CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ METHYLOBACTERIUM SP.1 Lịch sử phát hiện và phân loại VK Methylobacterium sp. Chi Methylobacterium bao gồm nhiều loài vi khuẩn (VK) có sắc tố hồng dinh dưỡng methyl tuỳ ý (pink-pigmented facultatively methylotrophic, PPFM). Chúng có khả năng sử dụng các hợp chất chỉ chứa một nguyên tử carbon như fomate, formaldehyde, methanol hay các hợp chất chứa nhiều nguyên tử carbon làm nguồn cung cấp năng lượng và nguồn carbon cho quá trình sinh trưởng [23].
Vị trí phân loại chi Methylobacterium trong giới vi sinh vật như sau: Giới: Bacteria, ngành: Proteobacterium, lớp: Alphaproteobacteria, bộ: Rhizobiales, họ: Methylobacteriaceae. Mặc dù, VK Methylobacterium sp. hiện diện rất phổ biến trong đất hay trên các sinh vật nhưng trong một thời gian dài nhóm vi khuẩn này không được nghiên cứu nhiều. Những năm 1960-1970 khi các nghiên cứu tập trung vào con đường đồng hóa các hợp chất một carbon thì nhóm vi khuẩn dinh dưỡng methyl được phân lập, nghiên cứu, trong đó tập trung vào các phương thức biến dưỡng năng lượng và những ứng dụng.
Trong đó, loài Methylobacterium sp. được Bassalik phân lập lần đầu tiên vào năm 1913 từ giun đất và được đặt tên lúc đầu là Bacillus extorquens [20], [23]. Trong giai đoạn trước năm 1960, một số loài VK thuộc chi Methylobacterium đã được phân lập nhưng do không có đầy đủ thông tin nên các loài này được phân loại vào các chi VK khác nhau chẳng hạn như: Pseudomonas, Flavobacterium, Protaminobacter, Arthrobacter, Corynebacterium, Vibrio… [20], [23], [36]. Năm 1976, Patt và cộng sự phân lập được loài Methylobacterium sp.
đầu tiên có khả năng sử dụng methane. Loài này sắp xếp vào một chi mới là Methylobacterium với tên loài là Methylobacterium organophilum (loài chuẩn cho Chi) [41]. Năm 1982, Green và Bousfield nhận thấy chủng M. organophilum có nhiều đặc điểm rất giống với các loài VK Methylobacterium sp.
đã được công bố trước đây (không có khả năng sử dụng methane) và căn cứ trên sự tương đồng trên 70% của 140 đặc điểm sinh lý, sinh hóa và hình thái của 149 chủng với loài M. organophilum, Green và Bousfield Luan van 4 đã đề nghị sắp xếp các loài VK Methylobacterium sp. vào chi Methylobacterium [20], [23]. Từ năm 1992 đến nay, dựa sự phát triển của các phương pháp sinh học phân tử, hơn 50 loài Methylobacterium sp.
mới được công bố trên hệ thống NCBI [21], [25], [26], [51].2 Đặc điểm phân bố VK Methylobacterium sp. phân bố rộng trong tự nhiên, hiện diện ở nhiều môi trường khác nhau: môi trường đất, nước, không khí, băng ở hai cực, sần rễ thực vật và tập trung chủ yếu ở vùng lá thực vật [21], [23]. VK Methylobacterium sp. là những vi khuẩn hiếu khí hoàn toàn, do vậy các vi khuẩn này có thể được phân lập môi trường nước sạch nào có chứa oxy hòa tan.
Ngoài ra, VK Methylobacterium sp. còn có khả năng kháng với ion Cl- nên chúng vẫn hiện diện trong nước sạch dùng để sinh hoạt [24], [27]. VK Methylobacterium sp. được phân lập trên bề mặt lá, thân, rễ của thực vật nhưng mật độ ở mỗi cơ quan thì khác nhau [29].
Chúng có mặt chủ yếu trên vùng lá của hơn 100 loài thực vật và có mối quan hệ mật thiết với thực vật [18], [38], [40]. Thông qua phương pháp sử dụng carbon phóng xạ (C14) Green đã làm sáng tỏ khả năng sử dụng các hợp chất methanol từ thực vật của VK Methylobacterium sp., điều này giải thích nguyên nhân sự hiện diện của chi VK Methylobacterium sp. trên thực vật [23], [28], [39]. VK Methylobacterium sp.
thường lan truyền qua không khí, có khả năng sử dụng các hợp chất có tính độc với sinh vật làm nguồn cung cấp carbon và nitơ: tetrachloromethane, trimethylamine. Chính vì vậy, các VK Methylobacterium sp. còn đóng vai trò quan trọng trong chu trình carbon trong tự nhiên [23], [48], ứng dụng trong xử lý ô nhiễm môi trường [49]. Tuy nhiên, vai trò của chúng trong hệ sinh thái vẫn chưa được sáng tỏ [38].3 Đặc điểm hình thái, sinh hóa, sinh lí Hầu hết các loài Methylobacterium sp.
thường có hình que kích thước 0,8 - 1 x 1- 8µm và là VK gram âm, thường ở dạng tế bào đơn hay kết đôi lại theo dạng hoa hồng (rosettes) [22], [23]. Hầu hết các chủng Methylobacterium sp. đều có khả năng Luan van 5 di động nhờ một tiêm mao ở cực hay gần cực và chúng cho phản ứng dương tính với catalase [23]. Chúng thường tăng sinh chậm, khuẩn lạc có màu hồng hay đỏ cam, một vài chủng không tăng trưởng trên môi trường nutrient agar.
Sắc tố hồng của VK Methylobacterium sp. không tan trong nước và là hợp chất carotenoid, không phát ánh sáng huỳnh quang, hấp thu bước sóng cực đại ở 473, 499 và 532nm [21]. Ở môi trường lỏng nuôi cấy tĩnh VK Methylobacterium tạo thành một lớp mỏng trên bề mặt, điều này cho thấy hầu hết các chủng đều là hiếu khí bắt buộc [23]. Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của các loài thuộc chi Methylobacterium dao động từ 250C đến 300C.
Một vài loài vẫn có thể sinh trưởng ở nhiệt độ 370C hay 510C. Mặc dù đa số các loài đều tăng trưởng ở khoảng pH trung tính nhưng cũng có một số loài vẫn có khả năng phát triển ở các giá trị pH cực đoan (pH=4; pH=10). Tất cả các loài đều không đòi hỏi các nhân tố tăng trưởng và không có khả năng phân giải các hợp chất như: casein, tinh bột, gelatin, cellulose, lecithin và DNA. Khả năng phân giải các hợp chất lipid chỉ có ở một số loài.
Tất cả các loài đều không tạo ra các enzyme: β-galactosidase, L-ornithine decarboxylase, L-lysine decarboxylase, L- arginine dihydrolase (ngoại trừ Urease lại hiện diện ở tất cả các loài) [21], [23], [24]. VK Methylobacterium sp. có tính kháng cao với chất khử, nhiệt độ lạnh, Cl-, tia UV phóng xạ ion, nhiệt độ cao. Phần lớn các loài trong Methylobacterium sp.
đều nhạy cảm với kháng sinh như: kanamycine, albamycine T, streptomycine, framycine và tetracyline. Trong đó, tetracyline có ức chế mạnh đối với VK Methylobacterium sp [23]. Phương thức chuyển hóa các hợp chất một cacbon ở tất cả các loài VK Methylobacterium sp. đều theo chu trình serine.
Trong đó có sự gắn kết giữa chu trình serine và chu trình tricarboxylic (TCA) để tạo ra các sản phẩm hữu cơ cuối cùng cho VK sử dụng. Ngoài ra, các chu trình này còn gắn kết với chu trình PHB để tạo ra các sản phẩm dự trữ cho VK (poly-β-hydroxybutyrate). Một số chủng có khả năng tổng hợp hormone thực vật (phytohormone) trong môi trường nuôi cấy, một số loài có khả năng tổng hợp vitamine B12 và một số khác [39]. Khả năng sử dụng các hợp chất hữu cơ cung cấp cung cấp nguồn cacbon và năng lượng của chủng VK Methylobacterium sp.
thuộc chi Methylobacterium sp. rất Luan van 6 đặc trưng. Hầu hết các chủng có khả năng sử dụng betaine, trimethylanine, serbactae,. Trong khi một số loài khác có khả năng sử dụng cyanate, thiocianate, formaldehyde, TNT (2,4,6-trinitrotoluene), HMX (octahydro-1,3,5,7-tetranitro- 1,3,5,7-tetrazicine hay high-melting-point explosive), RDX (hexahydro-trinitro- 1,3,5-triazine hay royal explosive),.
Do vậy, có thể phân biệt các loài VK Methylobacterium sp. nhờ căn cứ vào khả năng sử dụng các hợp chất hữu cơ của các chủng này [21], [23], [24].4 Phương pháp phân lập và định danh Methylobacterium sp. là những vi khuẩn có khả năng sử dụng methanol làm nguồn cung cấp carbon và năng lượng, vì thế môi trường methanol mineral salts (MMS) là môi trường thích hợp để phân lập vi khuẩn Methylobacterium sp. Ngoài ra, VK Methylobacterium sp.
có sắc tố hồng đặc trưng nên rất dễ nhận diện trên môi trường phân lập [23]. Khoảng nhiệt độ thường được sử dụng để phân lập Methylobacterium sp. Vi khuẩn có tốc độ tăng trưởng tương đối chậm, trên môi trường MMS sau 2 đến 3 ngày mới hình thành khuẩn lạc, khuẩn lạc đạt đường kính tối đa 1-3 mm sau 7 ngày nuôi cấy. Đôi khi vi khuẩn mọc nhanh, có màu đậm hơn trên môi trường Glycerol-Peptone Agar và môi trường này thường được sử dụng trong giữ giống các chủng VK Methylobacterium sp.
Ngoài việc sử dụng methanol làm tác nhân chọn lọc thì việc sử dụng cycloheximide cũng giúp cho quá trình phân lập được thuận lợi hơn. Khi sử dụng môi trường MMS làm môi trường phân lập thì những khuẩn lạc màu hồng có đường kính khoảng 1 mm thường là vi khuẩn Methylobacterium sp., trong môi trường này nhóm nấm men hay nhóm vi khuẩn có sắc tố hồng không phải là phổ biến [23], [36].5 Các loài vi khuẩn thuộc chi Methylobacterium Theo thống kê của ngân hàng dữ liệu NCBI [51] thì đã có tổng cộng 52 loài tính đến tháng 4. Luan van 7 Bảng 1.1 Danh mục các loài Methylobacterium sp. đã được đặt tên.
STT (Lựa chọn dựa trên công bố của các tạp chí trong ngân hàng NCBI [51]) STT STT TÊN LOÀI TÊN LOÀI TÊN LOÀI 1 M.6 Một số ứng dụng của chi Methylobacterium a.Tác động lên thực vật Khả năng tương tác với thực vật cùng với việc hấp thu các chất tiết ra từ thực vật thì VK Methylobacterium sp. có thể tổng hợp và tiết ra các chất khác nhau có lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật. Chủng Methylobacterium được Basile và cộng sự (1969) phát triển kích thích sinh trưởng ở cây rêu (Scapania nemorosa) trong điều kiện in vitro. Trong những nghiên cứu ban đầu, họ mô tả VK này có thể kích thích sự tăng trưởng và tái sinh của rêu nuôi cấy mô.
Sau đó, họ chỉ Luan van 8 ra rằng VK Methylobacterium sp. sản xuất vitamine B12 (cyanocobalamine) và sự bổ sung vitamine này khi trồng rêu Jungermannia leiantha và Gymnocolea inflata có thể kích thích sự tăng trưởng và phát triển của cây. VK Methylobacterium sp. có tác động đối với một số lượng lớn các loài cây trồng có giá trị như: thuốc lá, bông, dâu tây, lúa, bông vải, mía, cà chua, hướng dương, đậu phụng [9], [35], [36].
Tuy nhiên, hiệu quả cho từng loại cây trồng không phải do một loài mà là do sự tác động tổng hợp của nhiều loài VK Methylobacterium sp. Ngoài khả năng kích thích sự tăng trưởng và phát triển của một số loài cây trồng, VK Methylobacterium sp. còn có khả năng ức chế một số vi sinh vật gây bệnh trên thực vật chẳng hạn như: Xanthomonas camprestris, Pseudomonas syringae, Erwinia carotovora, Clavibacter michiganense và Agrobacterium tumefaciens, Fusarium solani (gây bệnh trên cây tiêu), Guignardia citricarpa hay Xylella fastidiosa (gây bệnh nghiêm trọng trên các loài cây có múi). Madhaiyan ghi nhận khả năng kháng bệnh ở cây lúa và cây đậu phộng có liên quan tới sự thay đổi hệ enzyme polyphenol trong cây [35].
Penalvera và Poonguzhali ghi nhận khả năng sinh tổng hợp các phân tử tín hiệu N-acyl homoserine lactone, điều này giúp VK Methylobacterium sp. cạnh tranh với các loài VK gây bệnh khác trong quá trình cư trú trên thực vật [42]. Các nghiên cứu này ghi nhận khả năng giúp cây trồng kháng lại với các tác nhân gây bệnh nhưng chưa làm sáng tỏ các cơ chế. Tuy nhiên, những ghi nhận này cũng cho thấy tiềm năng sử dụng VK Methylobacterium sp.