Mở đầu Gia tri cuộc sông được định nghĩa theo nhiêu cách khác nhau. Tuy nhiên, vân đê thỏa mãn trong ăn, uông là một yêu tô quan trọng làm tăng cảm nhận giá tri của cuộc sông. Ngoài ra, ăn, uông khoa học sẽ đảm bao sức khỏe, giảm nguy cơ bệnh tật. Cuộc sống của mỗi người trong chúng ta đều trải qua các giai đoạn phát triển và trưởng thành.
Nó là một chuỗi các quá trình học tap, sinh hoạt và làm việc. Khi tuổi tăng, kiến thức và kinh nghiệm sống cũng tăng theo. Đồng thời quá trình lão hóa cũng xảy ra mạnh mẽ hơn, kéo theo những biến đổi về mặt sinh học cũng như tâm lý. Khi già, chúng ta thường ăn it hơn so với khi trẻ va cách lựa chọn thực phẩm cũng khác biệt, chăng hạn như chọn thực phẩm mềm hơn.
Tình trạng thiếu hụt chất dinh dưỡng và vi chất phổ biến sẽ làm giảm sức để kháng, tăng sự lão hóa, tăng nguy cơ mắc bệnh ở người gia. Ngoài ra, khi ăn uống, người già thường không có cảm nhận sự ngon miệng, thích thú như khi còn trẻ. Trong khi đó, tỷ lệ người gia trên thế giới và trong nước tăng cao. Theo Schiffman (2000), tỷ lệ người già trên thế giới tăng nhanh: năm 2025 có thể lên đến 1.121 tỷ người trên 60 tuổi.
Theo qui ước của Liên Hợp Quốc, dân số của một quốc gia có tỷ lệ người cao tuổi từ 10% trở lên thi được coi là quốc gia đó có “dân số giả”. Ở Việt nam, những người từ 60 tuổi trở nên được coi là người cao tuổi. Tỷ lệ người cao tuổi ở nước ta năm 2007 đã đạt 9,45% (8,05 triệu người). Theo dự báo năm 2020 sẽ đạt 11,24% (11,125 triệu người).
Những số liệu này vào các năm 1999 và 1979 lân lượt là 8,12% (6,19 triệu người) và 6,9% (3,71 triệu người). Điều nay cho thấy dân số nước ta đã đạt đến ngưỡng “dân số già”. Uy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em) Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới tìm hiểu về nguyên nhân cũng như các biện pháp khắc phục tình trạng giảm sút trong ăn uống, thiếu hụt chất dinh dưỡng, giảm khả năng dé kháng và hồi phục, giảm giá trị cảm quan, nói chung đó là tình trạng biến đổi liên quan đến sự ăn uống thực phẩm với sự tăng của tuổi. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thay đối này.
Trong đó, nổi bật là các yếu t6 về khả năng cảm nhận mùi, vi bị suy giảm; van dé về răng miệng: sự thay đổi của da dày; hoàn cảnh ăn uống: sự quan tâm và chia sẻ. (Morley, 2003; Nicholas và Roberts, 2006); hoặc các yếu tố khác như tình hình kinh tế, điều kiện cá nhân. (Nicholas và Roberts, 2006; A Drewnowski va Shultz, 2001) Về biện pháp chống lai sự giảm cảm nhận hương và vị của thực phẩm khi ăn ở người cao tuổi, đã có những nghiên cứu trên thé giới. Có những nghiên cứu chỉ ra răng khi bổ sung thêm chất kích thích hương và (hoặc) chất kích vị thì khả năng cảm nhận hương và vi của thực phẩm ở người gia được cải thiện (Schiffman, 1993; Mathey và cộng sự, 2001; Koskinen, 2003; Jeya, 2003).
Bên cạnh đó, có nghiên cứu lại chỉ ra rang không có hiệu quả khi b6 sung chất kích thích hương (Natajsa và cộng sự, 2007). Tuy nhiên, chúng tôi chưa tim thay tài liệu nao nói về nguyên nhân của việc khắc phục tình trạng suy giảm trong ăn uống cũng như cảm giác có được của người già khi bổ sung chat kích thích hương vào thực phẩm dé bù vao phan cảm giác đã suy giảm. Phải chang, nguyên nhân của việc khắc phục này chỉ đơn thuần do bù đắp lại sự giảm khả năng cảm nhận hương của người cao tuổi? Hay còn có nguyên nhân khác, chăng hạn như sự liên hệ giữa tín hiệu kích thích hương thơm của thực phẩm khi ăn với cảm giác có được trong thời điểm trước đó, do cách ăn uống, do thói quen ăn uống. Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tác động của việc bố sung hương vào thực phẩm với đối tượng là người cao tuổi ở miền Nam Việt Nam, nhăm hai mục đích chính: + Tim hiéu sự tác động tích cực của việc bô sung hương vào thực phâm đôi với người cao tuôi ở miên Nam Việt Nam.
Cụ thê là, việc bô sung chât kích thích hương vào thực phâm có khăc phục được sự suy giam trong ăn uông cũng như cảm giác khi ăn của người cao tuôi ở miền Nam Việt Nam hay không + Bước đâu tìm hiêu nguyên nhân của tác động tích cực của việc bô sung hương vào thực phâm đôi với sự khăc phục tinh trạng suy giam trong ăn uông và cảm nhận của người cao tuôi. Tống quan tài liệu 1. Sơ lược sự thay đỗi về ty lệ người cao tuổi trong dân số Việt Nam và thé giới Theo qui ước của Liên Hợp Quốc, dân số của một quốc gia có tỷ lệ người cao tuôi từ 10% trở lên thì được coi là quôc gia đó có “dân sô già”. Tý lệ người già trên thế giới va trong nước ngày cảng tăng nhanh.
Trên thế giới, năm 2025 có thể có đến 1.121 tỷ người trên 60 tuổi. Ở Việt nam, những người từ 60 tuổi trở nên được coi là người cao tuổi. Ty lệ người cao tuổi ở nước ta năm 2007 đã đạt 9,45% (8,05 triệu người). Theo dự báo nam 2020 sẽ đạt 11,24% (11,125 triệu người).
Chứng tỏ dân số nước ta đã đạt đến ngưỡng “dân số gia” (Điều tra dân số - kế hoạch hóa gia đình (2007), Tong Cục Thống Kê; Dự báo dân số, gia đình và trẻ em Việt Nam đến 2025 (2006). Uy ban Dân số, Gia đình và Trẻ em). Một số đặc điểm khác biệt giữa người cao tuổi và người trẻ tuổi trong ăn uông Đã có nhiêu nghiên cứu tiến hành tìm hiểu về người cao tuổi, và có những kết luận thú vị rat đáng quan tâm. Donini va cộng sự (2003) cho rang van dé của người gia là việc suy giảm sự hap thu thực phẩm và nhu cau ăn, uống.
Điều này dẫn tới việc điều tiết để cân bằng năng lượng và kiểm soát thực phẩm ăn vào. Khi cao tuổi, người già thường ăn ít hơn, ăn thì mau no và có sự khác biệt trong lựa chọn thực phẩm. Tuổi tác dường như là bạn đồng hành với sự suy giảm hap thu năng lượng (Morley, 1997; Morley, 2001; Eastwood và cộng sự, 2002). Đây là yếu tố quan trọng dẫn đến việc giảm trọng lượng ở người già, ảnh hưởng đến sức khỏe, thiếu vitamin và khoáng chất, khả năng miễn dịch giảm.
Người cao tuổi bị giảm sự thích thú khi dùng thực phẩm và giảm cân; thiếu hụt dinh dưỡng dẫn đến giảm sút chức năng cơ, giảm lượng xương, ảnh hưởng tới hệ miễn dịch, gây thiếu máu, giảm khả năng nhận thức, giảm khả năng phục hôi vết thương cũng như khả năng phục hồi sau phẫu thuật. Sức đề kháng giảm dẫn đến bệnh tật tăng cao. Tăng nguy cơ tử vong và/hoặc cuộc sống buôn khổ (Morley, 2002; Nicholas va Roberts, 2006; Hickson, 2006; Schiffman va Warwick, 1992; Schiffman, 2000; Drewnowski va Shultz, 2001). Độ tuổi diễn ra sự thay đổi nói trên tùy thuộc vào mỗi cá nhân, hoàn cảnh xã hội, tính chất công việc và chủng tộc.
Nhưng nhìn chung, giảm sút trong việc cảm nhận mùi va vị sẽ bat đầu từ khi khoảng 60 tuổi va thé hiện mạnh hơn khi ở trên 70 tuổi (Doty va cộng sự, 1984; Schiffman, 1997; Stevens và cộng sự, 1984, Steen va cong su, 1979). Một sô nguyên nhân của sự suy giam trong ăn uông va cam giác thu được khi ăn udng Sự suy giảm hấp thu năng lượng làm cho trọng lượng cơ thể bị giảm và nguyên nhân có thể do các yếu tố xã hội, sinh lý hoặc kết hợp cả hai và vật lý (Donini và cộng sự, 2003). Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này. Khi tuôi tác tăng cao, có mối liên hệ với sự thay đổi sinh lý: sự thay đổi hooc môn; sự giảm tỷ lệ trao đổi chat; sự thay đổi khứu giác và vị giác; sự giảm thích nghi của đáy da dày dẫn tới dạ day mau chóng cảm giác day và no; răng yếu dân; sự giảm trao đối chất, do giảm hoạt tính của enzyme Na”-K”-ATPase; sự giảm cảm nhận mùi, vị và trạng thái của thực phâm khi ăn; sự giảm testosterone ở đàn ông, dẫn đến tăng hàm lượng leptin và giảm khối lượng nạc trên cơ thể.
góp phần làm giảm sự hấp thu thực phẩm và năng lượng (Morley, 2003; Nicholas và Roberts, 2006). Ngoài các yếu tố sinh lý kể trên, con do các nguyên nhân khác (yếu tô phi sinh lý) như: tình trạng hôn nhân; hoàn cảnh sông: thu nhập, điều kiện song; giáo dục; tình hình kinh tế xã hội; cảm xúc hàng ngày: tình hình sức khỏe hiện tại; việc đảm bao ăn đúng gio; tín ngưỡng. Đặc biệt ở Việt nam, có trên 70% số người già sống ở các vùng nông thôn, các yếu tố phi sinh lý này càng ảnh hưởng mạnh hơn. Một số hướng khắc phục Bên cạnh các nghiên cứu xác định nguyên nhân đã đên tinh trạng suy giảm ăn uông và cảm nhận khi ăn của người gia là các nghiên cứu tìm hiệu các biện pháp can thiệp nhằm giảm bớt tình trạng này.
Cách thức là can thiệp vảo các nguyên nhân gây nên tình trạng suy giảm này. Cụ thể như: Theo dõi chế độ b6 sung vitamin và khoáng chat, theo dõi sức khỏe răng miệng (Drewnowski va Shultz, 2001). Yếu tổ ngoài sinh ly: Tạo điều kiện không gian ăn uống vui vẻ với người ăn cùng, trong không gian phù hợp (de Castro, 2002) Tăng giá trị cảm quan khi dùng thực phẩm, cải thiện cảm nhận ngon miệng, thèm ăn bang cách thay đổi tính chất của thực phẩm như tăng cường hương thơm, tăng cường vị; thay đổi trạng thái. Người cao tuôi thích thực phẩm bồ sung hương nhiều hơn người trẻ (De Graaf và cộng sự, 1994; De Graaf và cộng sự, 1996; Griep và cộng sự, 2000, Griep và cộng sự, 1997).
Khi bổ sung chất tạo mùi và vị vào trong thực pham sẽ làm cho cường độ hương cao, làm tăng khả năng hấp thu thực phẩm và khả năng miễn dịch của nguoi cao tudi (Schiffman, 1998; Schiffman va Warwick, 1993). Jeya và cộng sự (2003) điều tra ảnh hưởng của hương thực phẩm tự nhiên với mức độ hấp thu thực phẩm ở bệnh nhân già ở Hồng Kông. Kết quả: Năng lượng của thực phẩm va chất béo mà người cao tuổi ăn tăng ở ngày thứ 3 bồ sung chat kích thích hương. John (2001) nghiên cứu sự ảnh hưởng của việc bổ sung hương vào thực phẩm đối với sự tiêu dùng thực phẩm của người già.
Kết quả là nhóm có bố sung hương thì trung bình trọng lượng cơ thé tăng 1.