Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 1. Người cao tuổi: khái niệm, đặc điểm và nhu cầu 1. Khái niệm người cao tuổi Có nhiều cách tiếp cận khi xác định“người cao tuổi”.Trước đây, người ta thường dùng thuật ngữ “người già” để chỉ những người có tuổi. Thời gian gần đây, thuật ngữ “người cao tuổi” ngày càng được sử dụng nhiều hơn.
Cả hai cách gọi không khác nhau về bản chất, tuy nhiên, cách gọi “người cao tuổi” tích cực hơn về mặt tâm lý và tôn trọng hơn về mặt thái độ. Liên Hợp Quốc chấp nhận mốc để xác định dân số già là từ 60 tuổi trở lên trong đó phân ra làm ba nhóm: Sơ lão (60-69 tuổi); trung lão (70-79 tuổi) và đại lão (từ 80 tuổi trở lên). Ở hầu hết các nước phát triển như Đức, Hoa Kỳ hay Nhật. đều quy định, người cao tuổi là người 65 tuổi trở lên.
Ở Việt Nam, theo Luật Người cao tuổi năm 2010 “Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên” [14]. Khái niệm về NCT theo Luật NCT năm 2010 sẽ được tác giả sử dụng trong nghiên cứu này. Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, CTXH nhìn nhận NCT như sau: NCT với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động - thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống. Do đó, NCT là một đối tượng yếu thế, đối tượng dễ bị tổn thương cần sự trợ giúp của CTXH.
Đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu của người cao tuổi 1. Đặc điểm sinh lý của người cao tuổi Cùng với sự phát triển của nhận thức, cơ thể con người cũng luôn có những biến đổi về sinh lý cơ thể. Ngoài 60 tuổi sự phát triển của cơ thể đã có 10 luan an những giảm sút theo thời gian, chức năng của não suy giảm dần và gây ra những cản trở bước đầu trong nhận thức[24,tr. Các chức năng của thị giác và thính giác ở giai đoạn đầu từ 60-70 tuổi vẫn còn tốt nhưng từ 70 tuổi trở đi các chức năng này suy giảm mạnh.
Các bệnh thường gặp về thị giác của NCT như đục thuỷ tinh thể, viễn thị… Với thính giác biểu hiện của việc nghe không rõ là NCT thường xuyên yêu cầu người xung quanh nhắc lại và nói to hơn với họ. Bên cạnh đó sự nhạy cảm của khứu giác và vị giác cũng suy giảm mạnh, đó cũng là một phần dẫn đến việc ăn ít, kém ăn ở NCT. Giai đoạn đầu của tuổi già sức làm việc của người cao tuổi vẫn còn, năng lực sáng tạo còn cao bởi những kinh nghiệm và vốn sống được tích luỹ trong quá trình làm việc trước đây. Tính ham hiểu biết của người cao tuổi giai đoạn này thể hiện qua việc họ hứng thú theo dõi các bản tin thời sự, khoa học kỹ thuật, xã hội; đọc báo, đọc tin tức sau đó đưa ra những bình luận, đánh giá.
Trí nhớ giảm sút rõ rệt khiến NCT thường nhắc lại một vấn đề nhiều lần, nhất là các vấn đề thuộc trí nhớ ngắn hạn, trí nhớ dài hạn vẫn ở mức cao. Các kí ức về thời trẻ cũng được nhắc lại rất chính xác. Ở người cao tuổi tư duy đã có phần kém linh hoạt, tư duy để đưa ra quyết định thường chậm hơn so với lớp trẻ. Tuy nhiên, với sự trải nghiệm và kho kiến thức sâu rộng của bản thân những quyết định được người cao tuổi đưa ra luôn có sự cân nhắc kỹ lưỡng và chín chắn.
Tuổi già đến, thay đổi về hình dáng là những thay đổi đầu tiên. Hệ da, lông, móng, tóc NCT có nhiều thay đổi. Da của người cao tuổi mỏng dễ bị tổn thương, khô và có nhiều nếp nhăn, sự đàn hồi kém, da xuất hiện những vết đồi mồi. Vầng trán nhăn nheo, mạch máu lộ trên da, mí mắt sệ, quầng mắt thâm sậm đen, vành tai chảy xuống.Tóc của người cao tuổi rụng nhiều, khiến tóc thưa hơn, sắc tố của tóc giảm làm cho tóc người cao tuổi không có màu (bạc 11 luan an tóc).
Trong suốt quá trình lão hóa, móng tay và móng chân trở nên dày,giòn và dễ gãy. Có rất nhiều thay đổi diễn ra trong hệ cơ xương khớp. NCT thường bị giảm tổng khối lượng xương và cơ, giảm khối lượng xương diễn ra dưới dạng mất calci xương làm xương trở nên giòn và yếu, loãng xương và tăng nguy cơ gãy xương ở người già. Chiều cao của NCT giảm từ 1-2cm, cân nặng cũng có dấu hiệu giảm, mỡ nhiều hơn ở vùng bụng và mông [24].
Đặc điểm tâm lý của người cao tuổi Cả cuộc đời làm việc và cống hiến khi tuổi cao đây chính là lúc NCT nghỉ ngơi và an dưỡng, tuy vậy, không phải ai cũng có cuộc sống êm đẹp đủ đầy. Có nhiều NCT khó khăn, tuổi cao nhưng vẫn phải làm việc, thậm chí làm việc vất vả để phục vụ cuộc sống điều đó có phần ảnh hưởng tới đời sống tình cảm của họ[24,tr. NCT sống thiên về tình cảm vì thế cảm xúc của họ vô cùng nhạy cảm dễ vui vẻ cũng rất dễ bực bội và hờn dỗi. Mặc cảm về sức yếu tuổi cao nên NCT có tâm lý bi quan, nghĩ mình là người thừa là gánh nặng cho con cái, không còn có ích nhiều cho gia đình và xã hội.
Từ đó cảm giác u uất, hoài nghi, tinh thần nặng nề. Bên cạnh đó NCT cũng nhận thức được về tình trạng sức khoẻ, có cảm giác sợ bệnh tật, sợ ốm đau, sợ không ai chăm sóc và sợ sẽ làm phiền con cháu. Các mối quan hệ của NCT cũng thu hẹp lại so với thời kỳ trẻ khiến họ cảm thấy sự mất mát. Với những NCT còn sức khoẻ thì quan hệ giao tiếp thường có gia đình, người thân, hàng xóm và bạn bè ở các câu lạc bộ (hưu trí, hội NCT, cựu chiến binh, hội ngâm thơ cây cảnh…).
NCT có sức khoẻ kém đi lại khó khăn thì giao tiếp cũng thu hẹp lại. Đối với không ít người, chỉ còn gia đình, hàng xóm thân cận và người thân. Quá trình giao tiếp của NCT cũng xảy ra những rào cản như tốc độ nói chậm, thính giác suy giảm, trí nhớ ngắn hạn giảm sút khiến cho việc tiếp nhận thông tin có phần sai lệch hay nói đi nói lại. 12 luan an Bởi đặc điểm sinh lý nên người cao tuổi rất nhạy cảm với âm thanh và tiếng động.
NCT thích nghỉ ngơi yên tĩnh vào buổi trưa, không thích tiếp chuyện vào buổi tối. Nhu cầu của người cao tuổi Nhu cầu về vật chất: Tuổi lao động đã hết nhưng NCT vẫn tham gia lao động vì một số lý do như: rèn luyện sức khỏe, với kiến thức tích lũy và kinh nghiệm sống nên việc thực hiện công việc có tính chắc chắn cao, đối với những NCT khó khăn về kinh tế, lao động khiến họ có thêm thu nhập để trang trải cuộc sống. Trên hết thì làm một công việc phù hợp với sức khỏe và khả năng của bản thân giúp NCT vui vẻ và cảm thấy mình vẫn có ích trong cuộc sống. Nhu cầu về tinh thần: Với NCT thì nhu cầu quan trọng nhất chính là sống quây quần bên gia đình được con cháu sẻ chia, chăm sóc, yêu thương, kính trọng.
Ở NCT nói chung có 5 nhu cầu chính : Nhu cầu được chăm sóc yêu thương Nhu cầu được khoẻ mạnh chăm sóc khi ốm đau Nhu cầu thấy mình có ích cho xã hội Nhu cầu vui hưởng tuổi thọ Nhu cầu được học hỏi Qua đó có hai nhu cầu quan trọng nhất cần đáp ứng đó là nhu cầu được chăm sóc yêu thương và nhu cầu được khoẻ mạnh chăm sóc khi ốm đau. Lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi 1. Khái niệm công tác xã hội cá nhân đối với người cao tuổi Khái niệm công tác xã hội cá nhân Công tác xã hội cá nhân là phương pháp của công tác xã hội thông qua tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp nhằm hỗ trợ cá nhân tăng cường năng lực tự giải quyết vấn đề của mình.Trong tiến trình này nhân viên xã hội vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý học xã hội học và khoa học xã hội 13 luan an liên quan khác, đồng thời sử dụng kỹ năng tuân thủ đạo đức nghề nghiệp sát cánh cùng đối tượng, hỗ trợ họ tự giải quyết vấn đề của bản thân và có thể vượt qua các vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai[21,tr. Khái niệm công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi Công tác xã hội cá nhân với NCT là phương pháp của CTXH nhằm giúp đỡ hỗ trợ NCT vượt qua khó khăn giúp họ đánh giá xác định vấn đề tìm hiểu tiềm năng điểm mạnh từ đó nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề.
Quá trình giúp đỡ là quá trình khoa học và chuyên nghiệp trong đó NVXH vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý học, xã hội học các khoa học liên quan khác và các kỹ năng , đạo đức nghề nghiệp sát cánh cùng NCT hỗ trợ họ tự giải quyết vấn đề của mình và hướng đến vượt qua những vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai. Nguyên tắc của công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi; các hoạt động của công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi;tiến trình công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi 1.Nguyên tắc của công tác xã hội cá nhân với người cao tuổi Nguyên tắc chấp nhận. NCT phải được chấp nhận với mọi phẩm chất những điểm mạnh và yếu mà không có sự phán xét đến các hành vi của họ là đúng hay sai. Điều này thể hiện sự tôn trọng những giá trị bản thân NCT bất kể địa vị xã hội, thành phần xuất thân hoặc hành vi của họ là như thế nào.
Tuy nhiên, việc chấp nhận NCT không đồng nghĩa với việc tha thứ cho những hành vi mà xã hội không chấp nhận. Sự chấp nhận này chỉ có nghĩa là thể hiện sự quan tâm và thiện chí muốn giúp đỡ NCT với tư cách là một con người cần được giúp đỡ chứ không phải vì hành vi của họ. Sự chấp nhận thể hiện qua những cử chỉ thân thiện, sự lắng nghe, chia sẻ cùng NCT cho dù do đặc điểm của tuổi già họ có hay quên, nhắc đi nhắc lại câu chuyện, vấn đề của mình nhiều lần… Để có thể chấp nhận thân chủ là 14 luan an NCT trước hết NVCTXH cần nắm được các đạo đức nghề nghiệp, hiểu được các đặc điểm tâm sinh lý của NCT để có thể đồng hành cùng NCT và mang lại hiệu quả làm việc cao. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết.