Chương 1 TONG QUAN 1. Lịch sử nghiên cứu tai sinh, ảnh hưởng của các nhân tổ sinh thái của một số loài cây trên thể giới LLL. Nghiên cứu tá sinh Các nghiên cứu đã cho thấy những khu rimg đưa vào khai thắc chính luôn cổ .đủ lượng cây con với chất lượng tốt, dé tạo ra quần thụ mới thay thé quần thụ đưa vào khai thác (Phạm Hoàng Ban, 2000; Võ Văn Chi, 1987; Vũ Xuân Dé, 1989; Lam Xuân Sanh, 1986; Thái Văn Trimg, 1985; Hoàng Văn Thân, 198)(1]: [5] [7]: [I7] [27]; [19]. Do đó, nghiên cứu các biện pháp giữ lại lớp cây con đưởi tin rừng đẻ tạo.
rim san kha thi là việ làm cổ ý nghĩa t sức to lớn, Bởi vậy, vấn đề xinh rừng tự nhiên trở thành một trong những nhiệm vụ hàng đầu của lâm sinh bọc hiện đại Khi nghiên cứu hiệu quả tái sinh rừng (Mibbreuad, 1930; Aubreville, 1938; Richards, 1933; 1939, Beard, 1946; Lebrun và Gilbert, 1954; Joné, 1955; 1956, Schultz, 1960; Baur, 1976; 1979; Rollet, 1969) đã cho rằng hiệu quả ti ính rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân (Gin theo Nguyễn Văn Thêm, 1992)[20]. Tuy nhiền, trong nghiên cứu. họ chỉ tập trung nghiên cứu các loài cây có ý nghĩa về mặt thực iễn ở trong tổ thành cây tdi sinh. Đối với rừng mưa nhiệt đới, do quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đồi vô cũng phúc tạp và còn it được nghiên cứu.
Cho nên phần lớn đến nay, những tài liệu nghiên cửu về tái sinh tự nhiên của rừng mưa thường mới chỉ tập trung vào. một số loài cây có giá trì kinh tổ dưới điều kiện ừng đã ít nhiễu bị iển đội Về đặc điểm tải sinh Van steenis (1956)[39] cho rằng hai đặc điểm tái sinh. phổ biển của rừng mưa nhiệt đối là tải sinh phân tn liên tu của các loài cây chịu bóng và tái sinh vét của các loài cây ưa sáng, Cũng ở chủ để này, hiệu quả các cách thức xử lý lâm sinh liên quanđến tái sinh của các loài cây mục dich ở các kiểu rừng, Auge trao đổi nhiều hơn. Kết quả đó đã được đưa vào ứng dụng trong phương thức inh để tác động vào rừng tự nhiên.
Điển hình như công trình của Bernard (1954 và 1959) (din theo Nguyễn Duy Chuyên, 1996)(6]: cụ thé đối với phương. thức rùng đều tuổi ở Mã Lai, Bae Bomeo được đề cập bởi Nicholson (1958); Donis và Maudoux (1951; 1954); công thức đồng nhất hoá ting trên ở Zaia theo Taylor (1954), Jones (1960) (din theo Grieg, 1964)[35]; phương thức chặt din tái sinh cưới tin ở Nijêa va Gana cũng được Barayji (1959) nghiên cứu (din theo Nguyễn Duy Chuyén,1996)[6] với phương thức chặt din nâng cao vom lá ở Andamann, "Đánh giá ứng dụng trên thông qua các bước và hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được để cập bởi Baur (1964)[2] tổng kết trong tác phẩm: "Cơ sở sinh thái học của kinh doanh rừng mưa” Richards (1965)[16], Kimmins (1998)[36] đã tổng kết các kết quá nghiên cứu về phân bổ số cây tai sinh tự n nhận xét: trong các 6 có kích thước. nhỏ (1 x Im, 1 x 1,5m) cây tái sinh tự nhiên có dang phân bố cụm, một số it có phân bố Poisson. Ở Châu Phi Tayloer (1954); Barnard (1955) trên cơ sử các số liệu thu thập đã xác định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiểu hụt cần thiết phi bổ sung bing trồng rừng nhân tạo.
Song ở Châu A, tác giả Budowski (1956); Bava (1954); Atinot (1965) nghiên cứu về tải sinh tự nhiên rừng nhiệt đổi lại nhận định dưới tan rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế, nên uất các biện pháp lâm sinh cin thiết để bảo vệ và phát triển cây ti sinh dưới tin rừng (din theo Nguyễn Duy Chuyên, 1996)|6] 'Ở Châu Phi Obrevin (1938), nhận thấy cây con của các loài cây ưu thé trong. rừng mưa là rất hiểm. Lý luận "bức Khim tả sinh” được Obrevin đúc kết sau khi đã khái quát hoá các hiện tượng tái sinh ở rừng nhiệt đới, song phần lý giải các hiện. tượng đồ còn hạn chế.
Do lý luận đó ít sức thuyết phục, chưa giáp ích cho thực tiễn sản xuất. Ở rừng mưa nhiệt đới Nam Mỹ, Davit và Richards (1933); Bot (1946); Sun (1960); Rolle (1969) nhận định khác hẳn với nhân định của Obrevin (dẫn theo Hoàng Kim Ngũ và Phùng Ngọc Lan, 1997)[14]. Đó là hiện tượng tái sinh tại chỗ và liên tục của các loài cây và t6 thành loài cây có khả năng giữ nguyên không đổi trong một thời gian đài. Có dược kết quả đó, khi nghiên cứu về tái sinh tự nhiên, tb giả áp dụng phương pháp điều ra bằng cách My mẫu ô vuông theo hệ thống của Longman and Jơnik (1974)[38] có diện tích 6 đo đểm thông thường từ 1 đến 4 ` Với điện tích 6 nhỏ, nên thuận lợi tong điều tra, song đòi hồi số lượng 3 phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tỉnh hình ti sinh rừng.
Sau này Bemard (1950), đã để nghị một phương pháp "điễu tra chin đoán" mà theo đó kich thước 6 do đếm có thé thay đổi tỷ theo giai đoạn phát triển của cây ti sinh ở các trang thái rừng khác nhau nhằm mục đích giảm bớt sai số (dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên, 1996)6]. Theo lý thuyết tái sinh tuần hoàn thành bức khảm khá hấp dẫn của Aubréville A. thì thành phẩn ưu hợp trong rừng mưa hỗn hợp nhiều loài đều không. cổ định trong không gian và thời gian.
không có loài nào đạt được wu thé cân bằng sinh thải với hoàn cảnh một cách vĩnh viễn và ổn định. Nhưng Aubréville vẫn không giải thích được do tác nhân nào, cơ chế nào mà dẫn đến sự pl at sinh xã hợp, này hay xã hợp khác, do đó cũng như Chevalier đã phủ định sự tổn tại của những quần hợp hay những ưu hợp trong rừng mưa nhiệt đới và trước đây chính tác giả của công trình nay cũng nhất trí với quan điểm 46. Van Steenis (1956)[39], đã nhận xết là trong rùng mưa nhiệt đới, còn có một cách tái sinh nữa cũng rất phổ biển đó là cách tái sinh từng vệt. Tác giả gọi những loài cây tiên phong tải sinh theo vét là loài tạm thời hay tam cư, edn những loài cây mọc sau là loài định cư hay định vi.
Nghiên cứu khả năng tải sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy Ramakrishnan (1981, 1992), đã nghiên cứu từ 1 - 20 năm ở vùng Tay Bắc Ấn Độ thấy rằng chi số đa dang loài rit thấp, Chi số loài ưu thể đạt đình cao nhất ở pha đầu. của qua trinh diễn thé và giảm dẫn theo thời gian bô hoá. Long Chun và etv (1993), 48 nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương ry tại Xishuangbanna tỉnh Van Nam, Trung Quốc nhận xét: tại Baka khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chí, 21 loài thực vật, bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chỉ, 167 loài (Pham Hồng Ban, 2000)[1]. Sau khi bs hod số lượng loài thực vật tăng dẫn từ ban đầu đi rimg thành thục.
Thành phần của các loài cây trường thành phụ thuộc vio ỷ lệ các loài nguyên thuỷ ma nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái sinh, thời sian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số cạnh túc của khu vue đồ được kết luận bởi tác giá Saldarriaga (1991), khi nghiên cứu ti sinh tự nhiên tại rừng nhiệt đới sau nương rly ở Colombia và Venezuela (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 20009111 Vin đề diễn thé sau nương rẫy Lambertetal (1989); Wamer (1991); Rouw (1991) đã nhận xét: đầu tiên đám nương rẫy được các loài có xâm chiếm, nhưng sau một năm loài cây gỗ tiên phong được gieo giống từ ving lân cận hỗ tợ cho việc hình thảnh quần thy các loài cây gỗ, tạo ra tiểu hoàn cảnh thích hợp cho việc sinh. trưởng của cây con. Những loài cây gỗ tiên phong chết đi sau 5 - 10 năm và được. thay thé din bằng các l‹ i cây rừng mọc chậm, ước tính cần phải mắt hing trăm năm thì nương rẫy cũ mới chuyển think loại hình rừng gin với dang nguyên sinh ban di (din theo Thái Van Trùng, 1998)(26) Sự phá triển của nén công nghiệp ở thé ky XIX, trong ngành lâm nghiệp của (i đã hình thình xu hướng thay th rừng tự nhiên bằng rừng nhân tạo năng suất cao nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế.
Richards (1952)(15] đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các 6 dạng bản hân bổ tải sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đói. Để giảm sai số trong khi thông kể tái sinh tự nhiên phương pháp "điều tra chin đoán" mà theo dé kích thước ô đo đếm có thể thay đối tuỳ theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh. Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tổ sinh thấi én tải sinh tự nhiền nhân tổ ánh sing (thong qua độ tàn che của rừng), độ âm của đắt, kết cầu quần thụ, cây bụi, thảm tươi, trong rừng nhiệt đối sựthiểu hụt ánh sing ảnh hưởng đến phat triển của cây con còn đối với sy nảy mim và phát triển của cây mim, ảnh hưởng nảy thường không rõ ring theo Baur (1979)[3]. Ngoài ra, ic tác giá nhận định, thảm cỏ và cây bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây tái sinh, Mặc dù ở những quần thy kin tin, thảm có và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có.
ảnh hưởng đến cây ti sinh. Số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tải sinh thường khá lớn đối với rừng nhiệt đới. Nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp. lại ít được quan tâm mặc dù chúng có vai trò sinh thấi quan trọng.
Vì vậy, khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đ cập một cách đầy đủ tt cả các loài cây xuất hiện trong lớp cây tải sinh để từ đó có những đảnh gi chính xác tỉnh hình ti sinh rimg vi có những biện pháp tác động phi hợp. Nghiên cứu đặc điễm cấy Trai Cây Trai (Tri Nam bội (Tembusu) Fagraea fragrans Roxb.); thuộc họ Mã Tiền (Loganiaceae). Cay gỗ nh, thường xanh, cao trưng bình 20m, sy thân thẳng, gốc có bạnh nhỏ, tấn thưa, đều, Cảnh nhánh rảnh miu nâu vàng, có nhiều mẫu. Võ miu xám vàng hay nâu, nút dọc, thịt vỏ dây có xơ, lá đơn, nguyên, hình bau đục, đinh cỏ mũi ngắn, sốc thốt lại, mép ran reo, gắp li, phign lá diy, dai, đãi 4 — 1$em, rộng 1,5 - Sem nhẫn, gân bên 10 — 16 đôi.