CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Vị trí địa lý Xã Bình Phước nằm về phía Đông của huyện Bình Sơn, cách trung tâm huyện khoảng 4km về phía Đông và cách trung tâm khu đô thị Vạn Tường 2km. Tọa độ địa lý từ 15⁰16’15’’ đến 15⁰20’25’’ vĩ độ Bắc, 108⁰45’50’’ đến 108⁰49’35’’ kinh độ Đông Địa giới hành chính xã giáp tứ cận như sau: - Phía Bắc giáp: xã Bình Trị, xã Bình Dương - Phía Nam giáp: xã Bình Hòa, xã Bình Thạnh Tây - Phía Đông giáp: xã Bình Hòa, xã Bình Trị - Phía Tây giáp: xã Bình Dương, xã Bình Thới và Bình Long Diện tích tự nhiên toàn xã là 2,345,71ha, chiếm 5,02% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện [14] 1.2 Địa hình, địa mạo Xã Bình Phước có địa hình, địa mạo dạng đồi núi bát úp nằm xen kẽ với vùng đồng bằng, sông suối vùng đầm lầy rộng vài trăm hecta chưa được khai thác triệt để. Dãy núi phía Bắc, phía Đông xã có độ cao từ 20-50m, các ngọn núi phía Tây và phía Nam có độ cao trung bình 20-60m Diện tích đất đồi núi khoảng 800ha, vùng đồng bằng khoảng hơn 1.500ha Địa hình, địa mạo xã Bình Phước tương đối phức tạp, gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất nói riêng và phát triển kinh tế nói chung.3 Đặc điểm khí hậu Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: Có nền nhiệt cao, lượng mưa tương đối nhiều, bức xạ lớn, đặc điểm khí hậu của xã được thể hiện rõ theo hai mùa: Luan van 4 Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 7, mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau.
Các đặc điểm đặc trưng của khí hậu khu vực duyên hải miền Trung như sau. Nhiệt độ - Mùa hè: Mùa nóng nhất từ tháng 5 đến tháng 8, nhiệt độ trung bình 29,7 ⁰C, nhiệt độ trung bình tháng lớn nhất 30,8⁰C - Mùa đông: Mùa lạnh nhất từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình 23,8⁰C, nhiệt độ trung bình nhỏ nhất 18,9⁰C - Nhiệt độ không khí trung bình cả năm: 26,6-26,9⁰C - Chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm là 5 – 7 ⁰C (mùa mưa) và 7 – 9⁰C (mùa khô). Lượng mưa Lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1.300 mm/năm nhưng phân bố không đồng đều các tháng trong năm. Tập trung chủ yếu ở các tháng 10,11 với lượng mưa bình quân khoảng 400 – 500 mm/tháng, chiếm 48% lượng mưa cả năm.
Các tháng 2,3,4 có lượng mưa thấp, trung bình khoảng 60 - 70 mm/tháng. Trung bình hằng năm mưa 129 ngày, nhiều nhất vào tháng 10,11,12. Độ ẩm - Độ ẩm trung bình hằng năm 82% - Độ ẩm cao nhất vào từ tháng 10 đến 12 khoảng 81 – 92% - Độ ẩm thấp nhất vào các tháng 6,7 khoảng 72 – 79% d. Gió, bão Vận tốc gió trung bình hằng năm dao động từ 0,9 – 1,7m/s, vận tốc gió cự cđại 40m/s, số ngày lặng gió chiếm 49,5% và ngày có gió chiếm 50,5%.
Trong trường hợp có ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão, vận tốc gió có thể đạt tới 40m/s. Luan van 5 Hướng gió thịnh hành ở khu vực xã chủ yếu là 2 hướng Tây Nam và Đông Bắc. Hướng gió Tây Nam hoạt động từ tháng 2 đến tháng 7, từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau chủ yếu là hướng gió Đông Nam. Vào mùa hè gió thổi từ Đông Nam qua Tây Bắc.
Mùa đông có gió Đông Bắc và Tây Nam. Gió mùa Đông Bắc thường gây ra giật, các cơn lốc và thường gây ra mưa to. Đặc biệt các trận bão ở Quãng Ngãi chỉ xảy ra trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 dương lịch, nhất là tháng 10, 11. Trung bình hằng năm có 1 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến Quãng Ngãi gây mưa to và gió mạnh cấp 6 trở lên.
Ngoài ra cũng có những năm có đến 3 - 4 cơn bão khi có bão thường gây ra mưa to và gió rất mạnh có khi kèm theo hiện tượng nước biển dâng cao. Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tần suất cường độ bão có xu hướng ngày càng cao, kéo theo tình trạng lũ lụt ảnh hưởng đến cuộc sống con người. Nắng Tổng số giờ nắng trung bình trong năm khoảng 4. Các tháng có số giờ năng cao nhất từ tháng 4 đến tháng 7, trung bình đạt từ 120 – 180 giờ/tháng.
Cường độ bức xạ trong khu vực thường đạt giá trị cao vào các tháng 5, 6 và 7 lớn hơn 14 kcal/cm2 và đạt giá trị nhỏ hơn vào các tháng 11 đến tháng 1 năm sau nhỏ hơn 8 kcal/cm2. Tổng lượng bức xạ cả năm đạt khoảng 140 - 150 kcal/cm2. Cân bằng bức xạ hằng năm là 90 – 95 kcal/cm2. Trong ngày lượng bức xạ đạt giá trị cao nhất vào buổi trưa khoảng 11 đến 13 giờ.4 Điều kiện thủy hải văn Khu vực Bình Phước thuộc huyện Bình Sơn do đó chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy văn sông Trà Bồng.
Sông Trà Bồng được bắt nguồn từ vùng núi cao Trà Bồng chảy xuyên qua huyện Bình Sơn khoảng 25km theo hướng Đông – Tây, đến Luan van 6 thông Giao Thủy (xã Bình Thới) chảy theo hướng Đông Bắc rồi đổ ra cửa biển Sa Cần. Sông Trà Bông từ xưa là đường thủy quan trọng trong việc giao lưu xuôi ngược là một trong những nguồn nước quan trọng cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của khu vực xã Bình Phước. Xã Bình Phước thuộc vùng nước lợ là vùng cửa sông , ven biển và rừng ngập mặn, đầm, phá. Nơi đây có sự pha trộn giữa nước biển và nước ngọt từ các dòng sông đổ ra.
Do được hình tháng từ hai nguồn nước nên diện tích vùng nước lợ phụ thuộc vào mùa mưa và thủy triều 1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÁ 1.1 Tình hình nghiên cứu thành phần loài cá trên thế giới Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, con người cũng đã phân biệt và đặt tên cho các loài cá có giá trị mà mình tìm thấy trong tự nhiên. Công trình nghiên cứu đầu tiên về cá được công bố là cuốn sách “ Lịch sử động vật” của Aristote (384-322 Tr. Ông đã giới thiệu được 115 loài cá với những dẫn liệu về môi trường sống, sinh sản, di cư, nơi ở và ngư loại học được hình thành thực sự, có nhà khoa học ghi chép lại để cùng hiểu biết và sử dụng chúng [7]. Cho mãi đến nữa sau thế kỉ XVI, sau thời kì Phục Hưng của Châu Âu, cùng với sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên khác, công tác nghiên cứu về cá mới có những bước phát triển đáng kể.
Do yêu cầu của nghề cá và nhờ các ngành khoa học khác hỗ trợ nên việc nghiên cứu ngư loại ngày càng phát triển một cách có hệ thống cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Về phân loại cá phải kể đến như: P. Nhà tự nhiên học Thụy Điển C. Linnaeus (1707-1778) đã cho xuất bản cuốn sách “Systema nature” vào năm 1765, trong cuốn sách này ông đã đề ra “Cách gọi tên các loài sinh vật theo hai chữ” và đã giới thiệu được 2.
Ngoài ra còn có các tác giả như: G. Valenciennes với cuốn sách “Lịch sử tự nhiên Luan van 7 về cá” gồm 21 tập xuất bản liên tục trong 20 năm (1828-1848); P.Bleeker người Hà Lan (1819-1874) với cuốn sách “Atlasichthyologiques Inder Orientales Neerlandaises” (Sưu tập nghiên cứu cá ở phía Đông Hà Lan) gồm 9 tập; A. Gunther (1830-1914) với cuốn “Thông kê về cá ở viện bảo tàng Anh” gồm 8 tập. Cho đến nay, nhiều tập sách phân loại trên vẫn có giá trị [7].
Từ thế kỷ XX cho đến nay, những công trình nghiên cứu cá được công bố ngày càng nhiều và mở rộng hơn những nghiên cứu về phân loại, sinh học, sinh thái và phân bố của các loài cá. Về phân loại có các công trình của tác nổi tiếng như: D. Jordan (1854-1931) giới thiệu khu hệ cá ở Bắc và Trung Mỹ, G.Boulenger (1851) với 15 tập sách giới thiệu 6.834 loài cá ở Viện bảo tàng Anh, L.Berg người Nha (1876-1950) đã cho xuất bản rất nhiều sách về phân loại, phân bố của cac loài cá ở khu vực Liên Xô (cũ). Đặc biệt ông đã công bố các cuốn sách “Phân loại các dạng cá hiện đại và hóa thạch” và “Cá nước ngọt Liên Xô và các vùng phụ cận” xuất bản năm 1949.
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu về cá của các tác giả khác như Nikolxki; K. Trong đó, cuốn sách “Nguyên tắc phân loại động vật” của E.Mayer (1953) đã góp phần không nhỏ về lý luận phân loại học cá hiện nay. Tại Trung Quốc, có nhiều tác giả nghiên cứu về cá như Chu Nguyên Đinh, Trương Xuân Lâm nhưng đầy đủ nhất có lẽ là cuốn “Ngư loại phân loại học” do Vương Dĩ Khang biên soạn năm 1958. Trong cuốn sách này, ông đã đưa ra khóa phân loại mô tả lớp cá sụn và cá xương gồm 70 bộ, 239 họ, 769 giống và 1800 loài cá phân bố ở các thủy vực nước ngọt và biển tại Trung Quốc [22].
Rainboth đã nghiên cứu khu hệ cá sông Mekong tới 500 loài [30]. Ngoài ra, còn nhiều tác giả như Kottelat (1998, 2000, 2001, 2003) và Robert tiếp tục nghiên cứu khu hệ cá Đông Dương [28]. Cho đến nay, các hệ thống phân loại cá hiện được xem là khá đầy đủ. Năm 1998, Tổ chức Lương nông Thế giới (FAO) đã công bố danh lục các loài cá Thế giới và những tra cứu thống nhất của chúng trong 2.
Đây là công trình nghiên cứu về đa dạng sinh học cá đầy đủ nhất từ trước đến nay. Luan van 8 Như vậy, lịch sử nghiên cứu ngư loại có rất sớm và hiện nay mỗi nước trên thế giới đều có các công trình nghiên cứu về thành phần loài và phân bố cá. Trung tâm ICLARM cùng với FAO đã lập ra trang web Fishbase (2004), http://www.org/ cho phép chúng ta tìm kiếm những thông tin về phân bố của cá trên Thế giới với danh lục hơn 25.000 loài cá phân bố trên Thế giới. Công tác nghiên cứu thành phần loài, phân bố cá trên thế giới được tiếp tục tiến hành nghiên cứu.
Cho đến năm 2006, đã xác định được 29.500 loài cá trên thế giới thuộc 6 lớp cá, 62 bộ và 484 họ và được thống kê từ 21.000 tài liệu tham khảo với 71.000 tên đồng vật và 28. Qua đó cho thấy nhóm cá rất phong phú và đa dạng sinh học cao.2 Tình hình nghiên cứu thành phần loài cá ở Việt Nam Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thêm lục địa dài và rộng cùng với hệ thống sông ngoài, ao hồ, đầm phá khá nhiều.