Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu thành phần loài cá tại rừng dừa nước xã bình phước huyện bình sơn tỉnh quảng ngãi

Nghiên cứu thành phần loài cá tại rừng dừa nước xã Bình Phước, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, góp phần bảo tồn và phát triển sinh thái.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2018

52
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1.1. Mục tiêu đề tài

1.2. Ý nghĩa khoa học của đề tài

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.1.1. Vị trí địa lý

1.1.2. Địa hình, địa mạo

1.1.3. Đặc điểm khí hậu

1.1.4. Điều kiện thủy hải văn

1.2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÁ

1.2.1. Tình hình nghiên cứu thành phần loài cá trên thế giới

1.2.2. Tình hình nghiên cứu thành phần loài cá ở Việt Nam

1.2.3. Tình hình nghiên cứu thành phần loài Cá ở rừng dừa nước xã Bình Phước

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.2. Địa điểm nghiên cứu

2.1.3. Thời gian nghiên cứu

2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa

2.3.2. Phương pháp nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng PR (Participatory Research)

2.3.3. Phương pháp phân loại cá

2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. DANH MỤC VÀ CẤU TRÚC THÀNH PHẦN LOÀI CÁ

3.1.1. Danh mục thành phần loài cá

3.1.2. Cấu trúc thành phần loài cá vùng rừng dừa nước xã Bình Phước

3.1.3. So sánh thành phần loài cá của vùng rừng dừa nước xã Bình Phước với các khu hệ cá vùng lân cận

3.2. ĐẶC TRƯNG CẤU TRÚC SINH THÁI CỦA KHU HỆ CÁ

3.3. CÁC LOÀI CÁ KINH TẾ

3.3.1. Các loài cá có ý nghĩa kinh tế đối với người dân

3.3.2. Danh mục các loài cá kinh tế

3.4. CÁC LOÀI CÁ QUÝ HIẾM

3.5. VAI TRÒ CỦA RỪNG DỪA NƯỚC ĐỐI VỚI THÀNH PHẦN LOÀI CÁ

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về rừng dừa nước Bình Phước Quảng Ngãi

Rừng dừa nước tại xã Bình Phước, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi là một hệ sinh thái quan trọng, có diện tích khoảng 120ha. Hệ sinh thái này không chỉ đóng vai trò bảo vệ môi trường mà còn là nơi cư trú của nhiều loài cá và sinh vật khác. Theo nghiên cứu, rừng dừa nước có khả năng tự làm sạch ô nhiễm và điều tiết khí hậu cho khu vực. Đặc biệt, rừng dừa nước còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển và cửa sông, hạn chế xói lở và tác hại của bão. Những lợi ích này không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn có ý nghĩa lớn về mặt môi trường cho tỉnh Quảng Ngãi.

1.1. Đặc điểm sinh thái của rừng dừa nước

Rừng dừa nước tại Bình Phước có sự đa dạng sinh học cao, bao gồm nhiều loài cá nước ngọt và nước lợ. Hệ sinh thái này là nơi sinh sống của nhiều loài động thực vật, trong đó có các loài cá có giá trị kinh tế. Nghiên cứu cho thấy, rừng dừa nước không chỉ là nơi cư trú của các loài cá mà còn là môi trường sống lý tưởng cho nhiều sinh vật khác. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học trong khu vực này.

II. Tình hình nghiên cứu thành phần loài cá

Nghiên cứu về thành phần loài cá tại rừng dừa nước Bình Phước đã được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng và cung cấp thông tin cho việc quy hoạch và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản. Các nghiên cứu trước đây đã ghi nhận sự phong phú của cá nước ngọt tại Quảng Ngãi, với nhiều loài được phát hiện. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu tập trung vào khu vực rừng dừa nước, điều này dẫn đến việc chưa khai thác hết tiềm năng của khu vực này trong việc phát triển kinh tế và bảo tồn môi trường.

2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới, nghiên cứu về loài cá đã có từ lâu, với nhiều công trình nổi bật. Các nhà khoa học đã phân loại và mô tả hàng ngàn loài cá, từ đó hình thành nên các hệ thống phân loại hiện đại. Những nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sinh thái của các loài cá mà còn cung cấp cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản. Việc nghiên cứu thành phần loài cá cũng góp phần vào việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế bền vững.

III. Đánh giá và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu về thành phần loài cá tại rừng dừa nước Bình Phước có giá trị thực tiễn cao. Những thông tin thu thập được sẽ hỗ trợ cho các cơ quan chức năng trong việc lập kế hoạch quản lý và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản. Đồng thời, nghiên cứu cũng góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững. Việc bảo tồn rừng dừa nước không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn bảo vệ môi trường sống cho nhiều loài sinh vật.

3.1. Ứng dụng trong quản lý tài nguyên

Thông qua nghiên cứu, các cơ quan quản lý có thể xây dựng các chính sách phù hợp nhằm bảo vệ và phát triển bền vững rừng dừa nước. Việc này không chỉ giúp bảo tồn đặc điểm sinh thái của khu vực mà còn tạo ra cơ hội phát triển kinh tế cho người dân địa phương thông qua việc khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản. Các chương trình giáo dục cộng đồng cũng cần được triển khai để nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Vị trí địa lý Xã Bình Phước nằm về phía Đông của huyện Bình Sơn, cách trung tâm huyện khoảng 4km về phía Đông và cách trung tâm khu đô thị Vạn Tường 2km. Tọa độ địa lý từ 15⁰16’15’’ đến 15⁰20’25’’ vĩ độ Bắc, 108⁰45’50’’ đến 108⁰49’35’’ kinh độ Đông Địa giới hành chính xã giáp tứ cận như sau: - Phía Bắc giáp: xã Bình Trị, xã Bình Dương - Phía Nam giáp: xã Bình Hòa, xã Bình Thạnh Tây - Phía Đông giáp: xã Bình Hòa, xã Bình Trị - Phía Tây giáp: xã Bình Dương, xã Bình Thới và Bình Long Diện tích tự nhiên toàn xã là 2,345,71ha, chiếm 5,02% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện [14] 1.2 Địa hình, địa mạo Xã Bình Phước có địa hình, địa mạo dạng đồi núi bát úp nằm xen kẽ với vùng đồng bằng, sông suối vùng đầm lầy rộng vài trăm hecta chưa được khai thác triệt để. Dãy núi phía Bắc, phía Đông xã có độ cao từ 20-50m, các ngọn núi phía Tây và phía Nam có độ cao trung bình 20-60m Diện tích đất đồi núi khoảng 800ha, vùng đồng bằng khoảng hơn 1.500ha Địa hình, địa mạo xã Bình Phước tương đối phức tạp, gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất nói riêng và phát triển kinh tế nói chung.3 Đặc điểm khí hậu Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: Có nền nhiệt cao, lượng mưa tương đối nhiều, bức xạ lớn, đặc điểm khí hậu của xã được thể hiện rõ theo hai mùa: Luan van 4 Mùa khô từ tháng 2 đến tháng 7, mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau.

Các đặc điểm đặc trưng của khí hậu khu vực duyên hải miền Trung như sau. Nhiệt độ - Mùa hè: Mùa nóng nhất từ tháng 5 đến tháng 8, nhiệt độ trung bình 29,7 ⁰C, nhiệt độ trung bình tháng lớn nhất 30,8⁰C - Mùa đông: Mùa lạnh nhất từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình 23,8⁰C, nhiệt độ trung bình nhỏ nhất 18,9⁰C - Nhiệt độ không khí trung bình cả năm: 26,6-26,9⁰C - Chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm là 5 – 7 ⁰C (mùa mưa) và 7 – 9⁰C (mùa khô). Lượng mưa Lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1.300 mm/năm nhưng phân bố không đồng đều các tháng trong năm. Tập trung chủ yếu ở các tháng 10,11 với lượng mưa bình quân khoảng 400 – 500 mm/tháng, chiếm 48% lượng mưa cả năm.

Các tháng 2,3,4 có lượng mưa thấp, trung bình khoảng 60 - 70 mm/tháng. Trung bình hằng năm mưa 129 ngày, nhiều nhất vào tháng 10,11,12. Độ ẩm - Độ ẩm trung bình hằng năm 82% - Độ ẩm cao nhất vào từ tháng 10 đến 12 khoảng 81 – 92% - Độ ẩm thấp nhất vào các tháng 6,7 khoảng 72 – 79% d. Gió, bão Vận tốc gió trung bình hằng năm dao động từ 0,9 – 1,7m/s, vận tốc gió cự cđại 40m/s, số ngày lặng gió chiếm 49,5% và ngày có gió chiếm 50,5%.

Trong trường hợp có ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão, vận tốc gió có thể đạt tới 40m/s. Luan van 5 Hướng gió thịnh hành ở khu vực xã chủ yếu là 2 hướng Tây Nam và Đông Bắc. Hướng gió Tây Nam hoạt động từ tháng 2 đến tháng 7, từ tháng 8 đến tháng 1 năm sau chủ yếu là hướng gió Đông Nam. Vào mùa hè gió thổi từ Đông Nam qua Tây Bắc.

Mùa đông có gió Đông Bắc và Tây Nam. Gió mùa Đông Bắc thường gây ra giật, các cơn lốc và thường gây ra mưa to. Đặc biệt các trận bão ở Quãng Ngãi chỉ xảy ra trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 dương lịch, nhất là tháng 10, 11. Trung bình hằng năm có 1 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến Quãng Ngãi gây mưa to và gió mạnh cấp 6 trở lên.

Ngoài ra cũng có những năm có đến 3 - 4 cơn bão khi có bão thường gây ra mưa to và gió rất mạnh có khi kèm theo hiện tượng nước biển dâng cao. Trong những năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tần suất cường độ bão có xu hướng ngày càng cao, kéo theo tình trạng lũ lụt ảnh hưởng đến cuộc sống con người. Nắng Tổng số giờ nắng trung bình trong năm khoảng 4. Các tháng có số giờ năng cao nhất từ tháng 4 đến tháng 7, trung bình đạt từ 120 – 180 giờ/tháng.

Cường độ bức xạ trong khu vực thường đạt giá trị cao vào các tháng 5, 6 và 7 lớn hơn 14 kcal/cm2 và đạt giá trị nhỏ hơn vào các tháng 11 đến tháng 1 năm sau nhỏ hơn 8 kcal/cm2. Tổng lượng bức xạ cả năm đạt khoảng 140 - 150 kcal/cm2. Cân bằng bức xạ hằng năm là 90 – 95 kcal/cm2. Trong ngày lượng bức xạ đạt giá trị cao nhất vào buổi trưa khoảng 11 đến 13 giờ.4 Điều kiện thủy hải văn Khu vực Bình Phước thuộc huyện Bình Sơn do đó chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy văn sông Trà Bồng.

Sông Trà Bồng được bắt nguồn từ vùng núi cao Trà Bồng chảy xuyên qua huyện Bình Sơn khoảng 25km theo hướng Đông – Tây, đến Luan van 6 thông Giao Thủy (xã Bình Thới) chảy theo hướng Đông Bắc rồi đổ ra cửa biển Sa Cần. Sông Trà Bông từ xưa là đường thủy quan trọng trong việc giao lưu xuôi ngược là một trong những nguồn nước quan trọng cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của khu vực xã Bình Phước. Xã Bình Phước thuộc vùng nước lợ là vùng cửa sông , ven biển và rừng ngập mặn, đầm, phá. Nơi đây có sự pha trộn giữa nước biển và nước ngọt từ các dòng sông đổ ra.

Do được hình tháng từ hai nguồn nước nên diện tích vùng nước lợ phụ thuộc vào mùa mưa và thủy triều 1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CÁ 1.1 Tình hình nghiên cứu thành phần loài cá trên thế giới Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, con người cũng đã phân biệt và đặt tên cho các loài cá có giá trị mà mình tìm thấy trong tự nhiên. Công trình nghiên cứu đầu tiên về cá được công bố là cuốn sách “ Lịch sử động vật” của Aristote (384-322 Tr. Ông đã giới thiệu được 115 loài cá với những dẫn liệu về môi trường sống, sinh sản, di cư, nơi ở và ngư loại học được hình thành thực sự, có nhà khoa học ghi chép lại để cùng hiểu biết và sử dụng chúng [7]. Cho mãi đến nữa sau thế kỉ XVI, sau thời kì Phục Hưng của Châu Âu, cùng với sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên khác, công tác nghiên cứu về cá mới có những bước phát triển đáng kể.

Do yêu cầu của nghề cá và nhờ các ngành khoa học khác hỗ trợ nên việc nghiên cứu ngư loại ngày càng phát triển một cách có hệ thống cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Về phân loại cá phải kể đến như: P. Nhà tự nhiên học Thụy Điển C. Linnaeus (1707-1778) đã cho xuất bản cuốn sách “Systema nature” vào năm 1765, trong cuốn sách này ông đã đề ra “Cách gọi tên các loài sinh vật theo hai chữ” và đã giới thiệu được 2.

Ngoài ra còn có các tác giả như: G. Valenciennes với cuốn sách “Lịch sử tự nhiên Luan van 7 về cá” gồm 21 tập xuất bản liên tục trong 20 năm (1828-1848); P.Bleeker người Hà Lan (1819-1874) với cuốn sách “Atlasichthyologiques Inder Orientales Neerlandaises” (Sưu tập nghiên cứu cá ở phía Đông Hà Lan) gồm 9 tập; A. Gunther (1830-1914) với cuốn “Thông kê về cá ở viện bảo tàng Anh” gồm 8 tập. Cho đến nay, nhiều tập sách phân loại trên vẫn có giá trị [7].

Từ thế kỷ XX cho đến nay, những công trình nghiên cứu cá được công bố ngày càng nhiều và mở rộng hơn những nghiên cứu về phân loại, sinh học, sinh thái và phân bố của các loài cá. Về phân loại có các công trình của tác nổi tiếng như: D. Jordan (1854-1931) giới thiệu khu hệ cá ở Bắc và Trung Mỹ, G.Boulenger (1851) với 15 tập sách giới thiệu 6.834 loài cá ở Viện bảo tàng Anh, L.Berg người Nha (1876-1950) đã cho xuất bản rất nhiều sách về phân loại, phân bố của cac loài cá ở khu vực Liên Xô (cũ). Đặc biệt ông đã công bố các cuốn sách “Phân loại các dạng cá hiện đại và hóa thạch” và “Cá nước ngọt Liên Xô và các vùng phụ cận” xuất bản năm 1949.

Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu về cá của các tác giả khác như Nikolxki; K. Trong đó, cuốn sách “Nguyên tắc phân loại động vật” của E.Mayer (1953) đã góp phần không nhỏ về lý luận phân loại học cá hiện nay. Tại Trung Quốc, có nhiều tác giả nghiên cứu về cá như Chu Nguyên Đinh, Trương Xuân Lâm nhưng đầy đủ nhất có lẽ là cuốn “Ngư loại phân loại học” do Vương Dĩ Khang biên soạn năm 1958. Trong cuốn sách này, ông đã đưa ra khóa phân loại mô tả lớp cá sụn và cá xương gồm 70 bộ, 239 họ, 769 giống và 1800 loài cá phân bố ở các thủy vực nước ngọt và biển tại Trung Quốc [22].

Rainboth đã nghiên cứu khu hệ cá sông Mekong tới 500 loài [30]. Ngoài ra, còn nhiều tác giả như Kottelat (1998, 2000, 2001, 2003) và Robert tiếp tục nghiên cứu khu hệ cá Đông Dương [28]. Cho đến nay, các hệ thống phân loại cá hiện được xem là khá đầy đủ. Năm 1998, Tổ chức Lương nông Thế giới (FAO) đã công bố danh lục các loài cá Thế giới và những tra cứu thống nhất của chúng trong 2.

Đây là công trình nghiên cứu về đa dạng sinh học cá đầy đủ nhất từ trước đến nay. Luan van 8 Như vậy, lịch sử nghiên cứu ngư loại có rất sớm và hiện nay mỗi nước trên thế giới đều có các công trình nghiên cứu về thành phần loài và phân bố cá. Trung tâm ICLARM cùng với FAO đã lập ra trang web Fishbase (2004), http://www.org/ cho phép chúng ta tìm kiếm những thông tin về phân bố của cá trên Thế giới với danh lục hơn 25.000 loài cá phân bố trên Thế giới. Công tác nghiên cứu thành phần loài, phân bố cá trên thế giới được tiếp tục tiến hành nghiên cứu.

Cho đến năm 2006, đã xác định được 29.500 loài cá trên thế giới thuộc 6 lớp cá, 62 bộ và 484 họ và được thống kê từ 21.000 tài liệu tham khảo với 71.000 tên đồng vật và 28. Qua đó cho thấy nhóm cá rất phong phú và đa dạng sinh học cao.2 Tình hình nghiên cứu thành phần loài cá ở Việt Nam Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, thêm lục địa dài và rộng cùng với hệ thống sông ngoài, ao hồ, đầm phá khá nhiều.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn tốt nghiệp mang tiêu đề "Nghiên cứu thành phần loài cá tại rừng dừa nước xã Bình Phước, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi" của tác giả Hoàng Minh Thiện, dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Văn Khánh, thuộc trường Đại học Đà Nẵng, đã thực hiện một nghiên cứu sâu sắc về đa dạng sinh học của các loài cá trong môi trường rừng dừa nước. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về thành phần loài cá mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn và quản lý tài nguyên nước trong khu vực. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về sự phong phú của hệ sinh thái nước ngọt, từ đó có thể áp dụng vào các nghiên cứu và thực tiễn bảo tồn môi trường.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác liên quan đến quản lý tài nguyên và môi trường, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Thành phần và số lượng cá đồng ở khu vực trồng keo lai", nơi nghiên cứu về sự đa dạng sinh học trong một hệ sinh thái khác. Bên cạnh đó, bài viết "Sự Tham Gia Của Người Dân Và Tổ Chức Xã Hội Trong Xây Dựng Mô Hình Nông Thôn Mới" cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên. Cuối cùng, bài viết "Luận văn về phát triển kinh tế trang trại bền vững tại huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các mô hình phát triển bền vững trong nông nghiệp, liên quan đến việc quản lý tài nguyên hiệu quả. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề môi trường và phát triển bền vững.