Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI KHUYẾT TẬT 1. Khái niệm người cao tuổi khuyết tật và quyền của người cao tuổi khuyết tật 1. Quan niệm về người cao tuổi Theo quan điểm của Công tác xã hội với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, công tác xã hội nhìn nhận về người cao tuổi như sau: Người cao tuổi với những thay đổi về tâm sinh lý, lao động – thu nhập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống. Do đó, người cao tuổi là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của công tác xã hội [31].
Trạng thái tâm lý và sức khỏe của người cao tuổi không chỉ phụ thuộc vào nội lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội, đặc biệt là môi trường văn hóa - tình cảm và quan trọng nhất là môi trường gia đình. Khi bước sang giai đoạn tuổi già, những thay đổi tâm lý của mỗi người mỗi khác, nhưng tựu trung những thay đổi thường gặp là: - Hướng về quá khứ Để giải tỏa những ưu phiền thường nhật trong cuộc sống hiện tại, người cao tuổi thường thích hội họp, tìm lại bạn cũ, cảnh xưa, tham gia hội ái hữu, hội cựu chiến binh. Họ thích ôn lại chuyện cũ, viết hồi ký, tái hiện kinh nghiệm sống cũng như hướng về cội nguồn: viếng mộ tổ tiên, sưu tầm cổ vật… - Chuyển từ trạng thái “tích cực” sang trạng thái “tiêu cực” Khi về già người cao tuổi phải đối mặt với bước ngoặt lớn lao về lao động và nghề nghiệp. Đó là chuyển từ trạng thái lao động (bận rộn với công việc, bạn bè) sang trạng thái nghỉ ngơi, chuyển từ trạng thái tích cực khẩn trương sang trạng thái tiêu cực xả hơi.
Do vậy người cao tuổi sẽ phải tìm cách thích nghi với cuộc sống mới. Người ta dễ gặp phải “hội chứng về hưu” [31, tr. Những biểu hiện tâm lý của người cao tuổi - Sự cô đơn và mong được quan tâm chăm sóc nhiều hơn : Con cháu thường bận rộn với cuộc sống. Điều này làm cho người cao tuổi cảm thấy mình bị lãng 9 quên, bị bỏ rơi.
Họ rất muốn tuổi già của mình vui vẻ bên con cháu, muốn được người khác coi mình không là người vô dụng. Họ rất muốn được nhiều người quan tâm, lo lắng cho mình và ngược lại. Họ sợ sự cô đơn, sợ phải ở nhà một mình. - Cảm nhận thấy bất lực và tủi thân: Đa số người cao tuổi nếu còn sức khỏe vẫn còn có thể giúp con cháu một vài việc vặt trong nhà, tự đi lại phục vụ mình, hoặc có thể tham gia được các sinh hoạt giải trí, cộng đồng.
Nhưng cũng có một số người cao tuổi do tuổi tác đã cao, sức khỏe giảm sút nên sinh hoạt phần lớn phụ thuộc vào con cháu. Do vậy dễ nảy sinh tâm trạng chản nản, buồn phiền, hay tự dằn vặt mình. Người cao tuổi mà tuổi càng cao thì sức khỏe lại càng giảm sút, đi lại chậm chạp, không còn khả năng lao động, quan niệm sống khác với thế hệ sau. nên chỉ một thái độ hay một câu nói thiếu tế nhị có thể làm cho họ tự ái, tủi thân cho rằng mình già rồi nên bị con cháu coi thường.
- Nói nhiều hoặc trầm cảm: Vì muốn truyền đạt kinh nghiệm sống cho con cháu, muốn con cháu sống theo khuôn phép đạo đức thế hệ mình nên họ hay bắt lỗi, nói nhiều và có khi còn làm cho người khác khó chịu. Với một bộ phận người cao tuổi bảo thủ và khó thích ứng với sự thay đổi, cộng với sự giảm sút của sức khỏe, khả năng thực hiện công việc hạn chế, nếu thời trẻ có những ước mơ không thực hiện được, hoặc không thỏa đáng, không hài lòng. có thể xuất hiện triệu chứng của bệnh trầm cảm. Họ trở thành những người trái tính, hay ghen tỵ, can thiệp sâu vào cuộc sống riêng tư của con cháu vì họ cho rằng mình có quyền đó.
- Sợ phải đối mặt với cái chết: Sinh – tử là quy luật của tự nhiên, dù vậy người cao tuổi vẫn sợ phải đối mặt với cái chết. Cũng có những trường hợp các cụ bàn việc hậu sự cho mình, viết di chúc cho con cháu. có những cụ không chấp nhận, lảng tránh điều đó và sợ chết [31, tr. Quyền của người cao tuổi Người cao tuổi có các quyền sau đây: được bảo đảm các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, chăm sóc sức khoẻ; quyết định sống chung với con, cháu hoặc sống riêng theo ý muốn; được ưu tiên khi sử dụng các dịch vụ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; được tạo điều kiện tham gia hoạt động văn hoá, giáo dục, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch và nghỉ ngơi; 10 được tạo điều kiện làm việc phù hợp với sức khoẻ, nghề nghiệp và các điều kiện khác để phát huy vai trò người cao tuổi; được miễn các khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội, trừ trường hợp tự nguyện đóng góp; được ưu tiên nhận tiền, hiện vật cứu trợ, chăm sóc sức khỏe và chỗ ở nhằm khắc phục khó khăn ban đầu khi gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc rủi ro bất khả kháng khác; được tham gia Hội người cao tuổi Việt Nam theo quy định của Điều lệ Hội và các quyền khác theo quy định của pháp luật [17].
Quan niệm về người khuyết tật Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa về người khuyết tật theo Luật người khuyết tật Việt Nam ban hành vào năm 2010. Đây là định nghĩa khá đầy đủ, tổng hợp được các cách hiểu khác nhau về khuyết tật và phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh Việt Nam. “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”. Như định nghĩa trên đây, có hai vấn đề cần quan tâm.
Thứ nhất, đó là người khuyết tật có thể là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể, đó có thể là những người mất đi các bộ phận cơ thể như cụt chân, tay, tê liệt, bại liệt, hoặc bất thường về các bộ phận cơ thể khác. Thứ hai, đó là suy giảm chức năng, vấn đề này thể hiện ở việc các chức năng trên cơ thể người có thể hoạt động không tốt hoặc các bộ phận không đảm bảo được chức năng của mình như chức năng thị giác, thính giác hay chức năng suy nghĩ, lý giải…Tuy nhiên, một ý rất quan trọng trong định nghĩa trên đó là những khiếm khuyết và suy giảm chức năng đã làm cản trở cá nhân tham gia vào các hoạt động như sinh hoạt, lao động và học tập một cách bình thường [9, tr. Quyền của người khuyết tật Người khuyết tật được bảo đảm thực hiện các quyền sau đây: Tham gia bình đẳng vào các hoạt động xã hội; sống độc lập, hòa nhập cộng đồng; được miễn hoặc giảm một số khoản đóng góp cho các hoạt động xã hội; được chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, học văn hóa, học nghề, việc làm, trợ giúp pháp lý, tiếp 11 cận công trình công cộng, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin, dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và dịch vụ khác phù hợp với dạng tật và mức độ khuyết tật và các quyền khác theo quy định của pháp luật [18]. Từ những quan niệm về người cao tuổi, người khuyết tật và quyền của người cao tuổi, người khuyết tật như đã nêu, học viên chọn lọc đối tượng 60 tuổi trở lên khuyết tật đang được chăm sóc và nuôi dưỡng ở Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người bại liệt Thạnh Lộc, thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện luận văn phù hợp thực tiễn Trung tâm là: Người cao tuổi khuyết tật là người có tuổi 60 tuổi trở lên, bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn và có quyền của người cao tuổi và người khuyết tật.
Đặc điểm tâm lý của người cao tuổi khuyết tật Về tình cảm Người cao tuổi khuyết tật có đặc điểm tâm lý là giàu tình thương, nhưng cũng dễ bị tổn thương, trước khi vào Trung tâm mỗi người có thể có những hoàn cảnh rất khác nhau, mỗi người mỗi cảnh ngộ, lòng tự trọng và tính tự ái rất cao. Người cao tuổi khuyết tật có phản ứng cảm xúc nhạy bén, vui buồn dễ dàng, dễ hờn dỗi, bởi các cụ sống thiên về tình cảm hơn là vật chất nên họ dễ có xúc cảm khi gặp tình huống lạ, có tính tự ti vì mặc cảm sức khỏe, tuổi già thì lực bất tòng tâm, tâm lý bi quan vì là người thừa từ đó cảm thấy lạnh lùng trống rỗng và trầm lắng, vì thế hay nảy sinh tính đa nghi, nghĩ ngợi, nhạy cảm với mọi việc, hoài nghi người khác. Một khi cao tuổi, còn là người cao tuổi khuyết tật thì cảm giác mất mát cô độc, sự xao xuyến lo âu là tâm trạng thường xuyên của người cao tuổi và ý thức rằng cuộc đời đã xế chiều lại tàn phế, mọi sinh hoạt cần có người chăm sóc vì nghĩ rằng chuỗi ngày còn lại là sự cô đơn, vô dụng., chính vì những trăn trở đó mà người cao tuổi khuyết tật rất trân trọng tình cảm, sống thiên về tình cảm nhiều hơn, rất nặng tình cảm hàm ơn người khác nếu được các nhân viên chăm sóc, giúp đỡ dù là việc nhỏ. Về giao tiếp 12 Con người một khi cao tuổi, khuyết tật thì họ thường gắn bó hơn với đời sống tâm linh, nghĩ về dòng họ, gia đình và con cháu, hay có thói quen lưu luyến quá khứ, rất thích nhớ lại, kể lại những chuyện đã qua có thể đó là những kỷ niệm vui, buồn của cuộc sống cơ hàn thời kỳ đất nước còn nhiều khó khăn.
Vì vậy, giao tiếp đối với người cao tuổi khuyết tật là nhu cầu không thể thiếu, bởi giao tiếp là phương tiện, công cụ động lực giúp người cao tuổi tránh được sự cô đơn, buồn tủi, giúp bộc bạch tâm tư, nguyện vọng của bản thân, cảm giác của họ về cuộc sống này không phải là người “ sống thừa” và đâu đó trong suy nghĩ của họ vẫn còn được tôn trọng, dành nhiều sự yêu thương của mọi người, đặc biệt là từ những người thân trong gia đình thì sẽ giúp cho người cao tuổi khuyết tật cởi bỏ hết những phiền muộn để sống vui hơn trong cuộc đời này.