Luận án tiến sĩ triết học: Nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 2017

Luận án tiến sĩ phân tích vai trò người lao động trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam. Tìm hiểu quan điểm lý luận, thực trạng và giải pháp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ triết học

2017

147
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại

Nhân tố người lao động là thành phần cốt lõi của lực lượng sản xuất. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vai trò của người lao động ngày càng được nâng cao. Lực lượng sản xuất hiện đại bao gồm tư liệu lao động tiên tiến, đối tượng lao động mới và đặc biệt là đội ngũ lao động có trình độ. C.Mác đã khẳng định người lao động là yếu tố sáng tạo nhất trong lực lượng sản xuất. Họ vận hành máy móc, ứng dụng khoa học công nghệ và thúc đẩy quá trình sản xuất. Tại Việt Nam, nghiên cứu nhân tố người lao động mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Luận án tiến sĩ của Lê Thị Chiên đã phân tích toàn diện vấn đề này. Nghiên cứu chỉ ra rằng phát triển con người là then chốt cho sự phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Đội ngũ lao động cần đáp ứng yêu cầu về thể lực, trí lực và tâm lực. Quá trình đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định.

1.1. Khái niệm lực lượng sản xuất hiện đại

Lực lượng sản xuất hiện đại là hệ thống bao gồm tư liệu lao động công nghệ cao, đối tượng lao động nhân tạo và người lao động có trình độ chuyên môn. Theo C.Mác, tư liệu lao động, đặc biệt là công cụ lao động, là tiêu chuẩn để đánh giá trình độ phát triển kinh tế xã hội. Ngày nay, máy móc tự động hóa cao, phương tiện giao thông hiện đại và công nghệ vật liệu tiên tiến là đặc trưng nổi bật. Khoa học công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Quá trình lưu thông hàng hóa được rút ngắn đáng kể nhờ hạ tầng giao thông phát triển.

1.2. Vai trò của người lao động trong sản xuất hiện đại

Người lao động giữ vị trí chủ thể trong lực lượng sản xuất. Họ là nhân tố sáng tạo, vận hành và cải tiến tư liệu lao động. Trong lực lượng sản xuất hiện đại, yêu cầu đối với người lao động ngày càng cao. Họ cần có trình độ chuyên môn kỹ thuật, khả năng thích ứng với công nghệ mới và tư duy sáng tạo. C.Mác nhấn mạnh người lao động là yếu tố năng động nhất, cách mạng nhất. Đội ngũ lao động chất lượng cao thúc đẩy năng suất lao động xã hội. Họ góp phần quan trọng vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

II. Phân tích thực trạng nhân tố người lao động ở Việt Nam

Thực trạng nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam có nhiều điểm đáng quan tâm. Đội ngũ lao động Việt Nam dồi dào về số lượng nhưng hạn chế về chất lượng. Trình độ tay nghề và năng lực chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất hiện đại. Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp so với nhu cầu thị trường. Năng suất lao động xã hội thấp hơn nhiều lần so với các nước phát triển trong khu vực. Mặt khác, ý thức kỷ luật và tác phong công nghiệp của người lao động còn nhiều bất cập. Tuy nhiên, người lao động Việt Nam có truyền thống cần cù, ham học hỏi. Quá trình hội nhập quốc tế tạo điều kiện tiếp thu công nghệ mới. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách phát triển nguồn nhân lực. Đầu tư cho giáo dục đào tạo ngày càng được tăng cường. Những nỗ lực này đã mang lại kết quả bước đầu tích cực.

2.1. Những thành tựu đạt được

Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển nguồn nhân lực. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng dần qua các năm. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp được mở rộng và nâng cao chất lượng. Nhiều chương trình đào tạo gắn kết với doanh nghiệp được triển khai hiệu quả. Người lao động có cơ hội tiếp cận công nghệ mới qua quá trình hợp tác quốc tế. Thu nhập và đời sống của người lao động được cải thiện đáng kể. Đội ngũ lao động trẻ có khả năng tiếp thu nhanh các kỹ năng mới. Những thành tựu này tạo nền tảng quan trọng cho quá trình hiện đại hóa lực lượng sản xuất.

2.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh thành tựu, nhân tố người lao động ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất hiện đại. Tình trạng thiếu hụt lao động kỹ thuật cao diễn ra phổ biến. Ý thức chấp hành kỷ luật lao động và tác phong công nghiệp chưa cao. Nguyên nhân xuất phát từ nhiều phía. Hệ thống giáo dục đào tạo còn nặng lý thuyết, thiếu thực hành. Cơ chế chính sách chưa tạo động lực đủ mạnh cho người lao động. Môi trường kinh tế xã hội có những bất cập ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực. Nhận thức về vai trò con người trong lực lượng sản xuất chưa đầy đủ.

III. Giải pháp phát triển nhân tố người lao động hiện đại

Phát triển nhân tố người lao động đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ và toàn diện. Giải pháp đầu tiên là đổi mới căn bản giáo dục đào tạo. Nội dung đào tạo cần gắn liền với nhu cầu thực tiễn sản xuất. Phương pháp đào tạo phải chú trọng thực hành và kỹ năng ứng dụng. Thứ hai là hoàn thiện cơ chế chính sách đãi ngộ đối với người lao động. Mức lương và phúc lợi phải phản ánh đúng năng lực và đóng góp. Thứ ba là xây dựng môi trường làm việc hiện đại, văn minh. Doanh nghiệp cần đầu tư trang thiết bị và điều kiện lao động tốt hơn. Thứ tư là đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo nguồn nhân lực. Tiếp thu kinh nghiệm tiên tiến từ các nước phát triển. Thứ năm là phát huy cả thể lực, tâm lực và trí lực của người lao động. Chăm sóc sức khỏe, đời sống tinh thần và nâng cao trình độ chuyên môn.

3.1. Đổi mới hệ thống giáo dục đào tạo

Đổi mới giáo dục đào tạo là giải pháp then chốt. Cần chuyển từ đào tạo nặng lý thuyết sang đào tạo thực hành, kỹ năng. Chương trình đào tạo phải bám sát nhu cầu thị trường lao động. Tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn và lao động di cư. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên và giáo viên dạy nghề. Ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình đào tạo. Xây dựng hệ thống đánh giá chuẩn kỹ năng nghề quốc gia. Đầu tư cơ sở vật chất hiện đại cho các trường nghề. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo nguồn nhân lực.

3.2. Hoàn thiện chính sách đãi ngộ và môi trường làm việc

Chính sách đãi ngộ phù hợp là động lực quan trọng cho người lao động. Cần xây dựng hệ thống tiền lương công bằng, phản ánh năng lực. Bảo đảm quyền lợi an sinh xã hội cho người lao động và gia đình. Cải thiện điều kiện lao động tại các nhà máy, xí nghiệp. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp lành mạnh, tôn trọng người lao động. Tạo cơ hội thăng tiến và phát triển nghề nghiệp công bằng. Đẩy mạnh phong trào thi đua, sáng kiến kỹ thuật trong sản xuất. Xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định. Tăng cường vai trò của tổ chức công đoàn trong bảo vệ quyền lợi người lao động.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu vào thực tiễn

Nghiên cứu nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn. Về mặt lý luận, luận án làm sáng tỏ vị trí, vai trò của người lao động trong lực lượng sản xuất. Nghiên cứu chỉ ra rằng người lao động là nhân tố năng động, sáng tạo nhất. Họ quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực. Hệ thống giải pháp đề xuất mang tính khả thi cao. Kết luận khẳng định phát huy nhân tố con người là chìa khóa thành công. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi đội ngũ lao động chất lượng cao. Việt Nam cần tiếp tục đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục đào tạo. Phát triển con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển bền vững.

4.1. Giá trị lý luận của nghiên cứu

Nghiên cứu đóng góp vào kho tàng lý luận về vai trò con người trong lực lượng sản xuất. Luận án hệ thống hóa quan điểm của C.Mác về người lao động. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung, phát triển lý luận trong điều kiện mới. Khái niệm lực lượng sản xuất hiện đại được làm rõ với đầy đủ nội dung. Mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố trong lực lượng sản xuất được phân tích sâu sắc. Nghiên cứu cũng chỉ ra tính quy luật trong phát triển nhân tố người lao động. Những kết luận lý luận này có giá trị tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo. Chúng góp phần làm giàu thêm tri thức khoa học về chủ nghĩa duy vật lịch sử.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn và hướng phát triển

Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao trong thực tiễn. Các giải pháp đề xuất phù hợp với điều kiện Việt Nam hiện nay. Nhà nước có thể tham khảo để hoàn thiện chính sách phát triển nguồn nhân lực. Doanh nghiệp áp dụng để nâng cao chất lượng đội ngũ lao động. Cơ sở đào tạo sử dụng để đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy. Hướng phát triển tiếp theo là nghiên cứu chuyên sâu hơn về từng nhóm lao động. Cần đánh giá tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến người lao động. Nghi cứu so sánh với kinh nghiệm quốc tế để rút ra bài học. Phát triển bền vững lực lượng sản xuất hiện đại là mục tiêu lâu dài.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, tác giả đã đưa ra khái niệm nhân tố con người: Nhân tố con người là tổng thể các yếu tố có liên quan đến con người, là sự thống nhất biện chứng giữa các mặt chủ quan và khách quan để tạo nên năng lực, phẩm chất và trí tuệ của con người được hình thành và phát huy tác dụng vào trong thực tiễn sản xuất vật chất hay quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi cộng đồng, quốc gia trong những giai đoạn lịch sử nhất định” [76, tr. Từ khái niệm đó, tác giả đã chỉ ra bốn đặc điểm cơ bản của nhân tố con người trong lực lượng sản xuất. Đứng trên lập trường mácxít, tác giả tiếp tục khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người trong lực lượng sản xuất. Theo tác giả, để thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, kể cả lực lượng sản xuất hiện đại thì yếu tố có tính quyết định không phải là tư liệu sản xuất, cũng không phải là khoa học - kỹ thuật mà 12 chính là yếu tố con người.

Trong thời đại ngày nay, nói đến nhân tố con người trong phát triển sản xuất là nói tới những người công nhân, những người lao động. Ngoài ra, tác giả còn phân tích những yếu tố tác động đến việc phát huy nhân tố con người trong lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay như: tính chất và trạng thái của thể chế chính trị; tính chất và trạng thái của nền kinh tế; trình độ phát triển dân trí; trình độ xã hội hóa, dân chủ hóa về thông tin. Trong bài viết “Xem xét nhân tố người lao động trong cấu trúc của lực lượng sản xuất” [53], tác giả Trương Giang Long nhận định: Nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất được hiểu như là bộ phận năng động và sáng tạo nhất của quá trình sản xuất. Nhờ có nó mà công cụ và phương tiện sản xuất ngày càng được đổi mới, sản xuất phát triển với năng suất và chất lượng cao, đời sống tinh thần và bộ mặt của xã hội có nhiều tiến bộ [56, tr.

Từ đó, tác giả đã chỉ ra những phẩm chất cần có của con người trong lực lượng sản xuất. Đó là những con người “phát triển cao về trí tuệ, khỏe mạnh về thể chất, giàu có về tinh thần, trong sáng về đạo đức” [56, tr. Nhận định này của tác giả cũng có giá trị tham khảo nhất định đối với tác giả luận án khi phân tích những phẩm chất cần có của nhân tố người lao động trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Trong bài viết “Kinh tế tri thức - xét từ giác độ lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất” [80], tác giả Phạm Ngọc Quang cũng khẳng định sự phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại đã làm cho lực lượng sản xuất ngày càng phát triển.

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của quá trình sản xuất, “năng lực trí tuệ của người lao động không ngừng được nâng cao, phần giá trị do lao động trí tuệ của họ tạo ra trong quá trình sản xuất và được kết tinh ở sản phẩm ngày càng tăng” [80, tr. Cũng theo tác giả, nhờ tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, người lao động không chỉ là những người hoạt động sản xuất trực tiếp mà còn bao gồm một bộ phận ngày càng tăng lên những người trực tiếp quản lý quá trình sản xuất và những kỹ sư, những nhà công nghệ. Nhận định này đã phản ánh đúng xu thế phát triển của đội ngũ những người lao động trong nền sản xuất hiện đại. Từ việc phân tích xu thế tất yếu của nền kinh tế tri thức, tác giả đã chỉ ra ba xu hướng biến đổi của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế tri thức.

Đó là: lao động cơ bắp 13 từng bước được thay thế bằng lao động trí tuệ nhưng lao động cơ bắp không mất đi; yếu tố trí tuệ quan trọng hơn yếu tố vật liệu tự nhiên trong lao động sản xuất; lao động quản lý dần chiếm ưu thế so với lao động sản xuất trực tiếp. Từ ba xu thế trên, có thể nhận thấy, trong nền sản xuất hiện đại, yếu tố tri thức, trí tuệ của người lao động giữ vai trò và vị trí chi phối. Đây cũng chính là điểm khác biệt cơ bản của nền kinh tế tri thức so với những nền kinh tế trước đó trong lịch sử. Vì vậy, lực lượng sản xuất hiện đại và kinh tế tri thức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Trong Luận án Tiến sĩ Triết học: Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất với vấn đề đào tạo người lao động trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay (Qua thực tiễn đồng bằng sông Cửu Long [37], tác giả Trần Thanh Đức cũng bàn về nhân tố con người trong lực lượng sản xuất. Theo tác giả: Nhân tố con người trong lực lượng sản xuất không chỉ là bộ phận cấu thành mà còn giữ vai trò trung tâm trong lực lượng sản xuất. Chính mặt hoạt động của nhân tố con người tạo ra phương thức kết hợp tốt nhất giữa các yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, qua đó, nó giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất [37, tr. Như vậy, tác giả đã khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người trong phát triển lực lượng sản xuất.

Trong luận án, tác giả đã đi sâu phân tích sự tác động của nhân tố con người với những yếu tố cấu thành khác của lực lượng sản xuất như nhân tố con người với tư liệu sản xuất, nhân tố con người với cách mạng khoa học - công nghệ. Ngoài ra, tác giả còn chỉ ra những yêu cầu đào tạo người lao động Việt Nam nhằm phát triển nhân tố con người trong lực lượng sản xuất của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những yêu cầu cơ bản đó là: Người lao động cần phải có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cao và tư duy mới - tư duy sáng tạo và biện chứng; người lao động phải có tính tự chủ và sáng tạo; người lao động phải có khả năng thích nghi; người lao động phải có văn hóa, có những giá trị nhân bản, nhân đạo, nhân văn; người lao động phải có thể lực tốt. Đây chính là những yêu cầu khá toàn diện và cần thiết của người lao động để đáp ứng nhu cầu của phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay.

Vấn đề này cũng được luận án kế thừa và làm rõ hơn khi phân tích những yêu cầu của nhân tố người lao động trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại nói chung và phát triển lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam nói riêng. 14 Gần đây, trong bài viết: “Về học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác” [88], thông qua việc tranh luận với tác giả Nguyễn Chí Dũng một số nội dung trong bài viết “Học thuyết của C.Mác về hình thái kinh tế - xã hội dưới ánh sáng thời đại ngày nay” (Tạp chí Khoa học xã hội, số 2 (87), năm 2015), tác giả Dương Văn Thịnh cũng đã trình bày quan điểm của mình về vai trò, vị trí của nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất. Theo tác giả Dương Văn Thịnh, quan điểm của tác giả Nguyễn Chí Dũng khi cho rằng phân tích sâu sắc những yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, C.Mác chỉ ra rằng, chất của công cụ sản xuất là cái quan trọng nhất quy định chất của quan hệ sản xuất. Với ý nghĩa đó nó càng là cái quan trọng nhất, quy định chất của phương thức sản xuất hay chất của một hình thái kinh tế - xã hội trong lịch sử là chưa phản ánh đúng thực chất tính khoa học trong học thuyết của C.Mác về hình thái kinh tế - xã hội.

Nếu quan niệm như vậy, tác giả Nguyễn Chí Dũng không nhắc gì đến yếu tố con người trong lực lượng sản xuất. Theo tác giả Dương Văn Thịnh, đây là một quan điểm “duy kỹ thuật” vì nó tìm nguyên nhân cuối cùng của sự thay đổi xã hội ở sự thay đổi của công cụ sản xuất. Điều này trái với quan điểm của C. Mặc dù không phủ nhận vai trò to lớn của công cụ sản xuất, rộng hơn là tư liệu sản xuất đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất ở mỗi thời đại kinh tế khác nhau nhưng tác giả Dương Văn Thịnh vẫn khẳng định con người mới chính là nhân tố quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất: Không phải công cụ sản xuất quyết định tính năng động của lực lượng sản xuất, mà chính hoạt động sản xuất vật chất của con người là nhân tố quyết định.

Công cụ sản xuất muốn trở thành một sức hoạt động thì phải có con người, hơn nữa công cụ sản xuất không phải tự nhiên sinh ra được mà nó cũng do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong những quan hệ xã hội nhất định. Cho nên cái quyết định trình độ của lực lượng sản xuất không phải là chất của công cụ sản xuất mà phải là sự tổng hợp của nhiều yếu tố, trong đó trình độ phát triển của con người là quyết định nhất [91, tr. Quan điểm này cùng những tranh luận của tác giả Dương Văn Thịnh với tác giả Nguyễn Chí Dũng trong bài viết trên đã giúp tác giả luận án hiểu rõ hơn về tính khoa học trong học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác khi bàn đến vai trò của nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất. 15 Từ việc tổng quan những công trình nghiên cứu trên cho thấy, có khá nhiều công trình nghiên cứu bàn đến lực lượng sản xuất nói chung, lực lượng sản xuất hiện đại nói riêng và nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại.

Những công trình đó đã cung cấp cho tác giả luận án những ý nghĩa nhất định trong việc phân tích những vấn đề lý luận về lực lượng sản xuất hiện đại và nhân tố người lao động trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. NHỮNG NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Ngoài những công trình nghiên cứu về lực lượng sản xuất hiện đại, còn có những công trình nghiên cứu đi sâu phân tích thực trạng của nhân tố người lao động trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay được luận án chọn để tổng quan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ