Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và quan hệ di truyền của họ tắc kè Gekkonidae ở Lào

Nghiên cứu đa dạng loài và quan hệ di truyền của họ tắc kè Gekkonidae tại các khu vực núi đá vôi ở Lào, cung cấp thông tin quý giá về sinh học.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2021

181
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục tiêu của luận án

0.2.1. Mục tiêu tổng quát

0.2.2. Mục tiêu cụ thể

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Những đóng góp mới của luận án

0.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

0.5.1. Ý nghĩa khoa học

0.5.2. Ý nghĩa thực tiễn

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Khái quát tình hình nghiên cứu bò sát ở Lào

1.2. Hệ thống phân loại và phân bố họ Tắc kè (Gekkonidae)

1.3. Nghiên cứu họ Tắc kè ở các nước lân cận

1.3.1. Ở Việt Nam

1.3.2. Ở Thái Lan

1.3.3. Ở Cam Pu Chia

1.3.4. Ở Myanmar

1.4. Các nghiên cứu về họ Tắc kè (Gekkonidae) ở Lào

1.5. Các nghiên cứu liên quan khác

Tóm tắt

I. Giới thiệu về đa dạng loài tắc kè Gekkonidae tại Lào

Nghiên cứu về đa dạng loài tắc kè thuộc họ Gekkonidae tại Lào đã chỉ ra rằng khu vực này có sự phong phú về thành phần loài. Theo thống kê, từ năm 2004 đến 2020, đã có 30 loài tắc kè được phát hiện, trong đó có 20 loài thuộc giống Cyrtodactylus. Sự đa dạng này cho thấy Lào là một trong những điểm nóng về biodiversity trong khu vực Đông Nam Á. Tuy nhiên, so với các nước lân cận như Việt Nam và Thái Lan, số lượng loài tắc kè ở Lào vẫn còn hạn chế. Điều này đặt ra câu hỏi về quan hệ di truyền và sự phân bố của các loài tắc kè tại đây. Nghiên cứu này không chỉ nhằm mục đích xác định số lượng loài mà còn tìm hiểu về đặc điểm sinh tháimôi trường sống của chúng.

1.1. Tình hình nghiên cứu tắc kè tại Lào

Tình hình nghiên cứu về tắc kè ở Lào còn khá hạn chế. Nghiên cứu đầu tiên về họ tắc kè được thực hiện vào giữa thế kỷ 18, với ghi nhận loài Gekko gecko. Đến nay, đã có nhiều loài mới được mô tả, tuy nhiên, sự hiểu biết về quan hệ di truyềnđặc điểm sinh thái của chúng vẫn còn thiếu. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng hệ sinh thái núi đá vôi tại Lào là nơi lý tưởng cho việc nghiên cứu sinh thái họctiến hóa của các loài tắc kè. Việc tìm hiểu về đặc điểm hình tháimối quan hệ di truyền giữa các loài sẽ giúp nâng cao hiểu biết về sự đa dạng sinh học tại khu vực này.

II. Phân loại và quan hệ di truyền của họ tắc kè Gekkonidae

Phân loại họ Gekkonidae cho thấy sự đa dạng về hình thái và sinh thái. Các loài tắc kè có thể được phân chia thành nhiều giống khác nhau, trong đó giống Cyrtodactylus chiếm ưu thế về số lượng. Nghiên cứu về di truyền học cho thấy các loài tắc kè có mối quan hệ gần gũi với nhau, điều này được thể hiện qua các phân tích gen. Việc xác định đặc điểm di truyền của các loài không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sự phát sinh loài mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho công tác bảo tồn. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng các loài tắc kè ở Lào có thể chia thành ba nhóm chính dựa trên quan hệ di truyền. Điều này cho thấy sự phân bố của chúng không chỉ phụ thuộc vào yếu tố địa lý mà còn vào các yếu tố sinh thái khác.

2.1. Đặc điểm hình thái và sinh thái của tắc kè

Các loài tắc kè trong họ Gekkonidae có nhiều đặc điểm hình thái độc đáo, như khả năng bám dính và giao tiếp bằng âm thanh. Những đặc điểm này không chỉ giúp chúng thích nghi với môi trường sống mà còn tạo ra sự đa dạng trong hệ sinh thái. Nghiên cứu cho thấy rằng các loài tắc kè thường sống trong các môi trường khác nhau, từ rừng núi đến các khu vực đá vôi. Sự đa dạng về môi trường sống cũng ảnh hưởng đến quan hệ di truyền giữa các loài. Việc hiểu rõ về đặc điểm sinh thái của từng loài sẽ giúp xác định các biện pháp bảo tồn hiệu quả hơn.

III. Ý nghĩa và ứng dụng của nghiên cứu

Nghiên cứu về đa dạng loàiquan hệ di truyền của họ tắc kè Gekkonidae tại Lào có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học. Kết quả nghiên cứu không chỉ cung cấp thông tin về số lượng và phân bố của các loài mà còn giúp xác định các yếu tố đe dọa đến sự tồn tại của chúng. Việc công bố 6 loài mới cho khoa học và ghi nhận phân bố mới của 2 loài là một đóng góp quan trọng cho nghiên cứu sinh học tại Lào. Thông tin này sẽ là cơ sở cho các chính sách bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên tại khu vực núi đá vôi. Hơn nữa, nghiên cứu cũng mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo về sinh thái họcdi truyền học của các loài bò sát khác trong khu vực.

3.1. Đề xuất giải pháp bảo tồn

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các giải pháp bảo tồn cho họ tắc kè Gekkonidae tại Lào cần được đề xuất. Việc xác định các địa điểm ưu tiên bảo tồn và các loài tắc kè cần được bảo vệ là rất quan trọng. Các hoạt động bảo tồn cần được thực hiện đồng bộ, bao gồm việc bảo vệ môi trường sống tự nhiên và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn đa dạng sinh học. Hơn nữa, việc hợp tác với các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn sẽ giúp tăng cường hiệu quả của các chương trình bảo tồn tại Lào.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát tình hình nghiên cứu bò sát ở Lào Những công trình nghiên cứu về bò sát ở Lào hiện còn ít và chỉ tăng đáng kể trong những năm cuối của thế kỷ 20. Năm 1999, Stuart xuất bản danh sách các loài bò sát ở Lào lần đầu tiên với 109 loài bò sát được ghi nhận (Stuart et al. Năm 2004, Teynié et al.

công bố danh sách cập nhật thêm 29 loài bò sát được ghi nhận ở Lào. Bốn năm sau, Stuart và Heatwole (2008) ghi nhận thêm 13 loài bò sát ở nước này. Năm 2010, có thêm 6 loài bò sát mới được mô tả từ Lào nâng tổng số 157 loài được ghi nhận ở Lào. Từ 2010 cho đến nay, có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện tại một số tỉnh của Lào như Luông Pha Bang, Viêng Chăn, Khăm Muôn và ghi nhận thêm 24 loài mới được mô tả, bao gồm: 2 loài mới được mô tả năm 2011, 9 loài mới được mô tả năm 2009, 6 loài mới được mô tả năm 2015, 5 loài mới được mô tả năm 2016, 1 loài mới được mô tả năm 2017 và 1 loài mới được mô tả năm 2018.

năm 2018, tổng số loài bò sát được ghi nhận và mô tả ở Lào là 181 loài (Uetz et al. 2018), đến năm 2020 tổng số loài bò sát ở Lào là được tăng lên tới 212 loài, và tới tháng 05 năm 2021 tăng lên 225 loài (Uetz et al. 250 200 225 212 181 150 151 157 138 100 109 50 0 Stuart Teynie Stuart et al Uetz et al Uetz et al Uetz et al Uetz et al (1999) (2004) (2008) (2010) (2018) (2020) (2021) Hình 1. Tổng số loài bò sát được ghi nhận ở Lào từng giai đoạn 6 1.

Hệ thống phân loại và phân bố họ Tắc kè (Gekkonidae) Họ Tắc kè nằm trong Giới động vật (Animalia), Ngành động vật có xương sống (Chordata), Lớp Bò sát (Reptilia) và Bộ Có vẩy (Squamata). Chúng sống tập trung phần lớn ở các vùng khí hậu ấm trên khắp thế giới. Các loài trong họ Tắc kè (Gekkonidae) có tiếng kêu độc đáo trong các nhóm thằn lằn, chúng dùng âm thanh để giao tiếp với nhau. Phần lớn tắc kè không có mí mắt mà có màng trong suốt, được làm sạch bằng cách liếm.

Nhiều loài tắc kè xả mùi hôi hoặc phân vào kẻ thù của chúng để tự vệ. Nhiều loài có giác bám dưới các ngón chân cho phép chúng bám vào thân cây, trần và tường dễ dàng. Đến tháng 05 năm 2021 họ Tắc kè (Gekkonidae) trên toàn cầu có 58 giống và 1. Số loài trong các giống thuộc họ Tắc kè (Uetz et al.

2021) Stt Giống (Genus) Số loài Stt Giống (Genus) Số loài 1 Afroedura 32 30 Lakigecko 1 2 Afrogecko 2 31 Lepidodactylus 41 3 Agamura 2 32 Luperosaurus 9 4 Ailuronyx 3 33 Lygodactylus 71 5 Alsophylax 6 34 Matoatoa 2 6 Altiphylax 5 35 Mediodactylus 17 7 Blaesodactylus 6 36 Microgecko 8 8 Bunopus 3 37 Nactus 35 9 Calodactylodes 2 38 Narudasia 1 10 Chondrodactylus 6 39 Pachydactylus 57 11 Christinus 3 40 Paragehyra 4 12 Cnemaspis 181 41 Paroedura 24 13 Crossobamon 2 42 Parsigecko 1 14 Cryptactites 1 43 Perochirus 3 15 Cyrtodactylus 314 44 Phelsuma 52 16 Cyrtopodion 24 45 Pseudoceramodactylus 1 17 Dixonius 13 46 Pseudogekko 11 7 Stt Giống (Genus) Số loài Stt Giống (Genus) Số loài 18 Dravidogecko 7 47 Ptenopus 3 19 Ebenavia 6 48 Ramigekko 1 20 Elasmodactylus 2 49 Rhinogekko 2 21 Geckolepis 5 50 Rhoptropella 1 22 Gehyra 67 51 Rhoptropus 9 23 Gekko 83 52 Stenodactylus 10 24 Goggia 10 53 Tenuidactylus 8 25 Hemidactylus 173 54 Trachydactylus 2 26 Hemiphyllodactylus 49 55 Trigonodactylus 4 27 Heteronotia 5 56 Tropiocolotes 12 28 Homopholis 4 57 Urocotyledon 5 29 Kolekanos 1 58 Uroplatus 21 Hình 1. Bàn đồ phân bố của họ Tắc kè (Gekkonidae) ở trên toàn cầu. Nguồn ảnh: RepFocus. Nghiên cứu họ Tắc kè ở các nước lân cận - Ở Việt Nam: Việt Nam nằm ở phía Đông của Lào có biên giới kéo dài từ Bắc đến Nam như vậy về hệ sinh thái, địa lý sinh vật có thể nói phần lớn là khá tương đồng.

Những công trình nghiên cứu bò sát nói chung họ Gekkonidae 8 nói riêng, ở Việt Nam được tiến hành khá sớm từ đầu thế kỉ 19. Cho đến nay các chuyên gia đã phát hiện và công bố 94 loài nằm trong 8 giống của họ Gekkonidae như: Giống Cnemaspis có 6 loài, Cyrtodactylus có 48 loài, Dixonius có 6 loài, Gehyra 3 loài, Gekko có 17 loài, Hemidactylus có 7 loài, Hemiphyllodactylus có 6 loài, và Lepidodactylus có 1 loài (Uetz et al. - Ở Thái Lan: Thái Lan có biên giới giáp phía Tây của Lào. Việc nghiên cứu về bò sát của nước này cũng được tổ chức thực hiện khá mạnh cho đến nay đã thể hiện kết quả công bố của các loài họ Tắc kè (Gekkonidae) là 94 loài nằm trong 7 giống: Giống Cnemaspis có 19 loài, Cyrtodactylus có 38 loài, Dixonius có 7 loài, Gehyra 4 loài, Gekko có 15 loài, Hemidactylus có 5 loài, Hemiphillodactylus có 6 loài, và Ptychozoon 5 loài (Uetz et al.

- Ở Cam Pu Chia: Có biên giới giáp phía Nam của Lào. Các nghiên cứu về bò sát ở nước này hiện cũng còn ít và chỉ tăng đáng kể trong những năm cuối của thế kỷ 20. Và cho tới năm 2018, tổng cộng có 187 loài bò sát được ghi nhận (Uetz et al. Hiện tại ở Cam Pu Chia có 25 loài là họ Tắc kè (Gekkonidae) nằm trong 7 giống: Giống Cnemaspis có 3 loài, giống Cyrtodactylus có 10 loài, giống Dixonius có 2 loài, giống Gehyra 2 loài, giống Gekko 5 loài, Hemidactylus có 2 loài và giống Hemiphillodactylus có 1 loài (Uetz et al.

- Ở Myanmar: Có bên giới giáp phía Tây Bắc của Lào. Các nghiên cứu của chuyên gia về bò sát ở nước này hiện cũng được tiến hành nhiều đặc biệt là họ Tắc kè (Gekkonidae). Và cho tới nay, tổng cộng có 77 loài họ Tắc kè được ghi nhận và mô tả nằm trong 6 giống như: Giống Cnemaspis có 3 loài, giống Cyrtodactylus có 45 loài, giống Gekko 6 loài, giống Hemidactylus có 10 loài, giống Hemiphyllodactylus có 12 loài và giống Lepidodactylus 1 loài (Uetz et al. 9 Lào Việt Nam Thái Lan Cam Pu Chia Myanmar 48 45 38 22 19 1715 10 11 10 12 6 67 4 56 575 466 1 33 1 20 13 20 2 1 01001 Hình 1.

So sánh số loài họ Tắc kè ở các nước lân cận 1. Các nghiên cứu về họ Tắc kè (Gekkonidae) ở Lào Đến năm 2018, Lào đã có 45 loài thuộc 7 giống của họ Tắc kè như: - Giống Thằn lằn con ngươi tròn (Cnemaspis) có 1 loài được mô tả năm 2010 là Cnemaspis laoensis. - Giống Thằn lằn ngón (Cyrtodactylus) là giống có tổng số loài nhiều nhất ở Lào, năm 1999, chỉ có 2 loài thuộc Giống Cyrtodactylus được ghi nhận trên lãnh thổ Lào bao gồm Cyrtodactylus interdigitalis và Cyrtodactylus jarujini. Năm 2004, David et al, mô tả thêm 1 loài mới là Cyrtodactylus buchardi.

Trong hai năm 2010, 2011 có một số đợt điều tra đã được thực hiện tại nhiều tỉnh Lào với 5 loài mới được mô tả và ghi nhận, bao gồm: Cyrtodactylus roesleri; Cyrtodactylus wayakonei; Cyrtodactylus lomyenensis; Cyrtodactylus teyniei và Cyrtodactylus pageli. Năm 2014, có 6 loài mới thuộc giống Cyrtodactylus được phát hiện và mô tả, bao gồm: Cyrtodactylus darevskii; Cyrtodactylus jaegeri; Cyrtodactylus khammouanensis; Cyrtodactylus multiporus; Cyrtodactylus spelaeus; Cyrtodactylus vilaphongi. Từ năm 2015-2019, có tới 8 loài mới thuộc giống Thằn lằn ngón Cyrtodactylus 10 được mô tả và ghi nhận, bao gồm: Cyrtodactylus soudthichaki; Cyrtodactylus bansocensis; Cyrtodactylus cryptus; Cyrtodactylus calamei; Cyrtodactylus hinnamnoensis; Cyrtodactylus rufford; Cyrtodactylus sommerladi; Cyrtodactylus thathomensis. Như vậy gồm tất cả là 22 loài.

- Giống Thằn lằn chân lá (Dixonius) có 1 loài được ghi nhận là loài Dixonius siamensis. - Giống Thạch sùng cụt (Gehyra) có 1 loài là Thạch sùng cụt Gehyra mutilata. - Giống Tắc kè (Gekko) cho đến thời điểm này tại Lào ghi nhận được 11 loài trong giống Gekko tính từ năm 1758 phát hiện loài Gekko gecko. Sau thời gian khá lâu mới phát hiện loài Gekko petricolus.

Tiếp theo là loài Gekko lionotum; Gekko scientiadventura; Gekko thakhekensis. Đến năm 2015 phát hiện một loạt 4 loài như: Gekko sengchanthavongi; Gekko bonkowskii; Gecko boehmei và Gekko aaronbauri. Và năm 2017 là phát hiện loài Gekko nadenensis. Năm 2019 có thêm 1 loài là Gekko kabkaebin.

- Giống Thạch sùng (Hemidactylus) có 5 loài là các loài phố biến có phân bố rộng như: Hemidactylus aquilonius, Hemidactylus bowringii, Hemidactylus frenatus, Hemidactylus ganotii và Hemidactylus platyurus. - Giống Thạch sùng dẹp (Hemiphillodactylus) có 4 loài được ghi nhận tại Lào như: Hemiphyllodactylus yunnanensis; Hemiphyllodactylus kiziriani; Hemiphyllodactylus indosobrinus và Hemiphyllodactylus serpispecus. Nghiên cứu của Luu et al. (2016) về Bò sát ở Lào trong vòng 6 năm từ 2010 đến 2016 đã phát hiện tới 21 loài bò sát mới ở Lào, trong đó có 16 loài thuộc họ Tắc kè (Gekkonidae) như: Giống Gekko 4 loài, Giống Cyrtodactylus 11 loài và Giống Hemiphyllodactylus 1 loài.

Bản đồ thể hiện các loài được mô tả tại Lào từ 2010 đến 2016. (Luu et al.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và quan hệ di truyền của họ tắc kè Gekkonidae ở Lào" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự đa dạng sinh học và mối quan hệ di truyền của các loài tắc kè tại Lào. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định các thành phần loài mà còn làm rõ các mối quan hệ di truyền giữa chúng, từ đó góp phần vào công tác bảo tồn và phát triển bền vững các loài động vật này. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học và các phương pháp nghiên cứu hiện đại trong lĩnh vực sinh học.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến sinh học và bảo tồn, hãy khám phá thêm về Luận án tiến sĩ về khu hệ mollusca gastropoda ở nước ngọt và trên cạn tại Thừa Thiên Huế, nơi nghiên cứu về sự đa dạng của động vật thân mềm trong môi trường nước ngọt. Bên cạnh đó, bài viết Luận văn thạc sĩ về nghiên cứu gene thực khuẩn thể tấn công vi khuẩn Aeromonas hydrophila cũng sẽ mang đến cho bạn cái nhìn về các nghiên cứu di truyền trong sinh học. Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu sinh học và nhân giống thạch tùng răng cưa Huperzia serrata tại Lào Cai và Lâm Đồng sẽ giúp bạn hiểu thêm về các phương pháp nhân giống và bảo tồn các loài thực vật quý hiếm. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về đa dạng sinh học và các nghiên cứu liên quan.