MỞ ĐẦU Vùng cửa sông Văn Úc nằm ở địa phận giáp ranh của huyện Tiên Lãng về phía Nam và huyện Kiến Thụy về phía Bắc, của thành phố Hải Phòng. Đây là vùng nƣớc lợ có độ mặn biến thiên theo mùa, vào mùa khô, nồng muối từ 15 đến 20‰, còn mùa mƣa chủ yếu dao động trong khoảng 5 - 10‰, có khi chỉ 1‰. Cửa sông Văn Úc cùng với cửa Ba Lạt (sông Hồng) và cửa sông Thái Bình đƣợc đánh giá là những điểm ngập nƣớc quan trọng đối với công tác bảo tồn ĐDSH ở vùng ven biển châu thổ sông Hồng và đƣợc xếp vào danh sách các vùng đất ngập nƣớc quan trọng (Key Wetlands) của Việt Nam [4. Sông Văn Úc với cửa sông mở rộng ra biển đã tạo nên vùng đất ngập nƣớc với nhiều sinh cảnh đa dạng với các bãi bồi, rừng ngập mặn.
đã trở thành nơi cung cấp nguồn thực phẩm hàng ngày cho dân địa phƣơng, trong đó chiếm tỷ trọng cao về sản lƣợng khai thác tự nhiên là cá. Do vậy, vùng này không chỉ đƣợc đánh giá là có tiềm năng cao về nuôi trồng thuỷ sản mà còn là khu vực khai thác cá, tôm ven bờ quan trọng của huyện. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực đang chịu tác động mạnh do các hoạt động khai thác và nuôi trồng của nhân dân trong vùng. Trƣớc đây sản lƣợng khai thác thủy, hải sản tại khu vực cửa sông Văn Úc khá cao, có nhiều loài có giá trị kinh tế cao nhƣ sò, ngao… đặc biệt là các loài cá.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, việc khai thác và sử dụng nguồn lợi sinh vật vùng cửa sông ngày càng gia tăng, chƣa dựa trên cơ sở khoa học, không theo quy hoạch lâu dài và thêm vào đó là nhiều loại chất thải độc hại từ các nhà máy, xí nghiệp, hoạt động sản xuất nông nghiệp, nƣớc thải từ các đầm nuôi thuỷ sản, nƣớc thải sinh hoạt của ngƣời dân đổ vào cửa sông. Những tác động này đã làm suy giảm nguồn tài nguyên sinh vật, phá hủy môi trƣờng sống của nhiều loài thủy sinh vật, trong đó có cá. Muốn khai thác hợp lý và sử dụng bền vững nguồn lợi cần có những nghiên cứu và những hiểu biết cơ bản về nguồn lợi thủy sản, trƣớc hết là cá, do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đa dạng sinh học cá và đề xuất các giải pháp khai 1 z Luận văn Thạc sĩ khoa học Lê Hữu Tuấn Anh thác, sử dụng hợp lý nguồn lợi cá ở cửa sông Văn Úc”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá hiện trạng về thành phần loài cá tại cửa sông Văn Úc để từ đó đề xuất những biện pháp khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi cá trong vùng, góp phần bảo tồn, tái tạo và phát triển nguồn lợi cá ở đây.
Để đạt đƣợc những mục tiêu nêu trên, đề tài nghiên cứu của chúng tôi đã thực hiện những nội dung chính sau: 1. Xác định thành phần loài cá thuộc khu vực cửa sông Văn Úc. Nghiên cứu sự biến động các loài cá theo thời gian. Nghiên cứu hiện trạng khai thác nguồn lợi cá ở cửa sông Văn Úc 4.
Đề xuất biện pháp khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi cá ở vùng cửa sông Văn Úc. 2 z Luận văn Thạc sĩ khoa học Lê Hữu Tuấn Anh CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHÁI QUÁT VỀ VÙNG CỬA SÔNG 1.
Các khái niệm về hệ sinh thái cửa sông Có nhiều định nghĩa khác nhau đƣợc dùng để diễn tả một cửa sông ven biển. Trên cơ sở quan điểm động lực, D. Hạn chế của định nghĩa này là đã không đề cập đến tác động của thủy triều mặc dù có đề cập sự pha trộn giữa nƣớc biển và nƣớc ngọt. Ngƣợc lại, định nghĩa trên cũng bỏ qua những thành phần của hệ sinh thái cửa sông ven biển nhƣ đầm phá ven bờ (coastal lagoons) hoặc vùng biển nƣớc lợ (brackish seas).
Theo định nghĩa của Prichard thì những vùng vịnh ven biển (coastal marine bays) do không thỏa mãn điều kiện bán kín và hồ nƣớc mặn (saline lakes) không thỏa mãn điều kiện nguồn nƣớc ngọt cung cấp từ sông đổ vào vì chỉ có nƣớc mƣa, nên chúng không đƣợc coi là các bộ phận thuộc vùng cửa sông ven biển. Do những thiếu sót của định nghĩa Pritchard, nhiều nhà khoa học đã đề nghị sử dụng một định nghĩa phù hợp hơn của Fairbridge đƣa ra năm 1980, đó là: “Một cửa sông là một nhánh của biển đi vào một dòng sông đến nơi mà mực nước cao nhất của thủy triều còn vươn tới, thường được chia thành 3 phần khác nhau: a) phần biển hay phần cửa sông thấp, nối liền với biển khơi; b) phần cửa sông trung, nơi diễn ra sự pha trộn chính của nước biển và nước ngọt; và c) phần cửa sông cao, chi phối bởi nước ngọt nhưng còn tác động của thủy triều. Giới hạn giữa 3 phần này không cố định và biến động theo lượng nước ngọt đổ ra từ sông”. [43] Sự khác biệt cơ bản giữa 2 định nghĩa là việc xác định giới hạn trên của cửa sông ven biển.
Theo định nghĩa của Pritchard thì giới hạn trên của cửa sông ven biển là vùng thƣợng nguồn nơi nƣớc biển còn vƣơn tới, còn theo Fairbridge thì đó 3 z Luận văn Thạc sĩ khoa học Lê Hữu Tuấn Anh là giới hạn vùng còn chịu tác động của thủy triều dù không còn sự pha trộn nƣớc biển nữa. Vì vậy, vùng cửa sông là nơi tranh chấp mãnh liệt giữa đất liền và biển, ở đó ”bồi tụ và xói mòn” là hai quá trình trái ngƣợc nhau luôn xảy ra. Hai quá trình này phụ thuộc vào các yếu tố động lực của dòng sông và dòng biển (sóng, thuỷ triều, hải lƣu) và các quá trình địa chất. Vùng cửa sông không chỉ là nơi nƣớc ngọt và nƣớc mặn pha trộn với nhau đơn thuần mà tại đây có sự chuyển đổi tính chất hoá học của nƣớc từ ngọt sang mặn, đặc biệt là độ muối.
Chính vì vậy, vùng cửa sông là vùng chuyển tiếp từ chế độ thuỷ văn sông sang chế độ thuỷ văn biển. Phân loại cửa sông theo hình thái địa lý: Tùy theo hình dạng địa lý, có thể chia vùng CSVB ra các loại khác nhau (Hình 1)[58]: - Cửa những con sông lớn, chịu tác động mạnh của thủy triều; - Đồng bằng thấp trũng thuộc khu vực các sông lớn, chịu ảnh hƣởng của thủy triều; Vùng đầm phá ven bờ hình thành do tác động sóng vỗ tạo ra gờ cát ngăn cách với biển; - Núi cao ăn ra tận biển, địa hình không bằng phẳng, cao hoặc là những gò đá sát biển và ít chịu ảnh hƣởng của thủy triều. 4 z Luận văn Thạc sĩ khoa học Lê Hữu Tuấn Anh Nguồn: Viện Khí tượng thủy văn (1985) Hình 1. Phân loại cửa sông theo hình thái địa lý 1.
Hệ thống cửa sông – ven biển Việt Nam [20] Các vùng cửa sông Việt Nam có chế độ thuỷ triều đặc sắc của vùng bờ tây Thái Bình Dƣơng, chịu sự phân hoá sâu sắc theo mùa trong năm. Song do địa hình nƣớc ta phức tạp nên mỗi vùng lại có những nét đặc trƣng riêng. Dựa theo các điều kiện địa lý - địa mạo, khí tƣợng - thuỷ - hải văn và các nhóm sinh vật đặc trƣng, đới biển ven bờ (Coastal Zone) nƣớc ta có thể đƣợc chia thành các vùng và tiểu vùng sinh thái sau đây: Vùng Đông Bắc Vùng này gồm các tiểu vùng sau: - Móng Cái - Cửa Ông: Nơi có các bãi triều rộng, ở đấy tồn tại các vùng cửa sông, các eo vịnh, các sình lầy phủ bởi rừng ngập mặn (Tiên Yên), các đảo và quần đảo đá vôi. - Cửa Ông - Hòn Gai: Bãi triều đẹp, bờ đá, vách đứng với nhiều đảo và cung đảo đá vôi che chắn, nhiều eo vịnh, tùng áng và hang động đẹp.
5 z Luận văn Thạc sĩ khoa học Lê Hữu Tuấn Anh - Hòn Gai - Hải Phòng: Vịnh Cửa Lục, hệ cửa sông hình phễu Quảng Yên, nơi bãi triều rộng, nhiều lạch triều, mức triều cao với sự xuất hiện các sình lầy đƣợc phủ bởi rừng ngập mặn (Quảng Yên, các bãi ven cửa Bạch Đằng). Vùng châu thổ Bắc Bộ Vùng này tiếp nhận khối lƣợng nƣớc ngọt, dòng phù sa và lƣợng chất dinh dƣỡng lớn từ lục địa qua hệ thống sông Hồng - Thái Bình, do đó, đất ngày một tiến ra biển, nơi giao hội và tập trung của nhiều loài thuỷ sinh vật có nguồn gốc khác nhau, đông nhất là những loài nƣớc mặn. Ở đây có thể gặp các tiểu vùng sau: - Bạch Đằng - Đồ Sơn: với các cửa sông lớn, mức triều cao (4,2m), các bãi lầy ngập triều khá rộng đƣợc phủ bởi cây rừng ngập mặn. - Văn Úc - Nga Sơn (Thanh Hoá): với các cửa sông Cửa Văn Úc, cửa Hoá (cửa Thái Bình), Diêm Điền, Trà lý, Ba Lạt, Hà Lạn, Ninh Cơ và cửa Đáy.
Vùng Nga Sơn - Hải Vân: Vùng biển ven bờ từ Nga Sơn (Thanh Hoá) đến Hải Vân gồm các tiểu vùng: - Nga Sơn - Đèo Ngang: với cửa của các hệ thống sông tƣơng đối lớn nhƣ sông Mã, sông Lam và vùng đồng bằng hẹp ven biển Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, vịnh đẹp là Vũng Áng. - Đèo Ngang - Hải Vân: với sự xuất hiện của chuỗi đầm phá đẹp nổi tiếng (Tam Giang - Cầu Hai, Lăng Cô,…) và dải đồng bằng rất hẹp dọc ven biển, hệ thống sông ngắn và rất dốc ở thƣợng nguồn, nhƣng thấp ở hạ lƣu, lƣợng mƣa hàng năm cao, thƣờng gây lụt lớn, đe doạ đời sống cƣ dân, nhất là những cộng đồng xung quanh đầm phá. Vùng Hải Vân - Cà Ná Trong vùng, số lƣợng sông đổ ra biển không nhiều, lƣợng nƣớc ngọt ít, mùa khô kéo dài quá nửa năm, ít mƣa và độ bốc hơi nƣớc lớn, quá trình biển chiếm ƣu thế. Vùng này gồm các tiểu vùng sau: 6 z Luận văn Thạc sĩ khoa học Lê Hữu Tuấn Anh - Hải Vân (Đà Nẵng) - Vĩnh Tuy (Huyện Thổ Đức - Quảng Ngãi): các sông lớn trong vùng là sông Vu Gia, Thu Bồn (Quảng Nam), Trà Bồn, Trà Khúc, sông Vệ (Quảng Ngãi), Nam Ô (cửa sông Cu Đê, Đà Nẵng), Sa Kỳ (Quảng Ngãi).
- Vĩnh Tuy - Cà Ná (Ninh Thuận): Thềm lục địa hẹp, biển sâu, bờ biển là những khối đá đồ sộ đâm ra biển tạo nên nhiều đầm, vụng, vịnh đẹp: đầm Trà Ổ, Đề Di, vịnh Quy Nhơn, đầm Cù Mông, vịnh Xuân Đài, đầm Ô Loan, Văn Phong, đầm Nha Phu, vịnh Cam Ranh, đầm Nại.