong các công trình nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam, bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1993) [10] xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam (1999 - 2000) [10] là bộ danh sách đầy đủ và dễ sử dụng, góp phần đáng kể cho khoa học thực vật ở Việt Nam. Những nghiên cứu về thành phần loài hệ thực vật cụ thể ở các miền và cụ thể hơn nữa là ở các địa phương (các VQG, KBT.) đã được tiến hành liên tục trong nhiều năm qua với sự tham gia của rất nhiều các nhà khoa học trong và ngoài nước. Có thể kể đến các công trình sau: Pócs Tamás (1965) đã thống kê được ở miền Bắc có 5190 loài ( kể cả một số loài ở vùng giữa 120 và 170 độ vĩ Bắc và 155 loài cây trồng có nguồn gốc nhập nội [46]; Phan Kế Lộc thống kê và bổ sung nâng số loài ở miền Bắc lên 5.660 chi và 140 họ [18]; công trình “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ giới thiệu 5.326 loài, trong đó có 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài Rêu còn lại 5.246 loài thực vật có mạch [10]. Tư liệu về hệ thực vật Việt Nam mới nhất phải kể đến bộ “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” do tập thể các nhà thực vật Việt Nam biên soạn, đã giới thiệu khái quát và đầy đủ nhất về hệ thực vật Việt Nam, gồm 3 tập: trong đó tập I (2001) gồm Nấm, Thực vật bậc thấp, Rêu, Thực vật Hạt trần; tập II (2003) và tập II (2005) khái quát về Hạt kín, trong đó toàn bộ lớp Một lá mầm được trình bày trong tập III [32].
Đây là những tài liệu quan trọng, làm cơ sở cho việc đánh giá về đa dạng thực vật Việt Nam. Nghiên cứu đa dạng quần xã thực vật: 1. Trên thế giới Từ lâu, đối tượng nghiên cứu của khoa học về thảm thực vật đã được xác định là tổ hợp các cá thể của các loài thực vật khác nhau, có cấu trúc ngoại mạo, 5 chức năng sinh thái và quy luật phân bố địa lý phân biệt được với nhau, có thể định loại sắp xếp theo các hệ thống phân loại ở các bậc khác nhau, được gọi tên theo các thuật ngữ nhất định. Cho tới nay, có thể thống kê một số hệ thống phân loại thảm thực vật phổ biến trên thế giới như sau: Warming (1895) đã phân chia các quần xã thực vật thành các “nhóm sinh thái” theo tính chất của môi trường đất.
Schimper (1898), phân biệt cấu trúc và tính thích ứng sinh thái của các bậc phân loại lớn thành các quần hệ: quần hệ khí hậu, quần hệ thổ nhưỡng, quần hệ vùng núi. Trong quần hệ khí hậu, Schimper đã phân biệt sáu kiểu: rừng ưa mưa, rừng gió mùa (mưa rào), rừng savan (savane – forest), rừng cây có gai (thorn forest), trảng cỏ nhiệt đới (tropical grassland) và sa mạc nhiệt đới (tropical desert). Beard (1944) (ghi theo Thái Văn Trừng, 1978)[27], đưa ra hệ thống phân loại ba cấp: quần hệ, loạt quần hệ, và quần hợp. Ông lấy cơ sở từ quần hệ rừng mưa nhiệt đới trong điều kiện tối ưu, để phân chia thành năm loạt quần hệ: (1) loạt quần hệ xanh theo mùa, (2) loạt quần hệ vùng núi, (3) loạt quần hệ khô thường xanh, (4) loạt quần hệ ngập nước theo mùa, (5) loạt quần hệ ngập nước quanh năm.
Từ đó, các đơn vị tiếp theo được phân chia. Champion (1936) lấy sự phân hóa đai cao và chế độ khô hạn vùng thấp theo độ vĩ, phân chia theo chín kiểu thảm thực vật trên vùng thấp, cùng với ba kiểu thảm thực vật theo đai cao khác nhau. Puri (1988) đã vận dụng nguyên tắc này của Champion để phân loại các kiểu thảm thực vật ở Ấn Độ. Ngoài những hệ thống trên, một số các tác giả khác như Burt – Davy (1918), Aubréville, Fosberg (1958), Kuchler (1967), Dudley – Stamp (1952) cũng đã dựa trên các chỉ tiêu về địa mạo, địa chất, khí hậu, thổ nhưỡng, hình thái thảm thực vật và đưa ra các bảng phân loại[36].
Năm 1973, UNESCO [46] đã công bố bảng phân loại và thành lập bản đồ thảm thực vật quốc tế. Về cơ bản, bảng phân loại này được sự tham gia thỏa luận, bổ sung nhiều lần bởi Schimidthusen và Ellenberg (1964), Poore và Ellenberg (1965) và hàng loạt các nhà khoa học khác như Gaussen (1966), Ellenberg và Mueller – Dombois (1967), Budơski, Franzle, Germain, Küchler, Lebrun và 6 Sochava (UNESCO – 1973). Bảng phân loại này cơ bản dựa vào tiêu chuẩn cấu trúc ngoại mạo, trên cơ sở so sánh và xác định bởi hình thái quần xã (tức là sự tập hợp các cá thể ưu thế có cùng một dạng sống), mật độ tán che phủ, trạng thái sinh học… bởi nguyên tắc tổ hợp các tiêu chuẩn và so sánh ngang bằng 1. Ở Việt Nam: Chevalier (1918) là người đầu tiên đưa ra bảng phân loại thảm thực vật Bắc Bộ – Việt Nam.
Trong “Thống kê những lâm sản Bắc Bộ”, Chevalier chia rừng Bắc Bộ thành mười kiểu. Năm 1943, Maurand đã chia tám kiểu quần xã trong ba vùng chính của Đông Dương (vùng Bắc Đông Dương, vùng Nam Đông Dương và Trung Bộ). Tiếp đó, năm 1953, Maurand trên cơ sở các công trình nghiên cứu của Rollet, Lý Văn Hội, Neang Sam Oil có đưa ra bảng phân loại về các quần xã thực vật Nam Việt Nam. Năm 1956, Giáo sư Dương Hàm Hi trong cuốn “Tài nguyên rừng Việt Nam” có đưa ra bảng phân loại về thảm thực vật rừng Bắc Việt Nam.
Năm 1958, Vidal trong Luận án tiến sỹ của mình đã đưa ra bảng phân loại thảm thực vật Lào dựa trên hệ thống phân loại thảm thực vật của Aubréville – được Hội nghị Yangambi (Daia) công nhận năm 1956 [27]. Năm 1960, Vũ Văn Cường trong công bố của mình đã đưa ra các dẫn liệu về các quần hợp ngập nước quanh vùng Sài Gòn, Nam Việt Nam. Một số quần hợp được ông đặt tên khoa học theo Braun – Blanquet [27]. Năm 1970, Trần Ngũ Phương [19] sau khi đã quy định thuật ngữ dùng cho các bậc phân loại cũng đã đưa ra bảng phân loại rừng Bắc Việt Nam.
Bảng phân loại này đã đề cập tới sự phân hóa của thảm thực vật theo đai cao cùng với sự phân hóa của khí hậu, thổ nhưỡng… và điều kiện nhân tác. Các bậc phân loại này, về tiêu chuẩn xác định tương đương với bậc quần hệ của UNESCO. Trong các đai rừng khí hậu trên, Trần Ngũ Phương chia tiếp thành các kiểu rừng khí hậu, các loại hình khí hậu, các loại hình khí hậu – thổ nhưỡng, và sau đó là các kiểu phụ khí hậu, kiểu phụ thổ nhưỡng và kiểu phụ thứ sinh nhân tác. Năm 1970 và 1978, Thái Văn Trừng dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh trình bày bảng phân loại thảm thực vật toàn lãnh thổ Việt Nam, từ bậc nhóm kiểu 7 thảm thực vật tới bậc quần hợp.
Dựa vào sự phân hóa của khí hậu, mười bốn kiểu thảm thực vật khác nhau được phân chia tiếp từ hai nhóm kiểu thảm thực vật này, tên của mỗi kiểu thảm được gọi bằng chính tên của các kiểu khí hậu sinh vật do ông xác định. Năm 1985, Phan Kế Lộc vận dụng khung phân loại của UNESCO phân loại thảm thực vật Việt Nam [17].