Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Nhân tố người lao động trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Lê Thị Chiên tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Nguyễn Hùng Hậu và PGS.TS. Đặng Quang Định. Luận án thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số 62 22 03 02.
Về tính cấp thiết, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, phương thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Trong cấu trúc của lực lượng sản xuất, người lao động giữ vị trí quyết định. Mặc dù khoa học - công nghệ đã phát triển mạnh mẽ và từng bước trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, người lao động vẫn là chủ thể sáng tạo, vận hành và làm chủ các công cụ, phương tiện sản xuất. Tại Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội XI và Đại hội XII đã xác định phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, là một trong ba khâu đột phá chiến lược nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, chất lượng người lao động Việt Nam nhìn chung vẫn còn nhiều bất cập về thể lực, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỷ luật lao động và tác phong công nghiệp. Tình trạng này khiến nền kinh tế vẫn chủ yếu tăng trưởng theo chiều rộng, dựa nhiều vào vốn, khai thác tài nguyên và lao động giản đơn.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là việc thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu dưới giác độ triết học duy vật lịch sử về nhân tố người lao động trong mối quan hệ hữu cơ với các đặc trưng của lực lượng sản xuất hiện đại tại Việt Nam trong giai đoạn đổi mới và hội nhập.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án: Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay, luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm phát triển nhân tố người lao động đáp ứng yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam trong những năm tiếp theo.
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm bốn nội dung cụ thể:
- Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến lực lượng sản xuất hiện đại và nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại;
- Làm rõ khái niệm, biểu hiện của lực lượng sản xuất hiện đại cùng vai trò và những yêu cầu cơ bản đối với người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại;
- Phân tích thực trạng của nhân tố người lao động trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay trên cả phương diện ưu điểm lẫn hạn chế, đồng thời chỉ ra các nguyên nhân chủ yếu;
- Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm phát triển nhân tố người lao động đáp ứng yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu: Nhân tố người lao động với tư cách là yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung và đối tượng khảo sát: Luận án tập trung khảo sát, phân tích thực trạng người lao động là công nhân trong các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, vì đây là lực lượng chiếm tỷ trọng lớn và phản ánh đặc trưng cơ bản về trình độ phát triển của lực lượng sản xuất nước ta.
- Về không gian và thời gian: Khảo sát nhân tố người lao động tại Việt Nam từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới (năm 1986) đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2017).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu đi trước theo ba nhóm chủ đề chính:
Nhóm thứ nhất bao gồm các nghiên cứu lý luận về lực lượng sản xuất hiện đại và nhân tố người lao động. Về lực lượng sản xuất mới và hiện đại, cuốn sách Lực lượng sản xuất mới và kinh tế tri thức của Vũ Đình Cự và Trần Xuân Sầm (chủ biên) đã phân tích luận điểm của C.Mác về vai trò của khoa học, chỉ ra năm biểu hiện khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và nhấn mạnh tri thức là sức mạnh nòng cốt. Tác giả Vũ Đình Cự trong bài viết về hệ thống công nghệ mới đã định nghĩa lực lượng sản xuất mới dựa trên công nghệ cao với đặc trưng năng suất cao, hiệu quả lớn, thân thiện môi trường và hàm lượng tri thức cao. Tác giả Đoàn Công Mẫn phân tích vai trò của khoa học - công nghệ đối với việc chuyển dịch sang kinh tế tri thức. Các bài viết của Trần Đắc Hiến, Nguyễn Cảnh Hồ, Lê Huy Thực tập trung làm rõ luận điểm "khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp" của C.Mác. Tác giả Lý Hân (Trung Quốc) đề xuất mở rộng khái niệm lực lượng sản xuất, bổ sung khía cạnh con người sống hài hòa, thích nghi với tự nhiên thay vì chỉ nhấn mạnh việc chinh phục tự nhiên. Về lý luận nhân tố người lao động, các công trình của Hồ Anh Dũng, Phạm Công Nhất, Trương Giang Long, Phạm Ngọc Quang, Trần Thanh Đức và bài viết tranh luận của Dương Văn Thịnh đã khẳng định tính quyết định của con người trước quan điểm "duy kỹ thuật", phân tích xu hướng lao động trí tuệ thay thế dần lao động cơ bắp và xác lập các yêu cầu về phẩm chất, năng lực của người lao động.
Nhóm thứ hai gồm các nghiên cứu về thực trạng người lao động trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam. Hồ Anh Dũng và Phạm Công Nhất đã chỉ ra các ưu điểm (nguồn lao động dồi dào, trẻ, cần cù) cùng những hạn chế (thể lực, thói quen sản xuất nhỏ, thiếu công nhân kỹ thuật và cán bộ quản lý giỏi). Đề tài khoa học cấp Bộ về chuẩn bị nguồn nhân lực cho kinh tế tri thức cùng bài viết của Nguyễn Văn Sơn cung cấp các dữ liệu so sánh chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam với các nước trong khu vực. Bài viết của Nguyễn Vân Thùy Anh khảo sát khó khăn trong đào tạo nghề cho công nhân kỹ thuật tại các doanh nghiệp. Tác giả Phạm Văn Nam phân tích cơ cấu bất hợp lý của nhân lực trình độ đại học dẫn đến hiện tượng mất cân đối trình độ. Luận án tiến sĩ của Trần Thanh Đức (năm 2002) khảo sát thực trạng nhân tố con người qua thực tiễn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Nhóm thứ ba bao gồm các nghiên cứu về quan điểm và giải pháp phát triển nhân tố người lao động. Các công trình của Hồ Anh Dũng, Phạm Công Nhất, Trần Thanh Đức và luận án tiến sĩ của Lương Công Lý đã đề xuất các nhóm giải pháp về đổi mới giáo dục - đào tạo, gắn đào tạo với nhu cầu thị trường, đảm bảo lợi ích kinh tế, xây dựng môi trường xã hội và nâng cao nhận thức của người lao động.
Vị trí của luận án: Kế thừa các kết quả nghiên cứu trước, luận án giải quyết khoảng trống học thuật bằng cách tiếp cận nhân tố người lao động (trọng tâm là công nhân doanh nghiệp) một cách chỉnh thể dưới góc độ triết học duy vật lịch sử, đặt trong bối cảnh các yêu cầu khách quan của lực lượng sản xuất hiện đại và điều kiện cụ thể của Việt Nam giai đoạn 1986 - 2017.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết:
- Luận án dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xã hội, cấu trúc lực lượng sản xuất (sự kết hợp giữa tư liệu sản xuất và người lao động), vai trò của công cụ lao động và người lao động, cùng các luận điểm về sự chuyển hóa của khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
- Đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về phát triển con người, phát huy nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận chung: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Phương pháp cụ thể: Luận án sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh và phương pháp thống kê xã hội học.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Các tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin (như Tư bản, Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, Hệ tư tưởng Đức, Bản thảo kinh tế 1857 - 1858).
- Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, đặc biệt là Đại hội XI và Đại hội XII.
- Dữ liệu thống kê về dân số, lao động, việc làm, cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 1986 - 2014/2017 được trích xuất từ các niên giám thống kê, báo cáo của Tổng cục Thống kê và các nghiên cứu khoa học chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này dành cho việc tổng thuật 4 nhóm nội dung:
- Những nghiên cứu liên quan đến các vấn đề lý luận về nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại;
- Những nghiên cứu liên quan đến thực trạng của nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay;
- Những nghiên cứu liên quan đến quan điểm, giải pháp nhằm phát triển nhân tố người lao động đáp ứng yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay;
- Giá trị của những công trình nghiên cứu đã tổng quan và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ thêm.
Tác giả đã phân định rõ các kết quả đã đạt được từ các học giả tiền bối, từ đó xác lập cơ sở để triển khai các nội dung nghiên cứu ở các chương tiếp theo.
Chương 2: Nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại - Những vấn đề lý luận cơ bản
Chương 2 tập trung luận giải các khái niệm nền tảng:
- Lực lượng sản xuất là biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất vật chất. Cấu trúc lực lượng sản xuất gồm tư liệu sản xuất (đối tượng lao động thuần túy tự nhiên và nhân tạo; tư liệu lao động gồm công cụ lao động và phương tiện lao động) và người lao động. Trong đó, công cụ lao động là yếu tố động nhất, là thước đo trình độ cải tạo tự nhiên, còn người lao động là chủ thể mang sức lao động (thể lực, trí lực, kinh nghiệm, kỹ năng) giữ vai trò quyết định.
- Luận điểm khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp: Tri thức khoa học được vật hóa vào công cụ sản xuất, quy trình công nghệ, phương pháp quản lý và nâng cao năng lực của người lao động. Thời gian đưa phát minh khoa học từ phòng thí nghiệm vào ứng dụng thực tiễn được rút ngắn đáng kể qua các thời kỳ lịch sử, như được tổng hợp trong bảng số liệu sau:
| Tên phát minh, sáng chế |
Năm phát minh |
Năm sản xuất |
Thời gian ứng dụng |
| Máy hơi nước |
1680 |
1780 |
100 năm |
| Máy bay |
1897 |
1911 |
14 năm |
| Tranzito |
1948 |
1953 |
5 năm |
| Pin mặt trời |
1953 |
1955 |
2 năm |
- Lực lượng sản xuất hiện đại được định nghĩa là sự kết hợp giữa người lao động ở trình độ cao với tư liệu sản xuất tiên tiến, dựa trên hệ thống công nghệ hiện đại (gồm 8 ngành công nghệ cao cơ bản: thông tin, sinh học, vật liệu tiên tiến/nanô, năng lượng mới, bảo vệ môi trường, biển và hải dương, hàng không - vũ trụ, quản lý) nhằm tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, bền vững và thân thiện với môi trường.
- Chương này cũng phân tích Bảng so sánh sự khác nhau giữa kinh tế công nghiệp và kinh tế tri thức, làm rõ các yêu cầu về thể lực, trình độ trí tuệ, kỹ năng công nghệ, kỷ luật lao động và khả năng thích ứng của người lao động trong nền sản xuất mới, cùng các yếu tố kinh tế, chính trị, giáo dục tác động đến người lao động.
Chương 3: Nhân tố người lao động trong lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng và những nguyên nhân chủ yếu
Chương 3 đánh giá toàn diện thực trạng đội ngũ lao động (chủ yếu là công nhân):
- Ưu điểm: Quy mô nguồn lao động tăng đều qua các năm, lực lượng lao động trẻ chiếm tỷ trọng cao; người lao động có đức tính cần cù, thông minh, khả năng nắm bắt và thích ứng tương đối nhanh với công nghệ mới và cơ chế thị trường; trình độ học vấn từng bước được nâng lên.
- Hạn chế: Thể lực và tầm vóc còn hạn chế do điều kiện dinh dưỡng và y tế chưa đồng đều; trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng thực hành còn thấp; tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề còn cao; thiếu hụt nghiêm trọng công nhân kỹ thuật bậc cao, chuyên gia đầu ngành và cán bộ quản lý giỏi; tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động, ý thức đạo đức nghề nghiệp và ý thức bảo vệ môi trường chưa đáp ứng chuẩn mực công nghiệp hiện đại.
- Các bảng số liệu thực chứng được phân tích trong chương:
- Bảng so sánh các tiêu chí chất lượng cơ bản nguồn nhân lực của Việt Nam so với một số nước trong khu vực (tính theo thang điểm 10);
- Bảng cơ cấu người thất nghiệp chia theo các bậc học cao nhất đã đạt được năm 2014, phản ánh thực trạng mất cân đối giữa đào tạo và sử dụng lao động;
- Bảng cơ cấu lao động phân chia theo loại hình kinh tế thời kỳ 2009 - 2014 (đơn vị tính: %), cho thấy sự dịch chuyển lao động giữa khu vực nhà nước, ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
- Nguyên nhân của các hạn chế: Nền kinh tế chậm đổi mới mô hình tăng trưởng, còn phụ thuộc vào khai thác tài nguyên và gia công giá trị thấp; công tác giáo dục - đào tạo nghề còn nhiều bất cập về mạng lưới, chương trình và trang thiết bị thực hành; cơ chế tiền lương, đãi ngộ và bảo đảm an sinh xã hội chưa tạo đủ động lực; tác động kéo dài của tâm lý sản xuất nhỏ, tác phong tiểu nông tản mạn, coi trọng bằng cấp lý thuyết hơn kỹ năng nghề nghiệp thực tế.
Chương 4: Những quan điểm và giải pháp cơ bản để phát triển nhân tố người lao động đáp ứng yêu cầu của lực lượng sản xuất hiện đại ở Việt Nam
Chương 4 xác định phương hướng và các biện pháp thực hiện:
- Hệ thống quan điểm cơ bản:
- Coi phát triển nhân tố người lao động là nhân tố quyết định và là khâu trọng tâm để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại;
- Gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển toàn diện con người;
- Phát triển hài hòa cả thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động;
- Phát triển nhân tố người lao động phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của thị trường lao động và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
- Hệ thống giải pháp cơ bản:
- Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo, trọng tâm là hiện đại hóa giáo dục nghề nghiệp, điều chỉnh cơ cấu đào tạo giữa đại học, cao đẳng và trung cấp nghề;
- Cải thiện thể lực, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và cải thiện chế độ dinh dưỡng, điều kiện vệ sinh an toàn lao động cho công nhân;
- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới chính sách tiền lương, tiền thưởng và bảo hiểm xã hội nhằm bảo vệ quyền lợi và tạo động lực cống hiến cho người lao động;
- Xây dựng môi trường văn hóa lao động lành mạnh, giáo dục đạo đức nghề nghiệp, rèn luyện tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động, từng bước xóa bỏ thói quen tùy tiện của nền sản xuất tiểu nông;
- Phát huy vai trò của tổ chức công đoàn và trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp trong việc đào tạo lại, bồi dưỡng tay nghề và chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận:
- Luận án góp phần hệ thống hóa, làm rõ nội hàm khái niệm lực lượng sản xuất hiện đại dưới góc độ chủ nghĩa duy vật lịch sử, phân tích các đặc trưng cốt lõi khi khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức phát triển.
- Làm sáng tỏ vai trò trung tâm và các yêu cầu khách quan mới về thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức của nhân tố người lao động trong nền sản xuất hiện đại.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Phân tích bức tranh thực trạng người lao động (chủ yếu là công nhân trong các doanh nghiệp) tại Việt Nam giai đoạn 1986 - 2017, chỉ ra những mặt mạnh cùng các hạn chế căn bản về năng suất lao động, cơ cấu đào tạo và tác phong lao động.
- Đề xuất hệ thống quan điểm có tính định hướng và 5 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm phát triển đội ngũ người lao động Việt Nam, phục vụ việc hoạch định chính sách kinh tế - xã hội và đào tạo nguồn nhân lực ở cấp trung ương và các địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế:
- Về phạm vi khảo sát thực nghiệm, luận án chỉ tập trung vào nhóm đối tượng người lao động là công nhân trong các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, chưa bao quát sâu nhóm lao động quản lý, kỹ sư nghiên cứu thiết kế hoặc lao động nông nghiệp trong bối cảnh công nghệ cao.
- Dữ liệu thống kê dừng lại ở mốc thời gian hoàn thành luận án (năm 2017), chưa phản ánh những biến động của thị trường lao động trong các giai đoạn sau đó.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phân tích tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và công nghệ số đối với việc chuyển dịch cơ cấu và yêu cầu kỹ năng của người lao động.
- Nghiên cứu các giải pháp phát triển nhân tố người lao động trong các ngành kinh tế số và dịch vụ chất lượng cao tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Triết học Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Kinh tế chính trị học và Quản lý phát triển xã hội.
- Cán bộ làm công tác hoạch định chính sách lao động - thương binh và xã hội, cơ quan quản lý giáo dục nghề nghiệp, tổ chức Công đoàn và các hiệp hội doanh nghiệp trong việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực và hoàn thiện chế độ chính sách cho người lao động.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa thế nào về lực lượng sản xuất hiện đại?
Luận án xác định lực lượng sản xuất hiện đại là sự kết hợp giữa người lao động ở trình độ cao với tư liệu sản xuất tiên tiến, dựa trên hệ thống công nghệ hiện đại nhằm tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, có tính bền vững và thân thiện với môi trường sinh thái.
2. Biểu hiện nào chứng minh khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp theo phân tích của tác giả?
Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp khi tri thức khoa học được vật hóa vào công cụ máy móc, thẩm thấu vào mọi yếu tố của quá trình sản xuất; thời gian đưa phát minh từ phòng thí nghiệm vào ứng dụng thực tế được rút ngắn; tỷ lệ nhân lực khoa học trực tiếp tham gia sản xuất tăng cao; và các cơ sở nghiên cứu gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp.
3. Đối tượng khảo sát thực tế trọng tâm của luận án là nhóm lao động nào?
Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực tế vào nhóm người lao động là công nhân làm việc trong các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh tại Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2017.
4. Điểm nghẽn lớn nhất trong cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực được luận án chỉ ra là gì?
Đó là tình trạng mất cân đối cơ cấu trình độ đào tạo dẫn đến hiện tượng "thừa thầy thiếu thợ". Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề còn thấp, cơ cấu phân bổ giữa đại học, cao đẳng và trung cấp nghề chưa hợp lý so với nhu cầu thực tế của sản xuất công nghiệp.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp cơ bản nào?
Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục - đào tạo nghề; cải thiện thể lực và chăm sóc sức khỏe người lao động; hoàn thiện thể chế kinh tế, chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội; xây dựng tác phong công nghiệp và văn hóa lao động mới; phát huy vai trò của tổ chức công đoàn và doanh nghiệp.
Kết luận
Luận án của tác giả Lê Thị Chiên đã làm rõ các vấn đề lý luận duy vật lịch sử về lực lượng sản xuất hiện đại và khẳng định vị trí quyết định của nhân tố người lao động trong nền sản xuất mới. Dựa trên việc phân tích thực trạng công nhân Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2017 với các số liệu so sánh cụ thể, công trình đã chỉ ra nguyên nhân của các hạn chế về chất lượng lao động và cơ cấu đào tạo. Hệ thống quan điểm và giải pháp được đề xuất trong luận án cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.